HIẾU HẠNH, HÀNH HIẾU

NHÂN MÙA VU LAN

Lý Lược Tam

Nguyện huyên đường hề ! hạc linh,

Vĩnh khang cương hề ! vật dược .

Nguyện mẫu thân chừ ! tuổi hạc sánh ngang,

Luôn khỏe mạnh chừ ! khỏi phải thuốc thang .

Lý Thân

Trong đạo lý luân thường, "Hiếu" đạo là quan trọng nhất đối với Nho giáo, Nho gia cho rằng :"Hiếu" là sách của Trời, nghĩa của Ðất, hạnh của Người (Thiên chi kinh, Ðịa chi nghĩa, Nhân chi hạnh), nó là đạo của trời đất, con người có bổn phận hành báo, và nó nghiễm nhiên trở thành thế đạo chánh thường của loài người bởi chế ước của xã hội, như trong "Hiếu kinh" Khổng Tử (543 –480 trước TL) nói :

1. Sống chung với cha mẹ, phải thành kính với cha mẹ

2. Phải vui vẻ hết lòng phụng dưỡng

3. Phải lo lắng thuốc thang chạy chữa cho cha mẹ khi đau yếu

4. Khi cha mẹ qua đời phải vô cùng thương xót buồn đau, an táng cha mẹ chu đáo

5. Cúng tế cha mẹ phải thành khẩn cung kính trang nghiêm

(Cư tắc trí kỳ kính, Dưỡng tắc trí kỳ lạc, Bịnh tắc trí kỳ ưu, Tang tắc trí kỳ ai, Tế tắc trí kỳ nghiêm) đó là hiếu đạo của Nho gia cần tôn thủ .

Giữ gìn "Hiếu" đạo nhất là phụng dưỡng cha mẹ phải hết lòng kính ái. Tăng Tử (học trò KhổngTử) từng nói :"Cái hiếu thời nay là có thể nuôi dưỡng cha mẹ, nhưng không phải với lòng thành kính, thì thử hỏi có khác gì ta nuôi con chó con ngựa đâu", nên nói hiếu phát xuất từ bản tâm của mỗi con người, "hiếu" là đức hạnh của con người. Chắc cũng không sai, và để hiểu rõ hơn, chúng ta thử xem coi Lão Tử (sống giữa 571 –471 TTL) nói gì về cái "Ðức" của đức hạnh : "Ðạo" có trước trời đất, độc nhứt vô nhị. Tồn tại ở đó mà biến hoá ra tự nhiên, phân hoá, ngưng tụ mà hình thành đất trời, muôn vật. Trời đất muôn vật đều do "Ðạo" mà thành. Sự tồn tại của tự thân muôn vật cùng thuộc tánh và hình tượng của nó đều từ nơi "Ðạo" mà có được (đắc). Từ đắc (được) của chữ Hán cùng âm với từ "Ðức" và chữ Hán cổ thường dùng từ "đắc" thay cho từ "đức" này, đất trời và vạn vật "đắc"(được) sanh là từ nơi "đạo", tất cả thuộc tánh tồn tại nơi tự thân của nó khả dĩ gọi là "đức", nên cái "đức"(hạnh) này không phải do người đặt ra, mà là do tự thân sự vật, tự thân con người mà có đủ bổn tánh (đức) đó. Chúng ta thử lấy cuộc sống con người mà nói, canh tác mà ăn, dệt vải mà mặc, thức dậy là làm, mệt thì nghỉ; và lấy tập tánh mà nói, đói thì tự nhiên ăn, khát thì tự nhiên uống, vui tự nhiên cười, buồn tự nhiên khóc; lấy luân thường mà nói, còn nhỏ thì cha mẹ nuôi nấng, lớn lên thì phải hiếu dưỡng cha mẹ già, làm vua tự nhiên phải thương yêu dân mình, dân tự nhiên tôn kính vua, bổn tánh này của con người tự nhiên, nhi nhiên có sẵn rồi vậy, đó là nhơn tánh tự nhiên của con người, chẳng phải từ ý niệm ngoại lai nào chế ước nó cả. Nói theo Lão Tử, chúng ta được cha mẹ sanh ra ắt tự nhiên thân thiết cha mẹ mình, thấy có người chết tự nhiên bi thương, lúc cần phải tranh tự nhiên tranh, lúc cần phải nhượng tự nhiên nhượng, từ góc độ này mà luận có thể gọi là "nhơn tánh tự tại luận". Tóm lại, Lão Tử cho rằng được gọi là "Ðức" của hiếu hạnh phải phát xuất từ nội tâm chân thành, từ bổn tánh tự nhiên của con người. Song sự đời nào có dễ dàng như vậy được, cứ theo đà phát triển của xã hội hôm nay, nhơn trí khai phát, văn minh khai hoá, đem lại cho nhân loại sự tiến bộ bất tận, nhu cầu hưởng thụ bất tận, bất tận bởi sự cầu toàn sáng tạo của nhơn trí. Và rồi như chúng ta thấy nó kéo theo bao nhiêu sự dối trá giữa người và người, khổ đau, đổ máu, nghèo đói, bệnh tật và sự huỷ hoại nhân tính tự nhiên của con người, Chính vì vậy mà trước xu thế nhơn trí phát đạt cao độ ngày hôm nay, không ít người đã quay về truy cầu cái đẹp tự nhiên, tìm nghỉ ngơi nơi thôn dã núi rừng. Trong cuộc sống xô bồ này chúng ta nên nhìn lại vấn đề hiếu hạnh của mỗi người chúng ta nói riêng, cả xã hội Việt Nam hiện nay nói chung, không phải đợi đến hôm nay mà trên hai ngàn năm trước đây Tăng Tử từng nói như trên đã viết. Tiện đây chúng tôi xin tạm mượn đôi vần mộc mạc của chúng tôi viết ra mười năm trước để gọi là lời sám tội thờ ơ với cái "hiếu" trước vong linh người mẹ vừa mới qua đời :

