TÂM HIẾU LÀ TÂM PHẬT

Thích Phước Sơn

 

Mỗi năm mùa thu sắp về, lá vàng lác đác rơi, là lúc chúng ta chuẩn bị cử hành đại lễ Vu Lan báo hiếu. Ngày lễ này ngày nay không còn là ngày lễ riêng của Phật giáo mà đã nghiễm nhiên trở thành ngày lễ truyền thống của dân tộc. Bởi vì hiếu đạo không phải là một di sản đặc thù của người Phật tử mà là một nghĩa vụ thiêng liêng của tất cả mọi người. Từ các đấng thánh nhân cao cả cho đến một người dân bình thường, không ai là không do cha mẹ sinh ra. Chính cha mẹ đã san sẻ một phần máu thịt để tạo nên hình hài của mỗi chúng ta. Nếu không do công ơn bể trời của hai đấng sinh thành thì làm sao chúng ta có mặt trên cõi đời này! Cha mẹ không những hy sinh một phần máu thịt cho con mà còn tốn biết bao mồ hôi nước mắt để cưu mang nuôi nấng, mất biết bao thì giờ và sức lực để dạy con nên người hữu ích cho xã hội và nhân loại. Sự hy sinh của cha mẹ đối với con là sự hy sinh không giới hạn, vô vị lợi, và hoàn toàn quên mình. Tình thương của cha mẹ dành cho con là thứ tình cảm thiêng liêng không có bất cứ một thứ tình cảm nào trên cõi đời này có thể so sánh được. Do đó, báo hiếu cha mẹ cũng chính là nghĩa vụ cao quý nhất cần phải hết sức trân trọng tuân thủ. Ðúng ra, hiếu đạo không phải là nghĩa vụ mà chính là một diễm phúc mà những người con lương hảo may mắn có được. Chỉ có người chí hiếu mới hoàn thành được cái nhân cách đích thực của một con người. Một con người đúng ý nghĩa là một sinh vật ưu việt nhất trong muôn vật. Ðức Phật đã từng dạy: "Tâm hiếu là tâm Phật, đạo hiếu là đạo Phật." Vì vậy mà Phật xác định: "Cùng cực điều thiện không gì hơn hiếu, cùng cực điều ác không gì hơn bất hiếu."

Chúng ta thường nghe người đời ca tụng tình yêu, cho đó là thứ tình cảm cao cả nhất, nhưng giả sử chúng ta bất hạnh, một ngày nào đó người yêu phải vĩnh biệt, chúng ta trong lúc tuổi đời còn son trẻ, thì chúng ta vẫn còn hy vọng tìm được một tình yêu khác trên cõi đời này. Còn đối với cha mẹ thì không thế. Một khi cha mẹ đã khuất núi lìa đời thì dù cho chúng ta có đi tìm khắp mặt đất và suốt cả kiếp người, chúng ta cũng không thể tìm ra một người cha, một người mẹ thứ hai thứ ba nào khác. Bởi vì "mỗi người chỉ một mẹ thôi". Thế thường, con có thể không thương cha mẹ, chứ không có người mẹ nào mà chẳng yêu con. Nên tục ngữ ta có câu "cọp dữ cũng không nỡ ăn thịt con" là vậy. Thế thì, một người có chút lương tri làm sao lại không biết ơn cha mẹ! Chính Ðức Phật đã dạy: "Từ vô lượng kiếp đến nay, chúng ta lang thang trong nẻo luân hồi bỏ thân này,nhận thân khác, sinh đi sinh lại bao lần, sữa mẹ mà ta đã uống còn nhiều hơn nước của bốn đại dương". Ðiều này nhắc nhở chúng ta thấy công ơn mẹ cha to lớn biết ngần nào! Do đó, ca dao, tục ngữ trong dân gian thường ví công ơn cha mẹ thăm thẳm như trời cao, mênh mông như bể cả, chót vót như núi non, dằng dặc như sông dài, rực rỡ như mặt trời, tỏ rạng như ánh trăng v.v... Ở đây chúng ta có thể kể ra vài câu ca dao để minh họa:

"Ơn cha lành cao như núi Thái

Ðức mẹ hiền sâu tựa biển khơi

Dù cho dâng cả một đời,

Cũng không trả được ân người sinh ra."

"Ru hời, ru hỡi ru ơi,

Công cha như núi ngất trời,

Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Ðông.

