THÔNG ÐIỆP VU LAN

THÍCH THÔNG HUỆ

Ðối với các nước Phật giáo Bắc tông, Vu Lan là một lễ hội quan trọng và có nhiều ý nghĩa sâu xa.

Có chủ thuyết cho rằng chết là hết, xác thân khi trở về cát bụi thì không còn gì tồn tại nữa; cho nên, làm ác hay hành thiện cũng như nhau. Ngược lại, có thuyết chủ trương linh hồn bất tử, được vĩnh viễn ở trên thiên giới hay muôn kiếp bị đoạ đày nơi địa ngục, tùy theo người lúc còn sống có trọn vẹn dâng mình cho đấng tối cao hay không. Ðạo Phật có cái nhìn khác hẳn, không chấp đoạn cũng chẳng chấp thường. Phật dạy, có hằng hà sa số thế giới hữu hình và vô hình đồng thời hiện hữu. Sự sống không bao giờ gián đoạn, chỉ là thay hình đổi dạng mà thôi. Người gọi là "sống" nghĩa là đang tồn tại trên thế giới này; người gọi là "chết"có nghĩa đã bỏ thân này và tiếp tục sống dưới một hình thức khác, quẩn quanh trong ba cõi sáu đường. Chúng sanh mãi trầm luân trong sanh tử vì vô minh tạo nghiệp, dù nghiệp thiện hay ác vẫn không thoát khỏi luân hồi. Muốn giải thoát sinh tử, thân miệng ý phải dừng tạo nghiệp, đây là đường lối và ý nghĩa của sự tu hành.

Vì tin có nhiều cõi giới đang hiện hữu ngoài trái đất, nên chúng ta tin rằng, những người thân đã khuất của chúng ta có thể đang sống ở đó. Do đó, trong ngày Vu Lan, chúng ta không chỉ nhớ nghĩ đến người sống, mà còn mở lòng đến những chúng sinh ở khắp pháp giới. Có những vấn đề đượm màu siêu thực, huyền bí, hoang đường, nhưng nếu suy gẫm kỹ, ta thấy chúng cần thiết vô cùng cho con người và cuộc đời. Ví như những chuyện về địa ngục, ngạ quỷ, vốn không thích hợp trong thời đại khoa học, nhưng khiến người bỏ bớt điều ác. Cũng vậy, cảnh giới vô cùng phúc lạc sung sướng của chư Thiên có thể khuyến khích con người cố gắng tu phước, làm lợi cho bản thân và cho người xung quanh.

Từ ý nghĩa này, chúng ta thấy tinh thần xá tội vong nhân trong ngày Vu Lan không những giúp người đã khuất được siêu độ, mà còn giáo dục cho người sống; nếu chưa thể sạch nghiệp thì chúng ta cũng phải tu hành thế nào để chuyển nghiệp. Lúc sống có tịnh tu 3 nghiệp thân, khẩu, ý thì khi nhắm mắt con người mới mong được siêu thăng. Nếu lúc sống làm nhiều điều xấu ác, thì khi mất, dù quyến thuộc tổ chức cầu cúng chu đáo, cũng khó hy vọng vãng sanh về các cõi lành. Vì sao như thế ? Trong thời Ðức Phật cộng đồng Tăng lữ toàn những bậc Hiền Thánh tăng như đã miêu tả trong kinh Vu Lan: Người đặng bốn tòa đạo quả, chứng Vô sanh, người tu hành thanh tịnh trong núi sâu rừng thẳm, người đã đắc Lục thông như Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát… Các vị 3 nghiệp đều thanh tịnh, nên khi cùng nhau chú nguyện, niệm lực bất khả tư nghì đã khiến mẹ ngài Mục Liên chuyển tâm ác thành thiện, nhờ đó mới thoát khỏi khổ xứ. Ngày nay, chúng ta khó có phước duyên cung thỉnh các bậc Hiền Thánh tăng cầu siêu cho thân quyến. Trong khi thiết lễ, nếu gia chủ không thành tâm chí kính hướng về Tam Bảo, chỉ xem trọng hình thức để có tiếng khen với người ngoài, thì làm sao có thể ảnh hưởng tốt đến tâm thức người đã mất ? Cho nên, về phương diện tâm linh có 3 điều kiện thiết yếu để buổi cầu siêu đạt được kết quả : Chư Tăng tu hành thanh tịnh; gia chủ chí thành chí kính; tâm người chết chuyển đổi từ ác thành thiện.

