TRUYỀN THỐNG BÁO HIẾU TRONG ÐẠO PHẬT THEO KINH VU LAN BỒN
Nhựt Chiếu
Trong nền luân lý cổ truyền việc hiếu để được xem như một vấn đề trọng đại nhất của đạo làm người: Có thể hiếu đạo là nền tảng của các đạo lý khác. Một người bất hiếu thì chắc chắn không thể hoàn thành bất cứ đạo lý nào một cách trọn vẹn được.
Nhưng tùy theo văn hóa, phong tục của mỗi nước mà cách thể hiện chữ hiếu có phần đại đồng tiểu dị. Nói chung, khi báo hiếu, trong tâm niệm của mỗi người đều nghĩ đến công ơn sanh thành dưỡng dục rất lớn lao của cha mẹ như ca dao:
Công Cha như núi Thái Sơn
Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ Mẹ kính Cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Hai câu đầu mô tả một cách tuyệt diệu về công cha nghĩa mẹ lớn như trời biển. Người Mẹ phải chịu đựng chín tháng cưu mang, ba năm bú mớm, bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn, săn sóc cho con từng ly từng tý. Nhất là mỗi khi con đau ốm, mẹ phải bỏ ăn mất ngủ, thao thức lo âu... Còn cha thì làm lụng vất vả, dầm mưa dải nắng đem mồ hôi đổi lấy bát cơm manh áo nuôi con. Lại lo dạy dỗ cho con học hành thành người hữu dụng....
Ðạo Phật không lấy gia đình làm trung tâm mà đặt căn bản giáo dục trên đại gia đình nhân loại. Song việc báo hiếu được Ðức Phật đề cập rất nhiều trong các kinh điển. Ðặc biệt Kinh Báo Hiếu Phụ Mẫu Ân, Ðức Phật phân tích rất tỉ mỉ về công lao sanh dưỡng của cha mẹ. Ân đức ấy hầu như con người không thể đền đáp được như đoạn kinh sau:
"Nếu có người vai phải cõng cha, vai trái cõng mẹ trải qua trăm năm mà cha mẹ đại tiểu tiện trên lưng cũng không có tâm oán hận. Lại cung cấp đầy đủ bốn sự ăn, mặc, ở, bịnh cho cha mẹ, thì người con này cũng chưa báo ơn cho cha mẹ đủ".
Ở chỗ khác, Ðức Phật dạy: "Phụ mẫu tại đường như Phật tại thế".
Nghĩa là Cha Mẹ đang sống cũng như Phật còn ở đời: Như thế, Ðức Phật rất trọng đạo hiếu. Chính bản thân Ngài - dù là một vị Phật - cũng rất chí hiếu như một con người bình thường. Ðối với chư đệ tử, tùy trường hợp, Ngài đã giáo hóa rất nhiều từ vua quan cho tới dân dã, từ người xuất gia đến kẻ tại gia, hướng đến đạo hiếu như một bổn phận thiêng liêng không thể thiếu được. Ðặc biệt, Ngài đã chỉ dạy cho Tôn giả Mục Kiều Liên phương pháp báo hiếu thật rất cảm động, được mô tả trong kinh Vu Lan Bồn.
Vu Lan Bồn hay Ô-lam-bà-na là dịch âm chữ phạn Ullambana. Người Trung Hoa dịch là Giải đảo huyền. Nghĩa đen là cởi trói cho người bị treo ngược, nghĩa bóng là cứu vớt kẻ đau khổ như bị treo ngược.
Vu Lan là một bản kinh nói về việc Ðức Phật chỉ dạy cho Ngài Mục Kiền Liên cách thức cứu mẹ đang bị đọa làm quỷ đói. Ðó là phương pháp cứu rỗi vong linh khỏi cảnh khổ sở tối tăm, nhờ sức chú nguyện của chư Tăng trong mười phương.
Ngài Mục Kiền Liên sau khi được sáu phép thần thông liền nhớ đến ơn thâm của mẹ. Ngài dùng mắt đạo quan sát khắp cả thế gian, thì thấy vong mẫu sanh trong loài ngạ quỷ, bụng to cổ nhỏ, ăn uống không được, chỉ còn da bọc lấy xương. Trước tình cảnh ấy, Ngài Mục Kiền Liên hết sức đau xót, vội đem bát cơm đến dâng cho mẹ. Mẹ được bát cơm liền lấy tay trái che bát tay phải bốc ăn. Vì tánh tham lam bỏn xẻn sâu dày, cơm vừa vào miệng biến thành than lửa, nên không ăn được Ngài Mục Kiền Liên thấy vậy thương xót gào khóc thảm thiết, liền về bạch Phật, trình bày những sự việc trên, đồng thời xin Phật chỉ dạy phương pháp cứu tế.
