NHỮNG ƯỚC NGUYỆN TÁI SINH KỲ LẠ
Thẩm Thệ Hà
* Lục đạo luân hồi:
Phật giáo quan niệm con người bị chi phối bởi định luật nhân quả, nghiệp báo, luân hồi. Khi con người gieo nhân lành hay nhân ác thì đã tạo nên nghiệp lành hay nghiệp ác.
Nghiệp lực sẽ dẫn dắt con người vào sáu nẻo luân hồi để gặt lấy cái quả tốt hay xấu do hành động mình tạo tác.
Lục đạo luân hồi là sáu con đường mà con nguời tái sinh vào theo nghiệp lực: Trời, người, A tu la, ngạ quỷ, cầm thú, địa ngục. Sáu con đường này gồm có bốn con đường bất hạnh (Apâya) và 2 con đường hữu phúc (Sugati). Bốn con đường bất hạnh là A tu la, ngạ quỉ, cầm thú, địa ngục. Hai con đường hữu phúc là Trời, người. Sáu con đường luân chuyển ấy được kinh điển trình bày như sau:
1.
Ðịa ngục: (Niraya) là cảnh giới đau khổ của những người đã tạo ra nhiều ác nghiệp trong quá khứ. Khác xa với hỏa ngục của Ki Tô giáo là tội nhân phải nghiến răng, rên la khóc lóc thảm thiết trong hầm lửa khổng lồ, phải chịu khổ cảnh đời đời vĩnh viễn; địa ngục, theo Phật giáo, không giam hãm vĩnh viễn kẻ bất hạnh. Khi đã trả xong nghiệp ác, tội nhân có thể tái sinh vào một cảnh giới khác tốt lành nhờ phần thiện nghiệp đã tạo ra trong tiền kiếp. Ðó là luật công bằng cho mọi chúng sanh, không phải chịu áp đặt trong một hình phạt khắc nghiệt, tàn nhẫn, vô nhân đạo của một vị thần toàn năng phán xét và trừng phạt mà không dành cho tội nhân một lối thoát nào.2.
Cầm thú: (Tirachâna) là cảnh giới của loài chim và thú vật. Chính ác nghiệp đến mức độ nào thích ứng với sắc tướng cầm thú thì nghiệp lực sẽ hướng dẫn tái sinh vào hình thức đó. Khi đã trả xong nghiệp xấu, tội nhân có thể tái sinh vào hình thức người. Theo Thông thiên học, lý nghiệp báo, luân hồi thật xác đáng, song quan niệm của họ có đại đồng và tiểu dị: họ cho rằng về hình thức, người chết sẽ tái sinh theo chiều ngang hoặc chiều lên chớ không tái sinh theo chiều xuống, nghĩa là con ngưới sẽ tái sinh trở lại làm người (chiều ngang) hoặc tiến lên cõi trời, các cõi tịnh độ (chiều lên) chớ không tái sinh vào loài cầm thú (chiều xuống). Âu đó cũng là một niềm tin chủ quan, niềm tin hướng thượng, không có hại gì đến đạo đức nhân bản.3.
Ngạ quỉ: (Peta) là cảnh giới bất hạnh của loài quỉ có hình thù xấu xa, dị tướng thường sống trong rừng bụi hoặc những nơi dơ bẩn. Ngạ quỉ không phải là loài ác quỉ hại người mà là loài khổ quỉ, phải chịu đựng khổ sở từ thân xác đến đời sống để trả nợ ác tiền kiếp. Theo tác phẩm "Milinda vấn đáp" có 4 hạng ngạ quỉ:- Hạng sống bằng vật ói mửi của kẻ khác.
- Hạng luôn luôn chịu đói khát.
- Hạng phải chịu khát đến hao mòn tiều tụy.
- Hạng chỉ sống nhờ vật thực của người khác cho.
Thời Phật còn tại thế, Tôn giả Mục Kiền Liên vâng lời Phật dạy, tổ chức lễ Vu Lan Bồn hồi hướng công đức cho mẹ, nhờ vậy mà mẹ Ngài mới thoát khỏi đọa ngạ quỉ, tái sinh vào cảnh giới khác an lành, hạnh phúc.
4.