Ở Việt Nam ta có tập tục thờ cúng tổ tiên và lập đền thờ các bậc tiền hiền, những anh hùng dân tộc. Ðây là nét đẹp văn hóa thể hiện lòng biết ơn đối với những người đã khuất. Ðức Phật dạy : Con người có bốn ân nặng cần cưu mang và đáp đền, gọi là Tứ trọng ân : Ơn cha mẹ, ơn Sư trưởng, ơn Tổ quốc và ơn chúng sanh. Theo lý Duyên sinh, mọi tồn tại đều có liên hệ khắng khít và hỗ tương với những tồn tại khác. Con người cũng vậy, không ai có thể đơn độc tự sống còn mà phải nhờ công lao của rất nhiều người khác để thỏa mãn những nhu cầu, thể chất và tinh thần. Ngay cả loài vô tình cũng có ơn với chúng ta : cây trái để ăn, nước để uống, không khí để thở…. Biết ơn tất cả những ai và những gì đã giúp mình trong cuộc sống, chúng ta không thể làm hại người, vật và hủy hoại môi trường sinh thái. Ngược lại, chúng ta phải thể hiện lòng biết ơn ấy một cách tích cực trong khả năng của mình. Ðặc biệt là lòng hiếu đạo đối với cha mẹ và những người đã dưỡng nuôi, dạy dỗ chúng ta nên người. Kẻ nào bất hiếu với những bậc sinh thành là kẻ không có căn bản đạo đức, vì nếu không thương cha mẹ thì không thể thực lòng thương yêu ai. Ngay cả những bậc đã giác ngộ cũng còn giữ lòng hiếu thảo với cha mẹ, không chỉ ở kiếp này mà cả những kiếp về trước. Các Ngài Mục Kiền Liên, Xá Lợi Phất là những tấm gương sáng chói về hiếu đạo mà chúng ta cần noi theo. Từ đó, ta mới có thể mở rộng lòng thương đến những người khác và đến tất cả chúng sanh muôn loài. Có thể nói, lòng hiếu thảo là tiền đề của lòng từ bi. Người con Phật phải thể hiện lòng từ bi vô hạn ấy, không chỉ đối với loài người mà còn với loài động thực vật; không chỉ đối với chúng sanh hữu hình mà còn với các cõi giới vô hình.

Lễ hội Vu Lan là lễ hội của những người có lòng từ bi và của những người con hiếu. Nét đẹp của Vu Lan là hướng tâm đến tất cả chúng sanh đang đau khổ, dù còn sống hay đã mất; là nhớ ơn và có dịp đền những ơn nghĩa mình đã cưu mang. Ðối với người con Phật, Vu lan là một thắng hội, vì đây là một lễ hội thù thắng về nhiều khía cãnh tâm linh, đạo đức, xã hội. Hiểu và áp dụng tinh thần Vu Lan đúng đắn để làm tốt đạo đẹp đời, thì thông điệp Vu Lan mới có giá trị vĩnh cửu, giúp cải thiện đời sống cho cá nhân và cho cộng đồng xã hội.

 



bullets08.gif - 0.2 K Trang MỤC LỤC VU LAN(những bài mới)
bullets08.gif - 0.2 KTrang MỤC LỤC VU LAN (những bài khác)
bullets08.gif - 0.2 KTrang chính