KINH THIỆN SANH BÀN VỀ CHỮ HIẾU

 

Đào Nguyên

Kinh Thiện Sanh còn có tên là Kinh Thiện Sanh Tử , kinh Thi Ca La Việt Lục Phương Lễ , là một bản kinh ngắn nhưng thuyết minh khá đầy đủ về lãnh vực tu thân , xử thế của người Phật tử tại gia , tất nhiên là có đề cập tới vấn đề chữ Hiếu . Đây là cuốn kinh thể hiện rõ quan điểm nhân sinh tích cực của Phật giáo , có mặt trong cả điển tích của Phật giáo Nam truyền và Bắc truyền .

Nhân mùa Vu Lan, chúng xin giới thiệu phần nói về chữ Hiếu của bản kinh ấy.

I. Về kinh tạng của Phật giáo Nam truyền , kinh Thiện Sanh được ghi lại trong Trường Bộ kinh ( Digha- Nikaya) , kinh số 31 , có tên là Singalovàda- Suttanta. ( Kinh Giáo Thọ Thi Ca La Việt , kinh Trường Bộ , T2, HT Thích Minh Châu dịch , ĐTK Việt Nam , 1991, tr. 529-547).

Đây là đoạn kinh Giáo Thọ Thi Ca La Việt bàn về chữ Hiếu :

" 27. Này gia chủ tử , vị Thánh đệ tử hộ trì sáu phương như thế nào ? Này gia chủ tử , sáu phương này cần được hiểu như sau : phương Đông cần được hiểu là cha mẹ …

28. Này gia chủ tử , có năm trường hợp , người con phải phụng dưỡng cha mẹ như phương Đông :" Được nuôi dưỡng, tôi sẽ nuôi dưỡng lại cha mẹ , tôi sẽ làm bổn phận đối với cha mẹ , tôi sẽ giữ gìn gia đình và truyền thống ; tôi bảo vệ tài sản thừa tự ; tôi sẽ làm tang lễ khi cha mẹ qua đời ". Này gia chủ tử , được con phụng dưỡng như phương Đông , theo năm cách như vậy , cha mẹ có lòng thương tưởng đến con theo năm cách : Ngăn chận con làm điều ác ; Khuyến khích con làm điều thiện ; Dạy con nghề nghiệp ; Cưới vợ gả chồng xứng đáng cho con ; Đúng thời trao của thừa tự cho con .

Này gia chủ tử , như vậy là cha mẹ được con phụng dưỡng như phương Đông theo năm cách và cha mẹ có lòng thương tưởng đến con theo năm cách . Như vậy phương Đông được che chở , và được trở thành an ổn và thoát khỏi các sự sợ hãi ". (HT Thích Minh Châu dịch , sđd, tr.541-542).

II. Vì là một bản kinh quan trọng nên kinh Thiện Sanh đã được du nhập , dịch và phổ biến ở Trung Quốc rất sớm . Hiện tại theo Đại Tạng kinh Đại Chính tân tu (ĐKT/ ĐCTT), chúng ta có tới 4 bản Hán dịch kinh ấy , kể theo thứ tự thời gian như sau :

1. Kinh Thi Ca La Việt Lục Phương Lễ : Một quyển do Đại sư An Thế Cao dịch vào đời Hậu Hán ( 25- 220) : ĐTK/ ĐCTT , tập 1. N.16 , tr. 250C- 252B. Đại sư An Thế Cao vốn là một nương tử của nước An Tức , đến Trung Hoa sớm , góp nhiều công sức vào buổi đầu , cho quá trình dịch thuật Tam Tạng kinh điển của Phật giáo Trung Hoa . Thời điểm dịch kinh trên là trong khoảng từ năm 148- 170 TL.

Đoạn kinh Thi Ca La Việt Lục Phương Lễ nói về vấn đề hiếu thảo như sau : "Phật dạy : Lễ bái ở phương Đông , đó là con thờ kính cha mẹ , có năm việc :một là phải nhớ lo làm ăn , hai là phải dạy sớm để sai bảo tôi tớ , đúng giờ cơm nước , ba là đừng để cha mẹ phải lo âu , bốn là luôn nghĩ tới công ơn của cha mẹ , năm là cha mẹ bệnh tật thì phải lo lắng cầu tìm thầy thuốc trị liệu .

