LỄ VU LAN – RẰM THÁNG BẢY

qua sự ghi nhận nơi một số tác phẩm biên khảo về văn hóa ,

phong tục, tín ngưỡng Việt Nam

Nguyệt-san Giác Ngộ

Ca dao Việt Nam, trong nỗ lực thâu tóm những nét sinh hoạt chính trong một năm của nhân dân, đã nói đến lễ Vu Lan – Rằm tháng Bảy và ảnh hưởng của ngày lễ ấy đối với truyền thống tín ngưỡng của dân tộc :"Tháng Bảy ngày Rằm, xá tội vong nhân". Chính từ sự ảnh hưởng rất đáng kể đó mà "hình ảnh ngày Rằm tháng Bảy" đã có mặt trong văn học Việt Nam: từ thơ chữ Hán của Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), thơ văn chữ Nôm "mục Liên bản hạnh" (khuyết danh), "Tờ Phả khuyến lễ kiết haï" của Phạm Thái (1777-1814) đến thơ mới của nữ sĩ Anh Thơ (bài "Rằm tháng Bảy" trong Bức Tranh Quê), nhất là nơi tác phẩm chữ Nôm nổi tiếng: "Văn tế thập loại chúng sinh" của thi hào Nguyễn Du (1765-1820)… Do vậy, khi nghiên cứu, biên khảo về văn hóa, phong tục, tín ngưỡng Việt Nam, các nhà nghiên cứu tất đều có đề cập tới lễ Vu Lan - Rằm tháng Bảy. Bài ghi nhận này xin điểm qua phần viết về "Lễ Vu Lan – Rằm tháng Bảy" nơi một số tác phẩm biên khảo thuộc loại vừa kể như "Việt Nam phong tục" (Phan Kế Bính), "Việt Nam văn hóa sử cương" (Ðào Duy Anh), "Ðất lề quê thói" (Nhất Thanh), "Tín ngưỡng Việt Nam" (Toan Aùnh), "Phật giáo với văn hóa Việt Nam" (Nguyễn Ðăng Duy), bài khảo cứu "lễ Vu Lan với văn tế cô hồn" (Hoàng Xuân Hãn)…

1. Sách "Việt Nam phong tục" của Phan Kế Bính (1875-1921), phần giải thích về Tết Trng Nguyên đã viết :"Rằm tháng bảy gọi là Tết Trung Nguyên. Ta tin theo sách Phật thường cho ngày hôm ấy là ngày vong nhân xá tôi, nghĩa là dưới âm phủ được tha tội một ngày hôm đó. Bởi vậy nhiều nhà mua vàng mã cúng gia tiên, các nhà có người mới mất cũng hay đốt vàng mã, làm chay về hôm ấy". (Phan Kế Bính), Sđd, bản in 1970, S, trang 44). Giải thích như vậy là quá sơ sài; vì chỉ mới qua phần "xá tộâi vong nhân" rất dễ gây hiểu lầm đối với Phật giáo. Bởi vì quan niệm "Ngày hôm đó tội nhân nơi âm phủ được tha tội, người sống nơi dương gian đốt vàng mã" v.v… vốn là nhưng tập tục dân gian, đã cố tình đi lạc đề khá xa với truyền thống báo hiếu của Phật giáo Bắc truyền theo tinh thần kinh Vu Lan. Tuy nhiên, điều đáng ghi nhận là Ông Phan Kế Bính đã nhấn mạnh được một điểm gốc, đó là "Ta tin theo sách Phật", chứng tỏ Phật giáo đã có một tác động rất lớn đối với phong tục, tín ngưỡng ở Việt Nam, và "sách Phật" ở đây nên hiểu là kinh Phật, mà đối với Phật tử theo hệ Phật giáo Bắc truyền thì đấy là "Kinh Vu Lan Bồn" (Ullambhana sùtra), một bản kinh ngắn thuật lại Hiếu hạnh của Tôn giả Mục Kiền Liên, một trong số các vị đại đệ tử của Phật Thích Ca, cũng như ý nghĩa và giá trị của ngày Tự tứ trong nghĩa vụ báo hiếu của người Phật tử đối với các bậc sinh thành. (Xem Kinh Vu Lan, No.685, tập 16, Ðại Tạng Kinh ÐCTT, hoặc bản Việt dịch, chú thích kỹ lưỡng của HT. Thích Tri Quang, 1994).

