TRẠNG TRÌNH NGUYỄN BỈNH KHIÊM

VIẾT VỀ LỄ VU LAN

ĐÀO NGUYÊN

Từ lâu, lễ Vu Lan Rằm tháng bảy đã trở thành ngày lễ lớn trong truyền thống lễ hội của dân tộc Việt Nam, vì vậy, nó đã không dừng lại ở lãnh vực phong tục tín ngưỡng mà còn có mặt trong sinh hoạt văn học. Ca dao, truyện thơ Nôm, nhiều nhà thơ cổ điển , hiện đại… đã có những cách tiếp cận và diễn tả về lễ Vu Lan Rằm tháng Bảy. Bài viết này xin giới thiệu bài thơ chữ Hán viết về lễ Vu Lan của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) là một trong những gương mặt thơ xuất sắc của văn học Việt Nam thế kỷ 16. Sáng tác của ông rất phong phú, gồm cả văn thơ chữ Hán và chữ Nôm; trong ấy, mảng thi ca liên hệ tới cửa thiền đã có những ghi nhận, những đánh giá đáng chú ý. Oâng Trạng Trình đã viết về tiếng chuông chùa, về ngôi chùa, đã nhắc đến Phật Thích Ca, đến Bụt, đã nói về chữ Nhẫn, chữ Không trong Phật giáo, đã bày tỏ những cảm tưởng, những suy nghĩ của mình khi đọc kinh Phật (Độc Phật kinh hữu cảm); hoặc khi tới thăm ngôi chùa cổ Phổ Minh, là ngôi danh lam từng được cả nước biết tới vì ở đây có chiếc vạc lớn (đỉnh Phổ Minh), được xem là một trong bốn đồ vật nổi tiếng của Đại Việt (An Nam tứ khí) đời Lý (Du Phổ Minh tự) (*):

"Sau loạn lại tìm đến Phổ Minh

Chùa xưa đã cũ cỏ hoa xanh…

Vẳng không cổ đình rày đâu tá

Mới biếtvô hình thắng hữu hình".

(Hữu Thế dịch, Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nhà xb VH, H, 1983, tr234).

Cũng nằm trong chiều hướng nhằm ghi nhận những cảm nghĩ về một số vấn đề liên quan đến cửathiền, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có bài thất ngôn tứ tuyệt viết về lễ Vu Lan như sau:

"Thiên địa na dung tội ác nhân

Thị hà xá tội hữu hương thần

Ngã kim dục trượng từ bi lực

Cứu đắc vô cô đồ thán nhân".

(Trời đất nào dung tha kẻ ác

Cớ sao còn có lễ Vu Lan?

Từ bi ta muốn nhờ công sức

Cứu được bao người chịu khổ oan)

(Bài viết Gặp tiết Trung nguyên xá tội, Đinh Gia Khánh dịch, Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, sđd, tr 287-288)

Tài liệu trong sách thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm không cho chúng ta biết rõ hơn về hoàn cảnh ra đời của bài thơ trên, nhưng nội dung của nó không có gì khó hiểu, và quan điểm của tác giả đã được thể hiện rõ nét. Điều đáng chú ý là, đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm, một nhà thơ thường nói đến tính chất phóng khoáng, nhàn dật của Lão -Trang, lại không tiếp cận Phật lý qua ngả ấy, mà đứng ở lập trường Nho sĩ nghiêng về thực dụng để nhận xét về lễ Vu Lan. Tinh thần nhân ái và tiến bộ bao trùm toàn bài thơ cũnh như cái ước nguyện thể hiện nơi hai câu thơ sau rất là chính đáng:

"Từ bi ta muốn nhờ công sức

Cứu được bao người chịu khổ oan"

Đạo Phật được xem là đạo từ bi, nhưng từ bi ấy luôn gắn liền với trí tuệ và dũng lực tinh tấn, với đối tượng hướng tới là muôn loài chúng sinh, không chỉ ở một cõi mà là ba cõi. Tuy nhiên, khi đặt dấu hỏi ở câu thơ thứ hai:

"Thị hà xá tội hữu hương thần?" (Thế thì tại sao còn có ngày lành xá tội?) thì đúng là cụ Trạng Trình đáng kính của chúng ta còn bị vướng ở vòng hữu vi nên chưa thấu triệt được cái dung lượng siêu việt của tinh thần từ bi theo đạo Phật. Đã đành, kẻ làm ác thì bị đọa vào địa ngục đúng theo luật nhân quả. Nhưng vấn đề tạo nghiệp ác cũng rất đa dạng, phức tạp; nhiều đối tượng chỉ vì nhẹ dạ, nông nổi, mù quáng, hay bị xúi giục mà lầm lỡ nhất thời. Vì thế, đạo Phật với tinh thần từ bi vô phân biệt, đã luôn tạo ra cơ hội để cho các đối tượng có thể hối cải, chuyển nghiệp nhân nhằm đạt được quả báo tốt hơn.