Ðức Phật dạy:
Này Mục Kiền Liên! Mẹ ông gốc tội rất sâu. Năng lực một mình ông không thể cứu được, dù ông hiếu thuận tiếng động đến cả trời đất, mà phải nhờ oai đức sức thần của Tăng chúng mười phương mới giải cứu được.
Ngày rằm tháng bảy là ngày Tự Tứ của Tăng mười phương, ông nên vì cha mẹ hiện tại và cả cha mẹ bảy đời mà sắm trai phạm đầy đủ mùi vị thơm ngon năm thứ trái cây, bồn chậu, nhang dầu, đèn nến... đem vật ngon ngọt đặt vào trong bồn, thành tâm cúng dường cho chư Ðại Ðức Tăng chúng mười phương.
Ngay trong ngày ấy, tất cả Thánh chúng hoặc đang thiền định ở tại núi non hoặc đã được bốn bậc đạo quả đang kinh hành dưới những bóng cây, hoặc hàng Thinh Văn, Duyên Giác có đủ sáu phép thần thông đang đi giáo hóa tự tại, hoặc hàng Thập địa Bồ Tát vì quyền phương tiện hiện làm Tỳ kheo, tất cả đều vân tập về trong Ðại chúng, thảy đều thị nhận bát cơm tự tứ. Ðạo Thánh chúng đầy đủ giới hạnh, đức của chúng Tăng thật là sâu rộng!
Ai được cúng dường Tăng chúng tự tứ như vậy, thì cả cha mẹ, anh em, vợ con, và hàng quyến thuộc đều đuợc ra khỏi khổ não ở trong ba đường cha mẹ hiện tại được phước sống lâu trăm tuổi, cha mẹ bảy đời sanh về Thiên cung, tự tại hóa sanh vào trong cõi trời hoa lệ sáng chói.
Ngài Mục Kiền Liên vâng theo lời dạy của Phật, đến rằm tháng bảy sắm sửa trai phạn, cung thỉnh chư Tăng trong mười phương, thành tâm cúng dường. Nhờ tập trung tu học ba tháng, giới hạnh thanh tịnh, định lực kiên cố, nên sức chú nguyện của chư Tăng đã cảm đến vong mẫu của ngài Mục Kiền Liên, khiến người quay đầu hướng thiện, thoát kiếp ngạ quỷ.
Sau khi vong mẫu đã được giải thoát, ngài Mục Kiền Liên vui mừng khôn xiết, đến trước Ðức Phật bạch rằng:
Bạch Ðức Thế Tôn! Mẹ của đệ tử, nhờ công đức Tam bảo, trong đó có sức oai thần của chư Tăng nên được siêu thoát. Như vậy ở đời sau, tất cả đệ tử của Phật phụng hành pháp Vu Lan Bồn này để xin cứu độ cha mẹ hiện tại và cả cha mẹ bảy đời có thể được chăng?
Ðức Phật dạy:
Tốt lắm! này Mục Kiền Liên! Nếu các Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Quốc vương thái tử... cho đến nhân dân muốn báo ơn cha mẹ hiện tại và cha mẹ bảy đời thì đến ngày rằm tháng bảy, ngày Phật hoan hỷ, ngày Tăng tự tứ, sắm sửa trai phạn cúng dường Tăng chúng tự tứ, thì việc cầu nguyện cho cha mẹ hiện tại sống lâu, không bịnh, không các khổ não, cha mẹ bảy đời thoát khỏi thống khổ của loài quỷ đói mà sanh vào loài người hay trên cõi trời hưởng đủ phước baú sẽ được thành tựu. Là đệ tử Phật, người tu hiếu thuận, nên trong từng niệm thương nhớ cha mẹ hiện tại và cả cha mẹ bảy đời, thì đến ngày rằm tháng bảy mỗi năm, sắm lễ Vu Lan hiến cúng chư Phật chúng Tăng để báo ơn sâu nuôi dưỡng của cả song thân. Tất cả đệ tử của Phật phải nên tuân giữ pháp ấy.
Qua lời giáo huấn của Phật, Ngài Mục Kiền Liên và bốn chúng đệ tử vui mừng vâng giữ. Từ đó, lễ Vu Lan đã trở thành một truyền thống báo hiếu của người con Phật.
Ðiều đáng lưu ý là người Phật tử ngày nay qua ba tháng cúng dường cho chư Tăng kiết hạ, và nhất là ngày Tự Tứ chấm dứt mùa Vu Lan, đã kết hợp lòng hiếu đạo đối với cha mẹ và lòng kính ngưỡng đối với chư Tăng như một bổn phận và nghi lễ duy nhất. Lễ vật trong ngày tự tứ được trân trọng dâng lên với tất cả lòng chí thành, thấm nhuần tình cảm được biểu lộ qua những gương mặt ánh mắt hân hoan đầy niềm tin hy vọng. Ðiều đó nói lên sự thành công về truyền thống báo hiếu thật tốt đẹp của người Phật tử từ ngàn xưa và mãi về sau.