A tu la (Asura) là cảnh giới bất hạnh của những kẻ không bao giờ biết vui vẻ, lạc thú là gì. Khác với ngạ quỷ là họ không dị hình dị tướng, nhưng đời sống thật tối tăm cùng cực, tâm hồn bị dày vò khổ sở vì ác nghiệp đã tạo ra. Nhưng khi đã gặt tròn quả xấu, họ cũng có thể tái sinh vào một cảnh giới khác.5.
Người (Manussa) là cảnh giới của loài người, cảnh giới của lạc thú và khổ đau, của hạnh phúc và bất hạnh. Hạnh phúc nếu biết tu tâm dưỡng tánh để trở thành bậc thánh thiện, thoát khỏi tam độc tham sân si, sống an nhiên tự tại giữa muôn vàn cám dỗ. Bất hạnh vì phải chịu cảnh sinh, lão, bệnh, tử bị chìm đắm trong bể ái, phù hoa. Ðó là cảnh giới thuận lợi nhất để tiến lên các cõi trên: cõi trời, Tịnh độ, Niết bàn. Nếu có thiện chí và thuận duyên, con người có thể đắc quả A la hán, Bồ tát, Phật và thoát vòng sinh tử. Bằng ngược lại, con người phải bị cuốn hút vào vòng nghiệp báo, luân hồi, dầu muốn hay không cũng bị chi phối bởi luật nhân quả thực tiễn và siêu hình, nhân quả ở kiếp này và kiếp sau.6.
Trời (Diva) - Cõi trời chia làm 3 loại: Dục giới (Kâmaloka), Sắc giới (Rupaloka)Vô sắc giới (Arupaloka). Ba cõi trời được phân ra như sau:a. Trời Dục giới gồm cảnh giới:
- Trời Tứ Thiên (Tứ thiên vương)
- Trời Ðao Lợi (Ðế Thích)
- Trời Dạ Ma
- Trời Ðâu Suất (Di Lạc)
- Trời Hoá Lạc
- Trời Tha Hóa Tự Tại
b. Trời Sắc giới gồm cảnh giới:
- Sơ thiền
- Nhị thiền
- Tam thiền
- Tứ thiền
c. Trời Vô Sắc giới gồm 4 cảnh giới:
- Không vô biên xứ
- Thức vô biên xứ
- Vô sở hữu xứ
- Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Muốn được tái sinh vào cõi trời Dục giới, phải có hạnh nghiệp thuần thiện, phải tu hành Thập thiện viên mãm. Muốn được tái sinh vào cõi trời Sắc giới, phải hạ thủ công phu thiền định. Cứ như thế nếu nỗ lực tiến tu lần lần sẽ được vượt lên cõi trên cho đến khi đạt thành Phật quả. Những người được vào cõi trời mà chỉ lo hưởng lạc, khi hưởng hết phước đức rồi lại phải tái sinh theo chiều xuống, trở lại làm người. Ðó cũng là lý nhân quả công bằng cho tất cả chúng sinh
* Những ước nguyện tái sinh kỳ lạ
Quan niệm "lục đạo luân hồi" của Phật giáo rõ ràng như thế, song trên thế gian này, nhiều người có những ước nguyện tái sinh thật kỳ lạ. Bình dân ta có câu ca dao:
Kiếp sau sinh chớ làm người
Làm chim chắp cánh giữa trời mà bay.
Có lẽ vì cuộc đời quá nhiều ngang trái, con người phải luôn luôn tranh đấu để sinh tồn, lắm kẻ phải khổ lụỵ vì tình, bao người phải lao đao lận đận vì sinh kế. Ôi! làm người sao mà khổ quá! Rồi nhìn lên trời những chiều quang đãng, họ trông thấy những đàn chim cất cánh bay nhởn nhơ, thật tự do, thật sung sướng. Rồi trong một phút chạnh lòng nào đó, họ ước nguyện kiếp sau được làm chim để có thể tự do bay bổng như chim. Họ cho rằng làm chim sung sướng hơn làm người. Họ có biết đâu cảnh chim bay trên bầu trời thật đẹp, thật thơ mộng, nhưng đã sinh vào giới bất hạnh cầm thú, loài chim không phải lúc nào cũng tự do nhàn nhã, chúng cũng phải tranh đấu để sinh tồn, phải chịu đựng sự khắc nghiệt của thiên nhiên, phải luôn luôn cảnh giác để bảo vệ mình trước những loài chim mạnh hơn xem mình như món mồi béo bở. Ước nguyện ấy chỉ là sự mơ mộng, muốn trốn tránh thực tế, trốn tránh trách nhiệm làm người. Thi hào Nguyễn Công Trứ có ước nguyện kỳ lạ hơn qua lời thơ tâm sự:
Ngồi buồn mà trách ông xanh,
Khi vui muốn khóc, buồn tanh lại cười.
Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.
Ước nguyện làm chim còn có hướng đi vào "Lục đạo luân hồi", ước nguyện làm cây thì lạc hướng rồi, không có đường nào nghiệp lực hướng dẫn để tái sinh. Nguyễn Công Trứ là một danh tướng cũng là một thi nhân. Danh tướng Nguyễn Công Trứ đã từng lập bao chiến công hiển hách nơi chiến trường; nhưng trên chính trường có lần ông bị thất bại, bị hạ xuống thành tên lính thường phục vụ cấp dưới của mình ngày xưa trong quân ngũ. Chán nản trước cảnh thịnh suy, thành bại, trước tình đời đổi trắng thay đen, ông rút về ẩn dật, vui thú điền viên, ngày ngày cỡi bò vàng đeo nhạc ngựa tiêu dao khắp hàn cốc thâm sơn với túi thơ bầu rượu: "Ngoài vòng cương tỏa chân cao thấp, Trong thú yên hà mặt tỉnh say".
Trong hoàn cảnh ấy, đứng trước thiên nhiên, thi sĩ cảm thấy cây thông kia thật là hùng vĩ, thật là tự do, không lệ thuộc vào ai, không gì kiềm chế được, mặc sức reo vang trước gió, thật an toàn tự tại biết bao! Giờ đây cảm hứng của ông không phải là cảm hứng "bừng bừng khí phách " của một danh tướng, mà là cảm hứng "dồi dào mơ mộng " của một thi nhân. Là người thông thái Nho, Phật, Lão, ông biết ước nguyện ấy chẳng thể nào thành, nhưng tình cảm ông vẫn gắn liền với cây thông. Hình ảnh cây thông là hình ảnh biểu trưng đầy ấn tượng của một chiến sỹ cô đơn, một anh hùng mạt lộ, và ông phổ tiếng lòng cảm khái qua ước nguyện "kiếp sau"
Ðời nhà Ðường của nước Trung Quốc thời phong kiến, Ðường Minh Hoàng yêu tha thiết Dương Quý Phi. Có lần ngồi cạnh người yêu trên lầu Thanh Hoa, ngắm cảnh ngự uyển xanh tươi và đôi chim tung bay trên bầu trời quang đãng, nhà vua cầm tay nàng tỏ lời nguyện ước:
Tại thiên nguyện tác ti dực điểu,
Tại địa nguyện vi liên lý chi.
(Trên trời nguyện làm chim liền cánh,
Dưới đất nguyện làm cây liền cành).
Về sau, thi hào Bạch Cư Dị diễn tả mối tình diễm lệ và ước nguyện kỳ lạ ấy trong thi phẩm "Trường hận ca" vang danh đến nay trong văn học sử Trung Quốc.
Vua Ðường Minh Hoàng đã kết hợp hai ước nguyện cùng một lúc, vừa ước nguyện làm chim, vừa ước nguyện làm cây. Ước nguyện cho mình, đồng thời ước nguyện cho người yêu. Thấy đôi chim chắp cánh tung bay thật tình tứ, nhà vua ước nguyện kiếp sau cùng người yêu tái sinh thành đôi chim liền cánh. Thấy hai cành cây quấn quýt bên nhau thật âu yếm, nhà vua ước nguyện kiếp sau tái sinh thành đôi cây liền cành. Niềm ước nguyện thật chung thủy, thật lãng mạn, thật trữ tình. Niềm ước nguyện để tỏ tình chứ không phải để thực hiện. Cảnh và tình hòa hợp. Không có cảnh chắc cũng không có tình cảm viễn vông như thế. Hai ước nguyện đều kì lạ, hai ước nguyện thể hiện cùng một lúc lại càng kỳ lạ hơn.
Trở lại văn học Việt Nam. Ngày xuân đi tạo mộ, đứng trước mộ của thân phụ, Ngân Giang nữ sĩ ngậm ngùi cảm xúc:
Thưở nhỏ chưa đền ơn chín chữ,
Bây giờ khôn trả được nguồn ân.
Cha ơi, tiên cảnh chờ con nhé,
Khi áo tài hoa rũ bụi trần.