2. Sách "Việt Nam văn hóa sử cương" (VNVHSC) của Ðào Duy Anh (1904-1988), nơi thiên thứ 3: "Xã hội kinh tế sinh hoạt", chương 6, bàn về "Tín ngưỡng và tế tự v.v…", mục "Tế tự ở hương thôn", sau khi giới thiệu về ngôi chùa Phật ở hương thôn Việt Nam (vị trí, cảnh quan, cách thờ tự v.v…), vài nét về "trật tự của Tăng đồ", đã viết: "Mỗi năm đến ngày mồng tám tháng tư là ngày vía Phật Tổ, và ngày Rằm tháng Bảy là lễ Trung Nguyên thì các chùa làm lễ rất to, lễ trên là để kỷ niệm ngày Phật Ðản, lễ dưới là để giải oan và siêu độ cho các cô hồn… Mỗi năm có hai kỳ các thầy Tăng phải cấm túc luôn, nghĩa là phải ở luôn trong chùa mà tụng niệm, từ Rằm tháng Tư đến Rằm tháng Bảy, và từ Rằm tháng Mười đến Rằm tháng Chạp, tức là tuần kết hạ và kết đông". (VNVHSC, Nxb Bốn Phương, S, 1952, tr.211, N.H. nhấn mạnh). Viết như thế rõ ràng là tác giả đã đứng ở phần hiện tượng để mô tả sự việc mà mô tả như trên cũng là quá sơ lược, bởi lẽ người đọc cần phải biết "lễ Trung nguyên Rằm tháng Bảy" đã phát xuất từ mảng giáo lý nào của đạo Phật, đã có những thuận hợp ra sao với phong tục, tín ngưỡng Việt Nam, khiến "các chùa vào ngày ấy làm lễ rất to", cũng như vì sao lễ ấy "là để giải oan, siêu độ cho các cô hồn?" (Thật ra, những nghi lễ như giải oan, siêu độ cho các cô hồn chỉ là một phần trong nội dung của ngày lễ Vu Lan. Ngoài ra, nhân tiện cũng xin đính chính 2 "nhầm lẫn" quá rõ , đáng ra tác giả sách VNVHSC phải sửa lại, hoặc các lần tái bản về sau, bộ phận biên tập của nhà xuất bản nên ghi chú, nhận định. Aáy là:

- Trang 210, tác giả viết : " Ngôi chùa thường có một tòa nhà chính ở giữa là chỗ thờ Phật… Ở bực trên hết là tượng ba vị Phật Di Ðà, Thích Ca và Di Lặc (tục gọi là Tam Bảo)". Ba vị Phật được thờ ấy là Tam thế, không thể nhầm lẫn với Tam bảo được.

- Trang 234: "Ðời Lê Ðại Hành, sứ nhà Tống là Lý Giải sang nước ta". Tên của vị sứ này hầu hết các tài liệu đều ghi là Lý Giác, chỉ mỗi sách VNVHSC là viết Lý Giải. Truy nguyên ra mới biết là tác giả đã dựa theo tài liệu của Phạm Quỳnh (1892-1945). Nơi bài khảo cứu khá dài "Phật giáo lược khảo", sau in lại trong Thượng Chi văn tập, tập 4, Phạm Quỳnh đã ghi tên của vị sư nhà Tống này là Lý Giải. (Xem Thượng Chi văn tập, T4, Nxb A.D. Rhodes, Hà Nội, không ghi năm, trang 142).

3. Sách "Ðất lề quê thói" (Phong tục Việt Nam) của Nhất Thanh (Nxb Ðường Sáng, S, 1970) được biên soạn với lượng tư liệu tham khảo khá dồi dào, theo một bố cục tương đối hợp lý, những đoạn viết về "Tết Trung Nguyên – rằm tháng bảy" – thuộc chương X, phần "Mừng lễ tiết trong một năm" – rất tiếc là tác giả lại sử dụng hoàn toàn "nguyên văn" của Phan Kế Bính trong "Việt Nam phong tục". (Ðất lề quê thói, sđd, tr.315-316), và lặp lại một số nhầm lẫn trong sách này.



bullets08.gif - 0.2 K Trang MỤC LỤC VU LAN(những bài mới)
bullets08.gif - 0.2 KTrang MỤC LỤC VU LAN (những bài khác)
bullets08.gif - 0.2 KTrang chính