Núi cao biển rộng mênh mông,

Làm con trước phải đền công sinh thành."

"Ðố ai đếm được lá rừng,

Ðố ai đếm được mấy tầng trời cao,

Ðố ai đếm được (những) vì sao.

Ðố ai đếm được công lao mẹ hiền."

Ðêm Vu Lan trăng tròn vành vạnh,

Nhớ mẹ cha canh cánh bên lòng.

Cha còn như ngọn đèn chong,

Mẹ còn như ánh trăng rằm trung thu."

Chúng ta cũng thấy trong kinh Ðại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân, Ðức Phật kể đến mười công đức của mẹ đối với con; do đó, con phải chu toàn 6 bổn phận để đền ơn cha mẹ. Cũng như Thiện Sanh trong Trường Bộ Kinh, Phật dạy người có 5 bổn phận đối với cha mẹ; và trong Tăng Chi Bộ Kinh, Ðức Phật cũng nêu ra 4 trách nhiệm mà người con phải thực hiện để báo đáp công đức sinh thành cao cả của mẹ cha. Nhưng tiêu biểu nhất vẫn là kinh Vu Lan Bồn. Kinh này xướng minh tấm gương báo hiếu rất đặc biệt của tôn giả Mục Kiền Liên. Một sự điển hình suốt cả nghìn đời mà Ðức Phật đã đinh ninh di chúc cho hàng Phật tử phải lấy đó làm gương. Người con muốn báo hiếu cha mẹ đả quá cố phải gieo chúc phước điền, mà đám ruộng phước thích hợp nhất cho Phật tử trông cậy là uy đức của Tăng chúng mười phương trong ngày Tự tứ. Vì trải qua ba tháng An cư, chúng Tăng đã nghiêm trì tịnh giới, thúc liễm thân tâm, huân tu ba nghiệp, nên phần lớn đạt được những kết quả đáng kể. Một khi Tăng chúng cùng nhau hòa hợp tu học, nghiêm trì giới luật thanh tịnh, đó chính là biểu trưng cho sự hưng thịnh của chánh pháp. Thế nên, ngày rằm tháng bảy cũng là ngày chư Phật hoan hỷ. Ngày tựu thành công phu tu học, ngày chúng Tăng Tự tứ chư Phật hoan hỷ, Phật tử thực hiện thiên chức cao cả báo đáp thâm ân cha mẹ thì chúng ta đủ thấy ngày ấy tốt đẹp và quan trọng biết chừng nào!

Trong ngày Tự tứ có thể có những bậc Thánh Tăng đã thành tựu từ sơ qủa đến tứ quả, hoặc thân chứng quả vị Duyên Giác hay Thập Ðịa Bồ Tát. Ðó là những vị đầy đủ Giới, Ðịnh, Tuệ, lấy tuệ giác vô thượng làm sinh mệnh, là chỗ trông cậy của trời, người. Còn lại là phàm Tăng. Nhưng phàm Tăng cũng có hai hạng: hạng giữ giới luật và hạng chỉ có hình thức Tăng già. Hạng có giới luật biết thanh sắc và những phù hoa là hiện thân của ma chướng. Ác ma luôn rình rập đàng sau mọi cám dỗ, tìm cơ hội phá hoại những ai muốn thoát khỏi những ngục tù phiền não. biết vậy nên người xuất gia phải cảnh giác trước những thanh sắc hoa mỹ, không để chúng mê hoặc. Họ hiểu rằng thọ dụng của tín thí khó tiêu mà dễ rơi vào ác đạo, làm hỏng mất tuệ giác, nên họ luôn nỗ lực nhất tâm, mong thành tựu những gì chưa thành tựu. Tạp A Hàm. Ð.II, 560/ Còn đối với hạng phàm Tăng thứ hai thì trên phương diện giới đức tuy có chỗ chưa viên mãn, nhưng vẫn có tâm hồn hướng thượng, biết sợ khổ đau, mong được giải thoát. Vả lại, đầu cạo tóc, mặc pháp y vốn là hình ảnh gợi lên cho chúng ta nhớ đến từ dung của đấng cha lành tôn kính, một hình ảnh xả thân cứu thế cao đẹp nhất trong đời:

"Nhất bát thiên gia phạn

Cô thân vạn lý du

Kỳ vi sanh tử sự

Giáo hóa độ xuân thu"