Cha mẹ đối với con cái cũng có năm việc : một là phải nhớ khiến bỏ con ác , theo thiện , hai là dạy cho con chăm lo học hành , ba là dạy cho con thọ trì kinh giới , bốn là phải sớm lo dựng vợ gả chồng cho con , năm là trong nhà có của cải gì phải để lại cho con ". ( ĐTK/ ĐCTT, T1, N.16, tr. 251B).

2.Kinh Phật Thuyết Thiện Sanh Tử : Một quyển , do Sa môn Chi Pháp Độ dịch vào thời Tây Tấn (265-317 : ĐTK/ ĐCTT, T1, N.17, tr. 252B- 255A). Thời điểm dịch kinh này là vào năm 301 TL . Samôn Chi Pháp Độ là một trong số các vị sư góp phần đáng kể vào sự nghiệp dịch thuật kinh điển vào thời Tây Tấn ; về năm sinh , năm mất cùng quê quán chưa rõ , không biết có cùng một quê với các vị dịch giả nổi tiếng đi trước như Chi Lâu Ca Sấm (147- ?), Chi Khiêm ( thế kỷ III TL) chăng ?

Đoạn kinh " Phật Thuyết Thiện Sanh Tử" thuyết minh về mối tương quan giữa con cái và cha mẹ như sau :

" Lại nữa , này con ông cư sĩ ! Phàm ở phương Đông , như con cái thờ kính cha mẹ , như vậy , con cái phải lấy năm việc để cung kính , phụng dưỡng , an ủi một cách chân chính đối với cha mẹ . Những gì là năm ? Một là luôn nhớ nghĩ việc báo đáp , lo việc nhà . Hai là thay thế cha mẹ gánh vác công việc . Ba là luôn an ủi can ngăn đúng lúc . Bốn là chỉ mong cung phụng , nuôi dưỡng cha mẹ . Năm là luôn vui mừng khi thấy cha mẹ .

Cha mẹ cũng lấy năm việc để yêu thương con cái mình . Đó là : Lo tạo dựng cơ nghiệp , cùng lo về tài lợi , lo dựng vợ gả chồng cho con cái , dạy con cái tu học chánh pháp , có việc gì cũng phó thác cho con . Đấy chính là hai phần thích hợp của phương Đông , được pháp của các bậc Thánh xưa nêu dạy , làm con phải hiếu thảo , làm cha mẹ phải từ ái , kẻ sĩ trượng phu mong lợi ích mà pháp lành không suy thoái ". (ĐTK/ ĐCTT, T.1, N.17, tr. 254A).

3. Kinh Thiện Sanh (trong kinh Trung A Hàm , quyển thứ 33 , kinh số 135 ĐTK/ ĐCTT , T.1, N. 26, tr. 638C- 642A) , do Đại sư Cù Đàm Tăng Già Đề Bà dịch vào thời Đông Tấn ( 317- 419) , thời điểm dịch kinh Trung A Hàm – trong ấy có kinh Thiện Sanh – là khoảng năm 397 TL . Đại sư Cù Đàm Tăng Già Đề Bà người nước Kế Tân thuộc miền Bắc Aán Độ , đến Trường An trong khoảng từ năm 365- 384 TL , tham gia dịch nhiều kinh , luận , sau mỗi lần xuống Kiến Nghiệp ( kinh đô của nước Đông Tấn ) dịch lại kinh Trung A Hàm .

Phần bàn về chữ Hiếu của kinh Thiện Sanh như sau :

" Này con của vị cư sĩ ! Trong pháp luật của bậc Thánh có 6 phương : Đông , Tây , Nam , Bắc , trên , dưới .

Này con của vị cư sĩ ! Như đối với phương Đông con cái đối với cha mẹ cũng vậy . Người con nên lấy 5 điều để thờ kính , phụng dưỡng cha mẹ . Năm điều đó là gì? Một là làm tăng thêm của cải . Hai là cáng đáng mọi việc . Ba là dâng cha mẹ những gì người muốn . Bốn là không tự tác , không làm trái ý cha mẹ . Năm là tất cả vật riêng của mình đều dâng hết cho cha mẹ .

Người con dùng 5 việc như trên để phụng dưỡng , thờ kính cha mẹ , cha mẹ cũng lấy 5 việc để chăm sóc các con . Năm việc đó là gì ? Một là thương yêu con cái , hai là cung cấp không thiếu . Ba là khiến con không mang nợ . Bốn là gả cưới xứng đáng . Năm là cha mẹ có của cải vừa ý đều giao hết cho con .

