Ý NGHĨA VU LAN 1998
HT. Thích Trí Quảng
Theo Phật giáo, thân con người gồm hai phần: phần vật chất thường gọi là thân tứ đại, và phần linh hồn. Khi chết, thân tứ đại bị tiêu tan, nhưng linh hồn tồn tại. Linh hồn có hai phần: chân linh và vọng thức. Chân linh muôn đời không thay đổi, còn vọng thức thì thay đổi theo từng kiếp sống khác nhau.
Mỗi kiếp sống, những ý tưởng, việc làm của chúng ta được tích tụ lại, bám vào vọng thức, tạo thành nghiệp tập quán. Khi chết, những gì thường làm, thường nghĩ sẽ được nghiệp thức mang theo và dẫn chúng ta đi thọ sanh. Ví dụ lúc sống, chúng ta tu, làm nhiều việc thiện, tâm không sân hận, buồn phiền. Tâm thiện thường nghĩ đến thánh hiền, tiên, Phật, sẽ dẫn dắt thần thức chúng ta về thế giới Phật hay cõi Trời. Cũng vậy, nếu làm việc ác, suy nghĩ việc ác, những thứ ác xấu ấy chất chứa trong thức, thì lúc chết, ác nghiệp ấy sẽ dẫn tâm tưởng họ vào cảnh giới xấu xa. Nghiệp thức chính là kẻ đưa đường, dẫn lối cho chúng ta đến thọ sanh ở các cảnh giới sau khi chết. Và cũng chính nghiệp thức hay vọng thức là kẻ chi phối đời sống hiện tại của chúng ta một cách mãnh liệt.
Thật vậy, theo Phật dạy, chơn tâm chúng ta không hề đau khổ. Chỉ vì vọng thức che lấp chơn tâm và tạo ra ảo giác, thấy sai lầm, nghĩ rằng cái này là ta, là của ta, hoặc chấp chặt cái của mình làm là đúng nên cố bảo vệ, tranh đấu với người. Tất nhiên, phải gánh lấy khổ sở. Ví như ta cho rằng tẩy rửa mụn nhọt thì đau nhức, nên ôm lấy cái đau mà chịu; chẳng hề thấy được việc khỏe khoắn, lành mạnh sau khi tẩy xóa được ung nhọt. Cũng vậy, chơn linh không đau, không khổ, nhưng ảo giác của vọng thức tạo thành đủ thứ đau khổ cho chúng ta.
Ðối với người tu, phần chân linh hay chơn tâm trong sạch hoàn toàn, vĩnh hằng bất tử, không phiền não nhiễm ô mới quan trọng. Vì vậy, bằng phương pháp tu là phương tiện của Phật dạy, chúng ta quét sạch vọng thức, tìm về chơn tâm. Khi chơn tâm hiển lộ và ta sống được với nó, thì điều động được con người thực của mình. Làm chủ được con người thực hay chân thân thì lúc sanh tiền muốn làm gì hoặc sau khi chết muốn đi thọ sanh cõi nào cũng đều hoàn toàn tự tại.
Ðó là cuộc sống giải thoát của đệ tử Phật, chúng hiền thánh. Thực tế chúng ta thấy các Ngài sống rất thanh thản, chẳng bận tâm, nhọc sức, nhưng mọi việc đều thành công tốt đẹp, được người thương kính, quí trọng. Có thể nói việc làm thánh thiện của các Ngài đều lưu xuất từ chơn tâm, khác với việc làm bằng tham vọng do nghiệp thức dẫn dắt. Vì tham vọng làm mờ mắt, không thấy vị trí của mình, không thấy việc đáng làm, lao vào những việc chẳng nên làm, mà chuốc lấy thất bại, khổ đau. Sống khổ thì chết đọa, tất cả đều do nghiệp thức hành hạ.