Tất nhiên việc báo hiếu của chúng ta không phải chỉ thực hiện trong những ngày tự tứ hay mùa Vu Lan mà là công việc hàng ngày.
Khi cha mẹ còn sống, chúng ta phải săn sóc miếng ăn thức uống, chiếu chăn, quần áo, quạt nồng ấp lạnh, hầu hạ kính vâng. Ngay cả những người đã xuất gia đang tinh tấn trên đường hành đạo mà cha mẹ không thể tự sinh hoạt để sống cũng phải trở về phụng dưỡng. Như trường hợp Tổ Liễu Quán phải về nhà nuôi cha già bằng nghề đốn củi bốn năm, khi thân phụ qua đời mới tiếp tục con đường xuất thế. Trong thời Ðức Phật Ngài cũng dạy đệ tử xuất gia rằng nếu Tỳ kheo mà có cha mẹ già không ai nuôi dưỡng, thì phải khuyên cha mẹ quy y Tam Bảo, còn mình đi khất thực mà nuôi. Ðó là một vạn bất đắc dĩ nhưng nói lên được quan niệm tôn trọng chữ hiếu của Ðức Phật.
Nhưng người Phật tử khác hơn người thường là không hẳn chiều ý của cha mẹ khi việc làm thương tổn đến người và vật. Trái lại phải khuyên cha mẹ làm lành lánh dữ, quy y Tam Bảo, bố thí cúng dường, trì trai giữ giới tu nhơn giải thoát...
Người con hiếu lại phải quan tâm đến đời sống tinh thần của cha mẹ khi về già, tạo điều kiện cho cha mẹ được rãnh rang, sống đời nhẹ nhàng thư thái hướng thượng giải thoát. Ðược như thế không những trong đời hiện tại cha mẹ có hạnh phúc, mà đời sau cũng hưởng được quả lành trái ngọt, sống trong cảnh giới an vui.
Khi cha mẹ quá vãng, người Phật tử ngoài việc thương tiếc phải giúp giác linh cha mẹ thức tĩnh bằng cách cầu nguyện, cúng dường Tam Bảo, bố thí, phóng sanh, làm phước và hồi hướng công đức ấy đến cha mẹ. Nhờ công đức và nguyện lực này tác động mà cha mẹ cũng được vui lây. Con cháu làm việc có ý nghĩa ấy, chính như cha mẹ được làm vậy.
Tóm lại, báo hiếu theo pháp Vu Lan Bồn đầu tiên được Ngài Mục Kiền Liên thực hiện. Ngài thực là một con người tiêu biểu về hiếu hạnh. Việc làm của Ngài rất cảm động, nên đã cảm hóa biết bao Phật tử trong hơn 25 thế kỷ đã qua. Hằng năm đến ngày Tự Tứ không biết bao nhiêu người con Phật trên thế giới long trọng tổ chức lễ Vu Lan theo gương của Ngài, vì họ hiểu được kết quả của việc báo hiếu này: cha mẹ hiện tại hưởng được phước báo, cha mẹ bảy đời thoát khỏi cảnh u buồn.
Chuyện Mục Kiền Liên cứu mẹ không có gì là hoang đường huyền bí, mà là một hiện tượng có thể giải thích được. Chính sức mạnh tinh thần của chư Ðại Ðức Tăng đã kích thích đến tâm hồn người đau khổ, khiến họ chuyển niệm ác thành niệm thiện, chuyển sự mê muội thành sự sáng suốt. Kinh nói: "Tâm có thể tạo nghiệp, mà tâm cũng có thể chuyển nghiệp" thì trước kia tâm mê muội nên bị đọa vào chỗ tối tăm, nay tâm đã thức tĩnh thì thoát ra khỏi lao ngục u đồn.
Pháp Vu Lan Bồn là phương pháp thần diệu cầu nguyện cho vong linh thoát khỏi cảnh khổ tối tăm. Nhưng Phật tử chúng ta phải ý thức rằng không phải chỉ đợi cha mẹ quá vãng, rồi tổ chức một lễ Vu Lan là đủ. Người con hiếu bao giờ cũng muốn gần và cung phụng cha mẹ, thấy cha mẹ được sung sướng. Nên ngoài việc phụng dưỡng vật chất với lòng thương yêu kính trọng còn phải tạo điều kiện cho cha mẹ được thoải mái về tinh thần, sống an lạc trong những ngày già còn lại. Ðược như thế mới khỏi hối hận sau này như Thầy Tử Lộ đã than:
Mộc dục tịnh nhi phong bất đình
Tử dục dưỡng nhi thân bất tại
Nhựt Chiếu
Trang MỤC LỤC
Trang chính