Tạo cơ hội bằng cách nào? Có nhiều cách, bố thí là một trong những cách ấy. Bố thí là một trong sáu pháp tu tập của hạnh Bồ Tát, có khả năng giúp hành giả vượt được bến sinh tử cặp bờ giác ngộ, nên gọi đủ là bố thí Ba la mật. Bố thí gồm tài thí (bố thí bằng của cải), pháp thí (bố thí bằng chánh pháp) và vô úy thí (giúp cho đối tượng dứt mọi sợ hãi, tức là tạo cho họ niềm tin về chính mình, tin ở nhân quả, tin mình là chủ của các nghiệp do mình tạo ra, để có thể hoán cải nghiệp nhân mà có được quả báo tốt hơn). Lễ Vu Lan Rằm tháng Bảy với sự nhấn mạnh cả hai yếu tố tự lực và tha lực, cũng là một cách tạo cơ hội tốt vậy. Khi Nguyễn Du đã từng viết:

"Nhờ phép Phật uy linh dũng mãnh

Trong giấc mê khua tĩnh chiêm bao

Mười loài là những loài nào

Gái trai già trẻ cùng vào nghe kinh…"

(Văn tế thập loại chúng sinh, câu 165-168, dẫn theo Nguyễn Du toàn tập, T2, nhà xb VH, H, 1996, tr407)

Thi hào Nguyễn Du đã thâu tóm, một cách sinh động, đầy hình tương tính chất tự lực, tha lực, pháp thí và vô úy thí của Phật giáo. Hai câu: "Nhờ phép Phật uy linh dũng mãnh; trong giấc mê khua tỉnh chiêm bao" không chỉ là sự nhấn mạnh yếu tố tha lực (kinh Phật, pháp Phật nhiệm màu) mà còn nói về tính tự lực. Bởi vì trong sự khua tỉnh giấc mơ ấy, chỉ có những tâm hồn thao thức với nẻo giác ngộ, thao thức với những lỗi lầm mình đã tạo ra và giờ đây muốn thay đổi… mới bắt gặp. Và hình ảnh "gái trai già trẻ cùng vào nghe kinh…" cũng chính là một cách hình tượng hóa công việc pháp thí và vô úy thí. Thực tế cho thấy có biết bao kẻ mộ Phật đã nhờ vào một câu kinh, lời kệ, mà đã chuyển hóa được cuộc đời mình, đã tìm được đáp số tuyệt vời cho bài toán về hạnh phúc. Đây là những phát biểu của chúa Nguyễn Phúc Chu (1675-1725) ghi trên văn bia chùa Thiên Mụ-Huế, dựng năm 1715:

"…Coi đời sống vương giả ở nơi cung điện không thoải mái bằng đời sống ở chốn thiền quan, ngựa thắng yên cương nạm vàng giáp ngọc không quý bằng chiếc gậy kim cang, cẩm y hoàng bào rực rỡ thường làm chóa mắt thế nhân không giá trị bằng chiếc áo cà sa và những kho ngọc và châu báu xét cho cùng cũng chỉ là toàn là những trò hư ảo mà thôi…" (Phan Du dịch, in trong Mộng kinh sư, nhà xb Cảo Thơm, S, 1971, tr102).

Tiếp cận và thấu đạt diệu lý vô thường, như thế con người đã có thể đem lại cho mình hạnh phúc thực sự trong cõi đời này.

Nguyễn Bỉnh Khiêm vốn là người am hiểu kinh Dịch tâm đắc với tính nhàn dật tiêu dao của Lão-Trang, nhưng đã không từ nẻo đường ấy để tiếp cận Phật lý, mà lại đứng ở quan điểm của một Nho sĩ nghiêng về thực dụng để vấn nạn về lễ Vu Lan, nên không thể lãnh hội được tính siêu việt của tinh thần từ bi theo đạo Phật là điều dễ hiểu. Một số Nho sĩ cố chấp ở thế kỷ 15,16, thường đứng ở quan điểm chữ hiếu của Nho giáo để kích bác đạo Phật, mà không biết rằng Phật giáo đã thuyết minh rất đầy đủ về chữ Hiếu bao gồm cả Hiếu thế gian và Hiếu xuất thế gian-tức giúp cho cha mẹ cùng người thân nhận rõ nẻo chánh tà, thiện ác, bỏ ác hành thiện, diệt khổ, hướng tới giải thoát; và Hiếu xuất thế gian ấy mới là con đường cứu cánh đạt tới hạnh phúc chân thật.

Phải chăng Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn chưa vượt xa tư tưởng của tầng lớp Nho sĩ đó? Câu hỏi này không phải là không có cơ sở, bởi vì chúng ta còn gặp một bài thơ Nôm khác của tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm với nhan đề rất Hán: "Giới sùng Phật vô ích" (Răn sùng bái Phật không ích gì) qua đó ông Trạng Trình đã có những nhận xét lệch lạc, sai lạc về đạo Phật (xem Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, std, tr184) và chúng tôi sẽ xin đề cập tới một dịp khác.

(Tuần báo Giác Ngộ 127/9-1998)

 



bullets08.gif - 0.2 KTrang MỤC LỤC
bullets08.gif - 0.2 K Trang chính