NHÂN MÙA BÁO HIẾU, TỤNG KINH PHÁP HOA, NHỚ ÐẾN THIÊN TÀI DỊCH THUẬT: CƯU MA LA THẬP
Ðào Nguyên
Kinh Pháp Hoa là một trong số các bộ kinh tiêu biểu nhất của Phật giáo Bắc truyền. Trong Hán tạng, kinh này được phổ biến và truyền bá rộng khắp là từ bản dịch của Tam Tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập (344-413).
Ðối với giới Phật học Việt Nam, cũng như Phật tử quần chúng Phật tử, mọi công việc đọc tụng, học hỏi, nghiên cứu, dịch thuật về kinh Pháp Hoa theo Hán tạng, cũng đều dựa theo bản dịch của ngài Cưu Ma La Thập và hầu như chỉ biết có mỗi bản dịch ấy.
Nhân mùa Vu Lan báo hiếu, chúng tôi xin bàn qua một số nét đáng chú ý của bản dịch trên và giới thiệu sơ lược về cuộc đời cùng sự nghiệp dịch thuật của ngài Cưu Ma La Thập, cũng là dịp để chúng ta cùng tưởng nhớ tới các bậc tiền bối đã có những đóng góp lớn lao cho quá trình hoằng dương chánh pháp.
1. Một số đặc điểm của bản Hán dịch:
1. Từ Hải, mục Cưu Ma La Thập cho biết, thời Hậu Tần, Pháp sư Cưu Ma La Thập bắt đầu đi vào đất Quan Trung, được vua Diêu Hưng tiếp đãi theo lễ của bậc Quốc Sư và công việc dịch thuật kinh điển bước đầu thực hiện một cách thuận lợi. (Từ Hải, tập Hạ, Tối tân tăng đính bản, Ðài Loan Trung Hoa Thư cục ấn hành, 1994, tr 5005B). Sau đấy, ở phần phụ lục, mục Trung Ngoại Lịch Ðại Ðại Sư Niên Biểu, Từ Hải còn ghi rõ: vào năm 405, âm lịch và năm Ất Tỵ, niên hiệu Nghĩa Hy thứ nhất, vua Hậu Tần dùng Cưu Ma La Thập làm Quốc sư. (Từ Hải, Tập Hạ, sđd, tr 64A). Như thế thì sự nghiệp dịch tuật kinh luận Phật giáo của ngài La Thập được thực hiện từ đầu thế kỷ thứ 5 đến năm 413 là năm Ngài qua đời.
Vậy xét về thời gian, kinh Pháp Hoa do ngài La Thập dịch được hình thành vào đầu thế kỷ thứ 5, là bản dịch thứ hai, sau bản dịch của ngài Trúc Pháp Hộ (226-304), bản dịch này mang tên là Chánh Pháp Hoa Kinh, gồm 10 quyển, 27 phẩm (Ðại Tạng Kinh Ðại chính tân tu: ÐTK/ ÐCTT, tập 9, No 263, tr 63A-134B), được dịch vào khoảng năm 286 TL, niên hiệu Thái Khang năm thứ 7 đời Tây Tấn. (Từ Hải, mục đã dẫn, tr 62A). Sau bản dịch của ngài La Thập, còn có bản dịch của hai ngài Sà Na Quật Ða và Cấp Ða, được thực hiện vào đời Tùy, cuối thế kỷ thứ 6, mang tên là Thiêm Phẩm Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, gồm 7 quyển, 27 phẩm. (ÐTK/ÐCTT, tập 9, No 262, tr 1C-62A), trong ấy có phẩm Ðề Bà Ðạt Ða đứng riêng (phẩm 12), phẩm cuối cùng là phẩm 28: Phổ Hiền Bồ Tát Khuyến Phát.
- So với bản dịch của ngài Trúc Pháp Hộ: không tách riêng phẩm Ðề Bà Ðạt Ða thành phẩm 12, phẩm Chúc Lụy ở vào cuối kinh. Bản dịch của hai ngài Quật Ða và Cấp Ða cũng không tách riêng phẩm Ðề Bà Ðạt Ða thành phẩm 12, phẩm Chúc Lụy cũng đưa xuống cuối kinh, (phẩm 27), và đáng chú ý là bản dịch này đã sử dụng lại hoàn toàn các tên phẩm nơi bản dịch của ngài La Thập.