Này con của vị cư sĩ ! Như vậy phương Đông có hai trường hợp phân biệt . Trong luật pháp của bậc Thánh , phương Đông là giữa con cái và cha mẹ . Này con của vị cư sĩ ! Nếu có người từ hiếu đối với cha mẹ thì chắc chắn có sự tăng ích chứ không có sự suy hao ".

(Kinh Trung A Hàm , T3, bd của viện cao đẳng Phật học Hải Đức , Nha Trang, ĐTK Việt Nam , 1992, tr. 264-265).

4.Kinh Thiện Sanh ( trong kinh Trường A Hàm , quyển thứ 11 , kinh số 16 , ĐTK/ĐCTT , T1 , tr. 70A- 72C ) do hai Đại sư Phật Đà Da Xá và Trúc Phật niệm dịch vào đời Hậu Tần ( 384- 417) , thời điểm dịch kinh Trường A hàm , trong ấy có kinh Thiện Sanh , là vào năm 408 . Trong công việc này , Đại sư Phật Đà Da Xá lo phần dịch nghĩa , còn Đại sư Trúc Phật Niệm đảm nhận phần chuyển văn .

Phần bàn về chữ Hiếu , hay nói rõ hơn là mối tương quan giữa cha mẹ và con cái trong gia đình của kinh Thiện Sanh được thuyết minh như sau :

" Phật bảo Thiện Sanh : Phải biết rõ về sáu phương . Những gì là sáu ? Cha mẹ là phương Đông … Này ! Thiện Sanh !Phàm làm con phải lấy 5 điều sau đây để kính thuận với cha mẹ . Những gì là năm ? Cung phụng hiếu dưỡng cha mẹ không để thiếu thốn . Phàm làm điều gì trước phải thưa cho cha mẹ biết . Cha mẹ làm điều gì mình phải kính thuận , không được chống báng , Không trái với việc làm của cha mẹ . Không ngăn cản việc lành của cha mẹ . Này Thiện Sanh ! Phàm làm con phải lấy năm việc trên để kính thuận cha mẹ .

Ngược lại cha mẹ cũng lấy năm điều sau đây để chăm sóc con cái . Những gì là năm ? Ngăn con không cho nghe và làm điều ác . Chỉ dạy cho con làm điều lành . Thương yêu con cái thắm thiết . Vì con mà lo việc hôn nhân một cách tốt đẹp . Tuỳ thời mà cung cấp cho con những thứ cần dùng .

Này Thiện Sanh ! Nếu con cái đối với cha mẹ kính thuận , cung phụng thì phương Đông sẽ được an ổn không còn lo sợ ".

( kinh Trường A Hàm , T1, bd của Viện Cao Đẳng Phật học Huệ Nghiêm ĐTK Việt Nam , 1991, tr. 566-567).

Xin bày tỏ một vài ghi nhận :

1.Trong sáu phương cần có sự lễ bái : phương Đông ( con cái- cha mẹ ), phương Nam ( đệ tử – sư trưởng ) phương Tây (vợ – chồng ) phương Bắc ( tôi tớ- gia chủ )phương dưới (bằng hữu ) phương trên ( thí chủ – Sa môn , Bà la môn ) thì phương Đông được nói tới trước hết chứng tỏ sự quan tâm đáng kể đối với lãnh vực hiếu thảo, hay nói rộng hơn là mối tương quan tốt đẹp giữa con cái và cha mẹ , đầu mối và là nền tảng của sự ổn định đem lại hạnh phúc tương đối cho gia đình .

2.Sự thuyết minh rất thuận hợp vì gồm đủ hai chiều ( con cái đối với cha mẹ , cha mẹ đối với con cái ), thể hiện cái nhìn về sự vật trong tính duyên khởi của chúng :" Cái này có thì cái kia có , cái này sinh thì cái kia sinh …"

3. Trường hợp một bản dịch có mặt trong cả kinh tạng Nam truyền và Bắc truyền , với nhiếu bản dịch qua nhiều thời kỳ , càng chứng tỏ tính chất " nguyên thủy" của bản kinh , và tính chất thoáng trong công việc kết tập kinh điển của đạo Phật . Bởi vì , xét cho cùng , chân lý là mặt trăng , còn kinh sách chỉ là ngón tay chỉ mặt trăng mà thôi .

Source: Tuần báo GIÁC NGỘ



bullets08.gif - 0.2 KTrang MỤC LỤC
bullets08.gif - 0.2 K Trang chính