Lục tuần tiểu chước

(Tiệc nhỏ mừng thọ lục tuần)

Vừa mới sanh ra đà một tuổi

Một tuổi cưu mang mẹ đẻ đau

Aên cay nằm lửa nuôi dòng sữa

Sáu chục năm trời cực biết bao

Hoa giáp cháu con, mừng con thọ

Giật mình nhớ mẹ tuổi tám hai

Tám hai thọ mẹ nào ai chúc

Thẹn đón ly mừng con nuốt cay

Mỹ Luông, mồng tám tháng hai, C.Ngọ

Lý Thân

(bùi ngùi xấu hổ cảm đề)

Giờ chúng ta cùng trở lại xem nhà Phật nói gì về "hiếu hạnh". Hiếu hạnh đối với Nho gia rất coi trọng, và đối với nhà Phật trên căn bản không có gì là trái khoáy, như Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni đã đề ra bốn trọng ân mà các đệ tử Phật phải khắc ghi cẩn trọng báo đáp. Bốn trọng ân đó là : ơn cha mẹ, ơn chúng sanh, ơn đất nước, ơn Tam bảo. Ơn cha mẹ được nói tới trước nhất, như vậy chúng ta thấy Ðức Phật đối với sự báo hiếu xem trọng biết dường nào, Ðức Phật dạy : Cha mẹ sinh ta ra rất cực nhọc, chín tháng mang thai, ba năm ẵm bồng, nuôi nấng ta nên người, vậy ta phải báo đáp ơn cha mẹ bằng sự cung kính, phụng dưỡng và cầu cho cha mẹ giải thoát vòng sanh tử luân hồi (theo kinh Ðại thừa, Bổn sanh, Tâm địa quán). Người tu theo Phật xuất gia, từ bỏ của cải vợ con, cát ái ly thân đi vào con đường "tâm", cầu giải thoát luân hồi; và hiếu hạnh cũng xuất phát từ "tâm" có gì không hợp với tâm đạo đâu. Vả Phật bất ly thế gian giác mà, nên từ xa xưa trong lịch sử PG từng có biết bao tu sĩ trong giới Tăng lữ hành hiếu hạnh như : Tăng Ðạo Phi đời Ðường đi xin ăn về nuôi mẹ, Ðạo Tung Chức đi bán giầy cỏ lấy tiền nuôi mẹ, Khế Tung đời Tống từng làm sách "Hiếu luận", Tăng Cung Dữ đời Nguyên từng cầm cố áo "cà sa" mua gạo nuôi mẹ, qua bài thơ dưới đây :