- Việc tách phần nói về Ðề Bà Ðạt Ða thành một phẩm riêng không phải là không có lý do chính đáng. Ngay nơi kinh "Tát Ðàm Phân Ðà Lợi" (ÐTK/ÐCTT, tập 9, No 265, mất tên người dịch, phục vào dịch phẩm đời Tây Tấn), số lượng chỉ hơn một trang ÐTK, là một đoạn rất ngắn của kinh Pháp Hoa, cũng đã nói tới phẩm Ðề Bà Ðạt Ða. Còn đây là ý kiến của một tu sĩ - học giả Nhật Bản, HT Nikkyo Niwano: " ... Trong phẩm này - phẩm Ðề Bà Ðạt Ða - sự lớn lao và toàn hảo của giáo lý Ðức Phật được biểu lộ rõ ràng qua giáo lý về sự đạt được Phật vị của những kẻ xấu và của phụ nữ ..." (Ðạo Phật Ngày Nay, một diễn dịch mới về 3 bộ kinh Pháp Hoa, Trần Tuấn Mẫn dịch, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam xuất bản 1997, tr 320).
- Một số nhà nghiên cứu, chú giải về kinh Pháp Hoa đã có ý kiến về vị trí của phẩm Chúc Lụy nơi bản dịch của ngài La Thập: không ở cuối kinh như phần đông một số kinh khác, mà lại ở phẩm ở thứ 22, sau đấy còn có 6 phẩm nữa thì mới kết thúc kinh. Tuy nhiên, một số học giả vẫn phát hiện ra cái logic của phẩm 22 này: "Chúng ta đã hoàn tất cấp độ thứ nhất của Phật pháp trong kinh Pháp Hoa bằng phẩm 22, phẩm Chúc Lụy (Sự giao phó, ủy thác cuối cùng). Với phẩm 22, quả thực chúng ta đã có thể hiểu được những ý tưởng cơ bản nơi các giáo lý của Ðức Phật để khẳng định niềm tin của chúng ta vào các giáo lý ấy và để có quyết định thực hành ... Nhưng khi ta thực hành thực sự thì ta cần xác nhận thái độ thực sự thì ta cần xác nhận thái độ của ta một lần nữa ... Tóm lại, ta cần một cái gì đó được dùng như một sức đẩy hiệu quả cho việc thực hành của ta ... (Nikkyo Niwano, sđd, tr 691-192). (*)
3. Ở Trung Hoa, toàn bộ các sách làm công việc chú giải, bàn luận, quảng diễn, phát hiện về diệu nghĩa của kinh Pháp Hoa do các bậc đại sư xuất chúng của Phật giáo Trung Quốc viết, thảy đều dựa trên bản dịch của ngài Cưu Ma La Thập, điều ấy đã quá đủ để chứng tỏ giá trị của lối dịch thượng thặng nơi "vị vua của giới phiên dịch" - chữ của Lương Khải Siêu - ấy. Xin giới thiệu một số cuốn nổi itếng:
- Pháp Hoa Kinh nghĩa ký, 8 quyền, của Pháp Văn, đời Lương, (ÐTK/ÐCTT, tập 33, tr 572-681, No 1715)
- Diệu Pháp Liên Hoa kinh huyền nghĩa, 20 quyển, của Trí Khải, đời Tùy (ÐTK/ÐCTT, tập 33, tr 681-815, No 1716).
- Pháp Hoa huyền nghĩa thích thiêm, 20 quyển, của Trạm Nhiên, đời Ðường (ÐTK/ÐCTT, tập 33, No 1717, tr 815-975)
- Diệu Pháp Liên Hoa kinh văn cú, 20 quyển, của Trí Khải, đời Tùy (ÐTK/ÐCTT, tập 34, No 1718, tr 1-151).
- Pháp Hoa văn cú ký, 30 quyển, của Trạm Nhiên, đời Ðường (ÐTK/ÐCTT, tập 34, No 1719, tr 151-361)
_ Pháp Hoa huyền luận, 10 quyển, của Cát Tạng, đời Tùy (ÐTK/ÐCTT, tập 34, No 1721, tr 361-451)
- Pháp Hoa nghĩa sớ, 12 quyển, của Cát Tạng, đời Tùy (ÐTK/ÐCTT, tập 34, No 1721, tr 451-633)
- Diệu Pháp Liên Hoa kinh huyền tán, 20 quyển, của Khuy Cơ, đời Ðường (ÐTK/ÐCTT, tập 34, No 1723, tr 651-854) ...