Nguyện ước siêu thăng tiên giới tuy thoát ngoài vòng lục đạo luân hồi, xong lại là nguyện ước phổ biến ở phương Tây cũng như phương Ðông. Ở phương Tây, trẻ thơ ảnh hưởng bởi những chuỵện cổ tích thần tiên, người lớn bị tiêm nhiễm bởi thuyết Thiên đàng của Ki Tô giáo, nên tâm hồn họ lúc nào cũng mơ tưởng đến cảnh giới siêu nhiên hạnh phúc. Ở phương Ðông, từ trí thức đến bình dân đều chịu ảnh hưởng bởi thuyết Tam giáo đồng nguyên, nên họ hòa đồng cõi trời của Phật giáo với cõi tiên của Lão giáo. Thậm chí ở Trung Hoa thời thịnh Ðường, đại thi hào Lý Bạch tự cho mình là bậc trích tiên (một vị tiên bị đày xuống hạ giới) và cõi trần chỉ là đất trích. Bao nhiêu tác phẩm văn học thần thoại như Phong thần, Phong kiếm Xuân thu, Tây du ký... mô tả cảnh tiên như là một cảnh có thật của các vị địa tiên và thiên tiên. Người trần gian mong siêu thoát lên cõi tiên cũng là điều dễ hiểu, họ đâu biết rằng, trên quan điểm khoa học, thiên đàng và tiên cảnh cũng đều là huyền thoại mà thôi.
Con người vốn có trí tuệ để phán đoán và óc tưởng tượng rất phong phú. Tùy tâm trạng và hoàn cảnh, con người phóng tầm tưởng tượng đi thật xa, theo cảm xúc chủ quan, vượt ra ngoài mọi nguyên lý khoa học, triết học, tôn giáo. Ðiều này kinh điển Phật giáo đã xác định: "Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức" Tất cả đều do tâm, thức tạo ra. Lục đạo luân hồi cũng nằm trong lẽ ấy. Lý nhân quả, nghiệp báo, luân hồi cũng nằm trong lẽ ấy. Lý nhân quả, nghiệp báo, luân hồi, trừ những tôn giáo chủ trương cứu rỗi (như Ki-tô giáo, Do thái giáo, Hồi giáo) đều được các tôn giáo khác từ thời cổ đại và được nhiều triết gia, bác học, văn hào trên thế giới công nhận là xác đáng như: Platon, Pythagore, Hume, Herodote, Schopenhauer, Dante, Emerson, Lesling, Shelley, Ovide, Einstein v.v...Còn luân hồi như thế nào, theo đường nào tùy theo sự phán đoán của trí tuệ con người. Chính Ðức Phật đã từng khuyên: Ðừng vội tin điều gì mà ta chưa suy đoán chín chắn, dựa trên lý trí và kinh nghiệm. Khi thuyết pháp Ðức Phật thường đưa ra nhiều sự kiện biểu tượng, nhiều hình ảnh ẩn dụ đòi hỏi Phật tử phải hiểu rõ cả sự lẫn lý. Lục đạo luân hồi cũng trong trường hợp đó. Vì vậy, Niết bàn, Cực lạc, lục đạo luân hồi tùy sự phán đoán của trí tuệ con người, có thể hiện hữu ở ngay thế gian này, cũng có thể hiện hữu ở những cảnh giới khác (trừ cõi người) mà mắt phàm phu không trông thấy được và khoa học chưa chứng minh được. Ðức Phật chỉ đưa ra những sự kiện đó, hình ảnh đó làm phương tiện để chỉ dẫn con người tiến tu để giải thoát, như hình ảnh ẩn dụ "ngón tay chỉ mặt trăng" (giáo pháp chỉ là phương tiện, mặt trăng mới là chân lý cứu cánh). Con đường ấy có thể tóm tắt trong 4 câu kệ:
"Không làm các điều ác,
Thành tựu mọi việc lành. Thanh tịnh tâm ý mình,
Là đạo lý chư Phật" .
(Kinh Pháp Cú)
Tài liệu tham khảo:
- Tìm đạo của HT.TS Thích Thiện Châu.
- Ðức Phật và Phật pháp của Nàrada Thera (Phạm kim Khánh dịch)
- Tìm hiểu Phật giáo của Maha Thongkham Medhivongs.
Thẩm Thệ Hà
Trang MỤC LỤC
Trang chính