Sương vẫn lô hoa lệ thấp y

Bạch đầu vô phục ỷ sài phi

Khứ niên ngũ nguyệt hoàng mai vũ

Tằng điển cà sa mại mễ qui

Tạm dịch

Sương dập hoa lau lệ đẫm y

Còn đâu bóng hạc tựa phên sài

Mưa hoàng mai tháng Năm năm ngoái

Từng cố cà sa đổi gạo về

Bài thơ trên tên "Tư mẫu thi" (thơ nhớ mẹ) tuy mộc mạc chưa trau chuốt, nhưng đã biểu lộ từng câu tình mẹ con dựa nhau trong hoàn cảnh đói nghèo, nó mang máng "Từ mẫu ngâm" của Mạnh Giao, thấp thoáng hình bóng đầu bạc như hoa lau bị sương rơi vùi dập tựa cửa trông con sợ con không về kịp, và cảm khái của người du tử mong mau về bên mẹ; rồi chạnh nhớ đến cái ngày trời mưa tầm tã vào mùa trái mai chín năm trước, mưa cứ dầm dề không dứt như nước mắt sầu khổ tuôn rơi trong cảnh khốn cùng, ảm đạm bi thương biết chừng nào. Và câu kết đưa chúng ta vào trong sự ngạc nhiên rồi lại thấy rất bình thường : cầm cố áo cà sa để đổi gạo về nuôi mẹ! Xem ra có hơi làm mất thể thống giới Tăng lữ, nhưng từ lòng thương mẹ già yếu không người nương tựa, không cơm ăn nên Sư mới làm như vậy, phải cầm đi chiếc áo thiết thân của mình, chiếc áo giải thoát, đời đời không thể xả ly. Ðây há không phù hợp bản sắc của một hiếu Tăng sao, thật ra hiếu hạnh của người xuất gia đâu khác gì hiếu hạnh của người phàm tục. Và đây là bài thi kệ của Thiền sư Tông Bổn đời Tống để chúng ta hiểu rõ thêm cái "hiếu" đối với nhà Phật .

Hiếu tâm tức thị Phật tâm

Hiếu hạnh vô phi Phật hạnh

Dục đắc đạo đồng chư Phật

Tiên tu hiếu dưỡng nhị thân

Tạm dịch

Tâm hiếu tức là tâm Phật

Hạnh hiếu không khác hạnh Phật

Muốn được cùng như chư Phật

Trước phải hiếu dưỡng mẹ cha

Cuối cùng chúng tôi xin chép ra đây bài thất tuyệt của Hoà thượng Huệ Ðăng chùa Thiên Thai, Bà Rịa, do Thầy Lệ Trang chùa Viên Giác quận Tân Bình ghi lại từ lời kể của Hoà thượng Khánh Hưng trước pháp lữ ngày trước, bài thơ tứ tuyệt giải nghĩa chữ "Hiếu" theo lối chiết tự :

"Thập" nguyệt hoài thai khổ thậm nan –(+) nan đầu chữ hiếu là chữ thập

"Nhứt" sanh bồ đề bảo chu toàn –(-) kế đó là gạch ngang chữ nhứt .

Phóng hạ "nhứt thẳng" tư kế nghiệp –(/) kế nửa là một số kéo xuống

"Tử" tôn thừa hưởng đắc bình an –(…) sau hết là chữ tử .

Tạm dịch

Mười tháng mang thai bao khổ cực

Một đời nuôi trẻ được chu toàn

Buông xuống đường dây mong nối nghiệp

Cháu con thừa hưởng được bình an

Nhơn ngày Rằm tháng Bảy âm lịch là ngày lễ Vu Lan, còn gọi là mùa báo hiếu có bông hồng cài áo, chúng tôi thì không có bông hồng, chỉ với bài viết nhỏ này xem như một bông hồng nho nhỏ (hồng tiểu muội) kính gởi đến quý bạn đọc, không phải để cài áo mà ước vọng với bông hồng nhỏ xíu này được đánh nhẹ vào cái hiếu tâm trong xã hội ngày nay, chừng như nó còn đang ngái ngủ. Và cuối cùng xin nói rõ bài viết chỉ khái quát hoá cái hiếu hạnh và hành hiếu trong "hiếu đạo" thôi, nhưng đã là đạo thì có gì là nhiều là ít, bởi hiếu xuất phát từ bổn tâm mỗi chúng ta, và tâm cũng từ đạo mà ra vậy nên không thể nói, nói ít nói nhiều. Như vậy thì mỗi chúng ta luôn tâm niệm rằng làm người phải làm tròn hiếu đạo, hiếu đạo trọn vẹn không phải là việc dễ làm, hành hiếu là phải với tấm lòng tha thiết báo đền .

(Tuần báo Giác Ngộ số 27 / 2000)



bullets08.gif - 0.2 K Trang MỤC LỤC VU LAN(những bài mới)
bullets08.gif - 0.2 KTrang MỤC LỤC VU LAN (những bài khác)
bullets08.gif - 0.2 K Trang chính