Ðó là chưa kể một số sách cú giải, bàn luận về kinh Pháp Hoa, không rõ tác giả, mà ÐTK/ÐCTT sắp vào tập cuối cùng là Cột Dật Bộ (ÐTK/ÐCTT, tập 85, các ký hiệu từ 2748-2752.)
Ở Việt Nam, từ khi bản dịch kinh Pháp Hoa đầu tiên của HT. Trí Tịnh ra đời, cho tới các bản dịch gần đây, tất cả đều dựa theo bản Hán dịch của ngài Cưu Ma La Thập (**). Hiện nay bản Việt dịch kinh Pháp Hoa có phần dẫn nhập, chú giải đầy đủ, tham khảo, đối chiếu một cách kỹ lưỡng, cẩn trọng là bản dịch của HT. Trí Quang (bản in 1994 gồm 2 tập).
4. Ðể làm sáng tỏ thêm giá trị của bản dịch ngài Cưu Ma La Thập, chúng tôi xin đối chiếu sơ lưọc về phẩm "Quan Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn phẩm" vốn là quen thuộc đối với người Phật tử.
a. Bản I (của ngài Trúc Pháp Hộ):
- Nơi bản dịch này, phẩm vừa nêu là phẩm 23, mang tên: Quan Thế Âm Phổ Môn phẩm (ÐTK/ÐCTT, tập 9, tr 128C-129C), nội dung cũng như bản của ngài La Thập, nhưng văn từ sơ lược hơn, tất nhiên là không lưu loát bằng và âm điệu cũng kém xa, lại không có bài kệ.
- Ðoạn Bồ Tát (BT) Vô Tận Ý cúng dường Bồ Tát Quan Thế Âm xâu chuỗi báu Anh Lạc, sự việc chỉ diễn ra giữa hai vị Bồ Tát, không có việc BT Vô Tận Ý hỏi ý kiến Ðức Phật, và khi BT Quan Thế Âm không nhận vật cúng dường ấy thì Ðức Phật lên tiếng ... như trong bản dịch của ngài La Thập.
b. Bản 2 (của ngài La Thập): - Phẩm ấy ở vị trí thứ 25, mang tên: "Quan Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn phẩm" (ÐTK/ÐCTT, tập 9, tr 56C-58C) với nội dung mà hầu hết chúng ta đều biết: mở đầu bằng câu hỏi của Bồ Tát Vô Tận Ý, hỏi Ðức Thế Tôn: Vì sao BT Quan Thế Âm được mang danh hiệu như vậy? Ðức Thế tôn trả lời, BT Vô Tận Ý hỏi tiếp về sự du hóa của BT Quan Thế Âm ở thế giới Ta Bà, cũng như cách thức thuyết pháp độ sinh của BT; sau khi nghe Ðức Thế Tôn trả lời phần này, thì BT Vô Tận Ý đã xin cúng dường BT Quan Thế Âm xâu chuỗi quý giá ...
- Ðiều đáng chú ý ở đây là câu văn trường hàng cũng như bài kệ (gồm 104 câu, mỗi câu năm chữ), ngôn từ, hình ảnh, âm điệu ... đã được chú trọng một cách tối đa, nhất là ở bài kệ. Nhìn ở góc độ văn học, bài kệ nơi phẩm này là một kết hợp hài hòa giữa thi ca, âm nhạc, hội họa và triết lý. Xin cùng đọc một đoạn:
" ... Chân quán, thanh tịnh quán
Bi quán cập từ quan
Thường nguyện thường chiêm ngưỡng.
Vô cấu thanh tịnh quang
Huệ nhật phá chư ám
Năng phục tai phong hỏa
Phổ minh chiếu thế gian.
Bi thể giới lôi chấn
Từ ý diệu đại vân
Chú cam lồ pháp vũ
Diệt trừ phiền não diệm ...
Diệu Âm, quan Thế Âm
Phạn âm, hải triều âm
Thị cố tu thường niệm ..."
(ÐTK/ÐCTT, tập 9, tr 58A).
