TRẦM HƯƠNG VU LAN
LẬP Ý
Ngày xưa khi Phật còn tại thế, có một đôi bạn chí thân, đó là Sariputra (Xá Lợi Phật) và Maudgaputra (Mục Kiền Liên). Đôi bạn hẹn với nhau rằng hễ ai tìm ra chân lý trước thì phải lập tức chỉ bảo cho người kia. Xá Lợi Phất tìm gặp được Phật và trong niềm sung sướng được thấy con đường mở rộng, liền nhớ ngay tới bạn. Thế rồi đôi bạn trở thành hai trong 10 vị đệ tử lớn của Đức Phật. Nhờ công phu chuyên cần, đôi bạn đạt tới trí tuệ và thần lực siêu phàm. Riêng Mục Kiền Liên, Ngài được tôn xưng là Thần thông đệ nhất, và được đức Phật thọ ký sau này thành Phật, hiệu là Tamata –patra Candanagandha. Theo truyền thuyết, sau khi đạt được thần lực, Mục Kiền Liên liền sử dụng tuệ nhãn nhìn thấu 10 phương để tìm xem bóng dáng người mẹ thân yêu bây giờ ở đâu. Ngài thấy mẹ đang chịu khổ đau ở địa ngục, lập tức Ngài dùng thần lực đến ngay bên mẹ dâng một bát cơm cho người đang chịu đói khổ, bà mẹ nâng bát cơm lên, lấy tay bốc ăn, nhưng cơm bỗng hoá thành lửa đỏ. Bất lực, Ngài trở về khóc lóc với Phật và cầu xin Phật thương tình cứu độ cho mẹ. Phật dạy :"Mẹ của con nghiệp chướng nặng nề vì khi còn sống đã lỡ làm nhiều việc thất đức. Thần lực của riêng con không đủ để cứu nổi mẹ, nay ta chỉ bảo cho một phương pháp. Chỉ có sức chí nguyện cộng đồng của tất cả chư Tăng mười phương mới có thể chuyển bạt được khổ não ấy mà thôi. Vậy trong ngày chư Tăng mười phương xuất hạ hãy thiết lễ cúng dường chư Tăng để nhờ cộng lực chú nguyện vĩ đại ấy chuyển nghiệp cho mẹ". Mục Liên đã vâng lời Phật và mẹ Ngài đã được giải thoát cảnh khốn khổ .
Kinh Vu Lan Bồn (Ullambanapatra Sutra) được dịch ra Hán văn vào khoảng hậu bán thế kỷ thứ ba Tây lịch, có chép rõ câu chuyện đó. Do ở lòng hiếu truyền thống của người Phật tử, là lễ cúng dường chư Tăng mười phương trong ngày tự tứ đã được cử hành trọng thể nhất là ở các nước Phật giáo Bắc truyền. Ngày hội Vu Lan vào tiết Trung Nguyên cũng được gọi là ngày xá tội vong nhân. Xá tội đây không phải là một ân huệ nào mà chính là do sức mạnh của tâm niệm, nói một cách khác, lực của chú nguyện cộng đồng của mười phương chư Tăng tạo nhân duyên cho sự chuyển bạt nghiệp chướng của những người đang chịu đựng đau khổ. Nhờ công phu thiền định, chư Tăng đạt được sức mạnh tâm linh siêu việt, sự tập hợp tâm linh của chư Tăng mười phương trong một ý chí cứu khổ sẽ tạo nên một chuyển biến vĩ đại trong tâm thức. Và người Phật tử khi hướng về một đức tin vững chãi để góp thêm ý chí nguyện cầu, sẽ un đúc thêm cho sức mạnh một cách đáng kể để thực hiện những chuyển đổi cần thiết. Đó là bài học lý thuyết của kinh Vu Lan .
Mối tương quan đầy nghĩa tình của những người sống đối với người chết đã khiến cho ngày Vu Lan trở thành một ngày hội lớn mỗi năm. Ngoài những thực hành có tính cách chánh pháp, người dân quê còn biểu lộ tình thương xót ấy trong những lễ cúng phiền tạp mong giúp cho các vong hồn bớt lạnh lẽo, bớt đói khát, cô đơn. Thái độ ấy thật là cảm động, thật là quý hoá. Xuyên cái hình thái có vẻ như là mê tín, người ta thấy một tâm lý đôn hậu, thực thà, hiếu thuận, những gì rất quý hoá trong xã hội ngày nay. Có lẽ xã hội ta sẽ còn đẹp mãi nếu ta tìm cách giữ được những gì quý giá ấy .
Muà Vu Lan, tất cả chúng ta đang thao thức nhớ tới những người thân yêu đã mất. Chúng ta nhớ tới những oan hồn uống tử, nhớ đến mười loại cô hồn lạnh lẽo lang thang. Vu Lan này có những bà mẹ sẽ khóc đến hết nước mắt vì nhớ con, nhớ cháu. Tất cả chúng ta muốn sửa soạn hoa hương, với tất cả tâm niệm chí thành tập trung hy vọng và cầu nguyện sẽ chuyển bạt được nghiệp khổ của người chết cũng như của người còn sống. Trầm hương nghi ngút của mùa Vu Lan năm nay, chúng ta cầu nguyện cho những người đã vì đại nghĩa mà hy sinh cho tương lai đạo pháp, tương lai dân tộc. Chúng ta cầu nguyện cho hương linh các tử sĩ gục ngã đó đây khắp nơi biên ải, núi rừng và đồng sâu. Tất cả hương linh hãy về đây trong hội Vu Lan cho bớt phần lạnh lẽo. Khắp nơi từ đồng ruộng, phố phường, bà con anh em đã chết hãy về trong đại hội Vu Lan để nghe tiếng kinh siêu độ, mong về được cảnh giới an lạc .
(Tuần báo Giác Ngộ số 127 –9/ 1998)