Ðức Phật dạy trong kinh Vu Lan, muốn mang an lạc cho người thân thiện tiền hoặc cứu khổ người đã quá vãng, chúng ta phải nhờ những vị tu hành sống với chơn tâm. Bằng hình thức cúng dường, chúng ta thỉnh các bậc đắc đạo, La hán, Bồ tát có đời sống thanh thản, tự tại để linh hồn người quá cố nhìn thấy tâm an nhiên tự tại của các Ngài. Từ đó, họ cảm nhận được các vị chân tu đắc đạo sống rất thanh đạm, không quan tâm đến ăn mặc mà vẫn tràn đầy hỷ lạc, người đời không ai hạnh phúc bằng các Ngài. Hình ảnh và cuộc sống thánh thiện ấy có tác dụng cảnh giác những linh hồn đang bị đọa được bừng tỉnh, ảo giác bị tiêu tan, họ cũng trở về được với chơn linh, tái sanh lại cảnh giới an lành, Nếu chúng ta không nhận ra yếu nghĩa Phật dạy, chỉ chú trọng đến phần cúng kiến, nhưng thiếu những vị chân tu đức hạnh có khả năng cảnh giác được vong linh thì cũng khó độ thoát được cho họ.
Ðể dạy chúng ta báo hiếu, Ðức Phật chọn mùa Vu Lan là mùa chư Tăng an cư kiết hạ, đắc đạo, đắc pháp, an lạc giải thoát, và cũng là mùa oan hồn uổng tử đau khổ. Ðưa ra hai cuộc sống hoàn toàn tương phản, tạo điều kiện giới thiệu chúng hiền thánh để chúng ta cũng như vong linh tự thay đổi suy nghĩ mà đi theo con đường của hiển thánh dược thoát khổ.
Ðiều này dễ hiểu, như lúc Phật tại thế, hàng trí thức, giàu có, hoặc những người có tâm hướng thượng chỉ nhìn thấy Ngài liền được giải thoát. Vì Ðức Phật có đủ thứ tiện nghi trên đời mà Ngài còn vứt bỏ, huống gì những cái tầm thường mà ta lại nắm giữ. Ngài là tấm gương sáng cho người phát tâm tu theo. Như vậy, điều chính yếu là phải có con người kiểu mẫu, mô phạm, mới đủ khả năng cứu độ vong linh. Còn người tu nhiều ham muốn, tệ ác mà chúng ta cúng dường chẳng những không tác động tốt cho vong linh, lại còn khiến họ khởi lên lòng tham, sân hận, thì lại đọa thêm. Trong lịch sử cũng từng ghi câu chuyện bà Thanh Ðề vì nhìn thấy các sư tham lam, xấu ác mà bà tức giận, phiền não đến mức phá hại các vị tu hành khác. Vọng thức tà vạy này đã lôi kéo thần thức của bà thác sanh vào cảnh giới ngạ quỷ.
Từ đó, Ðức Phật giới thiệu trong kinh Vu Lan mẫu người tiêu biểu có tư cách độ thoát vong linh hoặc làm phước điền cho hàng thiện tín là: "...Hoặc người đặng bốn tòa đạo quả, công tu hành nguyện thoả vô sanh. Hoặc người thọ hạ kinh hành, chẳng ham quyền quí ẩn danh lâm tòng. Hoặc người đặng lục thông tấn phát, và những hàng Duyên giác, Thanh văn. Hoặc chư Bồ tát mười phương, hiện hình làm sãi ở gần chúng sanh..."
Ý thức lời Phật dạy như vậy, đến mùa Vu-Lan, Tăng Ni chúng ta nên tổ chức lễ cầu siêu, cúng dường theo mô hình thể hiện được tư cách đạo đức, mô phạm của bậc chân tu. Hàng Phật tử đến cúng dường cầu nguyện nhìn thấy hình ảnh giải thoát thánh thiện ấy mà xa lià tâm chấp trước, phiền não nhiễm ô, họ mới phát tâm theo chánh pháp, đạt được cuộc sống phước báo, an vui.
Ðối với hương linh người quá vãng, thì nhờ lực cầu nguyện của các bậc chân tu, đức hạnh mới quan hệ được với chư Phật,Bồ tát, Thánh tăng. Cả hai lực siêu nhiên của thế giới hữu hình và vô hình cùng kết hợp lại sẽ cảnh tỉnh được thần thức người chết, trợ giúp cho họ thoát khỏi ảo giác, khổ não, tái sanh vào thế giới an lành, tốt đẹp. Cầu nguyện cho Tăng Ni Phật tử hiện tiền cũng như những người đã quá vãng đều tìm thấy thế giới chân thật vĩnh hằng và cùng tiến về Tịnh độ trong khắp mười phương.
HT. Thích Trí Quảng
Trang MỤC LỤC
Trang chính