Nhìn đúng sự thật
Nhìn thật trong suốt
Nhìn với tuệ giác
Vô cùng vĩ đại
Nhìn bằng đại bi
Nhìn theo đại từ
Nên hãy thường xuyên
Nguyện cầu, chiêm ngưỡng
Là thể trong suốt
Sáng không tỳ vết
Là vầng tuệ nhật
Phá tan hắc ám
Là lửa rực sáng
Xua tan tai nạn
Ngài trải bào quang
Khắp cả trần gian.
Bản thể đại bi
Như sấm thức tình
Ý thức đại từ
Như mây dồn lớn
Ðại sĩ mưa xuống
Nước pháp cam lồ
Rưới tắt lửa dữ
Của bao phiền não ...
Tiếng cực tinh tế
Tiếng nhìn vào đời
Tiếng giống Phạm Thiên
Tiếng như hải triều
Tiếng hơn tất cả
Cung bậc trong đời
Nên hãy thường uyên
Chuyên tâm trì niệm ..."
(HT. Trí Quang dịch, kinh Pháp Hoa, tập 2, bản in 1994, tr 918-919)
c. Bản 3 (của ngài Quật Ða và Cấp Ða):
- Nơi bản dịch được hình thành vào đời Tùy này, phẩm trên ở vào vị trí thứ 24, mang tên y như bản của ngài La Thập: Quan Thế Âm Bồ Tát, Phổ Môn phẩm; cả văn trường hàng và bài kệ đều giống y với bản của ngài Cưu Ma La Thập (ÐTK/ÐCTT, tập 9, tr 191B-193B). Một chi tiết nhỏ cần ghi nhận: Ðoạn cuối, trước bài kệ, sau khi BT Quan Thế Âm nhận xâu chuỗi báu của BT Vô Tận Ý, chia làm 2 phần để cúng dường Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni và tháp của Phật Ða Bảo, thì có BT Trang Nghiêm Tràng cuất hiện, hỏi BT Vô Tận Ý, sau đó thì mới tới việc BT nói kệ hỏi Ðức Thế Tôn (ÐTK/ÐCTT, tập 9, tr 192B-C, tuy nhiên, cả 3 tạng Tống, Nguyên, Minh đều không có đoạn kinh ngắn này).
- Theo bài tựa của bản dịch trên (ÐTK/ÐCTT, tập 9, tr 134C) thì phẩm Phổ Môn, theo bản dịch của ngài La Thập, không có bài kệ 104 câu ấy, bài kệ này là do "tiên hiền tục xuất, bổ khuyết lưu hành ..." (nguyên văn của lời tựa).
Ghi nhận vừa kể vì quá vắn tắt, sơ lược nên chưa đủ sức thuyết phục. Chẳng hạn các bậc tiên hiền nào đã tục xuất, tục xuất từ đâu, lý do v.v.. Bản dịch ở đời Tùy, đã chép lại theo sự tục xxuất kia, nhưng cả phần văn trường hành thì cũng chép lại hầu như nguyên văn bản của ngài La Thập. Nhìn theo khía cạnh văn bản, bài kệ là một nỗ lực nhằm thâu tóm một cách gọn ghẽ, đầy hình tượng những điều đã được thuyết minh nơi phần văn xuôi kia, mà văn phong của văn trường hàng và văn kệ là một người. Lịch sử dịch kinh điển của Phật giáo Trung Quốc, từ khi ngài La Thập mất (413), cho tới cuối thế kỷ thứ 6, có nhiều vị dịch giả nổi danh lắm đâu mà tìm không ra các vị tiên hiền đã làm một công việc hết sức đáng ca ngợi đó? Nói cách khác, nếu văn trường hàng ở phẩm Phổ Môn trên đã là của ngài La Thập, thì bài kệ ấy cũng là của Ngài mà thôi.
Còn đây là ghi nhận của ngài Nikkyo Niwano: còn có thêm mấy câu tiếp theo như sau
"Theo bản kinh bằng chữ Phạn hiện có, phần kệ trên (bài kệ trong phẩm Phổ Môn) còn có thâm mấy câu tiếp theo như sau, sau câu 76, trước 77:
"Nghe Phật dạy như vậy
Bồ Tát Vô Tận Ý
Ðã hết mực hoan hỷ
Nói như thế bằng kệ ..."