Về công đức cúng dường để gieo chút phước điền thì Ðức Phật đã dạy khá rõ trong kinh Vu Lan mà chúng ta đều biết, còn cách thức cúng dường thì như Phật đã huấn thị cho vua Ba Tư Nặc khi vua bạch với Ngài: "Bạch Thế Tôn, từ nay con cấm ngoại đạo vào lãnh thổ của con. Con xin luôn luôn cúng dường chúng Tăng tất cả những thứ cần dùng." Phật dạy: "Ðại vương đừng nói như vậy. Cho súc vật còn được phước huống nữa là cho ngoại đạo. Hãy cho đúng lúc, cho với tâm niệm thanh tịnh, cho bằng tay mình, cho với tấm lòng khiêm tốn chứ không kiêu căng, cho một cách giải thoát chứ không cầu được phước báo, cho để được Niết bàn chứ không cầu xin cõi trời. Cho rồi, đem cái phước ấy hồi hướng cho tất cả mọi loài, chứ không cầu riêng cho bản thân mình." /Ð.II, tr. 755/

Ngoài ra, Ðức Phật còn dạy Sư Tử trưởng giả về phước báo của hạnh bố thí bình đẳng khi ông bạch với Ngài: "Bạch Thế Tôn, con nghe Thế Tôn dạy hãy bố thí bình đẳng, do đó, khi bố thí con không có lòng lựa chọn phải trái, cao thấp. Con cúng dường và bố thí tất cả, để ai giữ thì phước báo vô cùng, ai phạm giới thì tự chịu tai họa. Con chỉ nghĩ ai cũng phải ăn mới sống." Ðức Phật khen: "Ðó là cái nguyện rộng rãi, cái tâm bố thí của Bồ Tát. Trưởng giả hãy nhớ sự bố thí bình đẳng thì phước đức vô tận." /Ð.II, tr.792/.

Một hôm cư sĩ Ưu Ba Ly thưa với đức Phật: "Từ nay sắp đi, con cấm ngoại đạo vào nhà con, con chỉ mời đệ tử của Phật, xuất gia cũng như tại gia." Phật dạy: "Cư sĩ cứ tiếp tục tùy sức cúng dường cho họ. Này cư sĩ, ta không nói nên cúng dường ta đừng cúng dường kẻ khác, cúng dường ta thì phước lớn còn cúng dường kẻ khác thì phước nhỏ; cúng dường đệ tử của ta thì phước nhiều, còn cúng dường kẻ khác thì phước ít. Này cư sĩ, ta nói như thế này: hãy bố thí tất cả tùy tâm hoan hỷ. Có khác chăng là bố thí kẻ tinh tấn thì phước nhiều hơn là bố thí kẻ biếng nhác mà thôi."

Chúng ta là Phật tử, chúng ta may mắn hơn những người không phải là Phật tử, vì chúng ta có niềm tin. Chúng ta tin Ðức Phật là đấng giác ngộ tối thượng, lòng từ bi của Phật là không giới hạn. Chúng ta tin diệu pháp của Phật là chiếc thuyền từ vớt kẻ trầm luân. Chúng ta tin Tăng chúng là đoàn thể sống hòa hợp, là trái ngọt cây lành trong mảnh vườn nhân thế. Chúng ta tin tịnh giới của Phật là áo giáp để ngăn ngừa những mũi tên độc của ma quân phiền não. Chúng ta tin sự bố thí cúng dường là đám ruộng tốt dành cho kẻ bần cùng. Với những niềm tin đó, chúng ta có thể phát tâm cao cả, vận dụng một lòng chí thành, gieo giống phước điền, nhân ngày Vu Lan báo hiếu, để hồi hướng công đức báo đáp công ơn trời bể của cha mẹ trong nhiều đời, nhiều kiếp. Nguyện cầu cho cha mẹ quá khứ nương nhờ uy lực gia hộ của Tam Bảo, vĩnh viễn thoát khỏi cảnh trầm luân, thường hăng an vui nơi cõi tịnh. Nguyện cầu cho cha mẹ và lục thân quyến thuộc hiện tiền đạo tâm kiên cố, phước tuệ tăng long. Nguyện cầu cho thế giới thanh bình và muôn loại sinh linh đồng triêm lợi lạc.

Nam Mô Ðại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát.

 

Thích Phước Sơn

 



bullets08.gif - 0.2 KTrang MỤC LỤC
bullets08.gif - 0.2 K Trang chính