(Ðạo Phật Ngày Nay, sđ, tr 757)
Có thể, trong khi dịch, ngài La Thập đã lượt bớt mấy câu này chăng? Một kết luận được rút ra và cần nhấn mạnh, sau khi so sánh phẩm Phổ Môn qua 3 bản dịch:
- Chính ngài Cưu Ma La Thập là người đầu tiên đã dịch, và dịch rất chuẩn tên vị Bồ Tát Avalokitesvara trong tiếng Phạn là Quan Thế Âm Bồ Tát. Chúng ta nên nhớ là trước ngài La Thập, ngài Trúc Pháp Hộ đã dịch là Quang Thế Âm Bồ Tát với hàm nghĩa là vị Bồ Tát luôn có ánh sáng ứng hợp với mọi âm thanh ở thế gian. Sau này, Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng đời Ðường đã dịch là Quan Tự Tại Bồ Tát, mà người Phật tử rất quen thuộc vì luôn được tụng đọc trong kinh Bát Nhã Ba La Mật Ða Tâm kinh nơi nhân cách của mẹ, quá trình học hỏi, tiếp cận kinh điển Phật giáo có phong cách của một thần đồng, học một biết mười. Từ Hải đã tóm tắt sự thông tuệ ấy trong 8 chữ: "Tổng quán quần tịch, diệu giải Ðại Thừa". (Từ Hải, sđđ, tr 5005B, tập Hạ). Tuy nổi danh rất sớm, nhưng ngài La Thập vào đất Trung Hoa hơi chậm, khoảng trên dưới 60 tuổi mới Trung Hoa, được phong Quốc sư, nước Hậu Tần vào năm 405, tức lúc đã 62 tuổi.
Sự nghiệp dịch thuật kinh điển Phật giáo của ngài La Thập, về số lượng, theo mục lục của ÐTK/ÐCTT, thì Ngài dịch được trên 50 tên kinh, luật, luận sử truyện, gồm 283 quyển, ngoài những kinh quen thuộc như Pháp Hoa, Kim Cương, Duy Ma v.v... còn có:
- Ma Hát Bát Nhã Ba La Mật kinh, 27 quyển, No 223, tập 8, ÐTK/ÐCTT.
- Tiểu Phẩm Bát Nhã Ba La Mật kinh, 10 quyển, No 227, tập 8, ÐTK/ÐCTT.
- Hai hội thứ 17 và 26 của kinh Ðại Bảo Tích, gồm 5 quyển, No 310, tập 11 ÐTK/ÐCTT.
- Phạm Võng Kinh, 2 quyển, No 1484, tập 24, Luật bộ, ÐTK/ÐCTT.
- Ðại Trí Ðộ Luận, 100 quyển, No 1509, tập 25, ÐTK/ ÐCTT.
- Trung Luận, 4 quyển, No 1564, tập 30, ÐTK/ÐCTT.
- Bách Luận, 2 quyển, No 1569, tập 30, ÐTK/ÐCTT.
- Thành thật Luận, 16 quyển, No 1646, tập 3, ÐTK/ÐCTT.
- Mã Minh Bồ Tát truyện, 1 quyển, No 1046, tập 50, Sử Truyện Bộ, ÐTK/ÐCTT.
- Long Thọ Bồ Tát truyện, 1 quyển, No 1047, tập 50, Sử Truyện Bộ, ÐTK/ÐCTT.
Học giả Lương Khải Siêu (1873-1929) đã nói tới 3 cái mộc trong lịch sử phiên dịch kinh điển của Phật giáo Trung Quốc, đó là Trúc Pháp Hộ, Cưu Ma La Thập và Huyền Tráng. Ở đây, cần nói đến sự hỗ trợ đắc lực của vua Diệu Hưng nhà Hậu Tần, đã tạo điều kiện rất tốt cho sự nghiệp dịch thuật của ngài La Thập. Lương Khải Siêu đã gọi ngài Cưu Ma La Thập là "Ông vua của giới phiên dịch Trung Quốc" và đánh giá tổng quát:
"Tóm tắt, Phật giáo thuộc văn hệ Trung Hoa có một cơ sở vững chắc về học lý để có một sự phát triển có hệ thống, thực đã bắt nguồn từ ngài La Thập". (Dẫn theo HT. Trí Quang, sđđ, tr 47).
Ðào Nguyên
Trang MỤC LỤC
Trang chính