NHÂN MÙA VU LAN – SUY GẪM ĐÔI ĐIỀU VỀ KINH ĐỊA TẠNG
CƯ SĨ TÂM QUÁN
Nhân mùa Vu Lan – Báo hiếu PL.2545, xin lược phỏng đôi điều suy gẫm về kinh Địa Tạng, vì kinh này cũng là Hiếu Kinh, do khởi nguyên là lòng hiếu của một Nữ nhân Bà La Môn lo âu cho mẹ, vì biết mẹ khi còn sống mê tín tà thuyết, thường khinh Tam bảo. Nên nữ nhân Bà La Môn tin rằng mẹ phải đọa vào đường dữ, đã sắm sửa hương hoa quả phẩm đến hiến cúng tại Tháp Thờ Đức Phật Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai để lấy công đức hồi hướng cho mẹ; nhờ công đức này mẹ nữ nhân được giải thoát cảnh khổ địa ngục và sinh lên cõi lành. Đồng thời nữ nhân đối trước hình tượng Đức Phật chiêm bái, kính ngưỡng ứng cảm bừng ngộ chơn tâm, cảm thấu nỗi khổ cõi địa ngục, lòng bi mẫn tăng trưởng đã phát tâm cao rộng : “Nguyện từ đây dù số lượng kiếp đến bao lâu độ hết chúng sanh thoát khỏi địa ngục mới lên quả vị Phật”, đó là đức Địa Tạng Bồ Tát. Kinh Địa Tạng cũng là kinh tụng niệm tại các chùa vào mùa Vu Lan để cầu siêu hồi hướng đến Cửu huyền Thất Tổ, phụ mẫu và các hương linh quá vãng.
Trong dân gian, rất nhiều người đã nghe kinh Địa Tạng. Nghe được qua chư Tăng Ni, Phật tử tụng đọc hay băn gkinh, nghe trong lễ nghi hay tại các đám tang. Dù đã tụng, đã nghe nhưng ít ai lưu tâm đến ý nghĩa, lời của Đức Phật dạy trong kinh; mà chỉ với tâm niệm khi có người chết thì tụng kinh Địa Tạng, vì Ngài là vị Giáo chủ cõi U minh (Địa ngục) hay vì lời phát nguyện của Ngài “Cứu độ hết tất cả chúng sanh nơi địa ngục mới hoàn thành quả vị Phật”. Do vậy đã hiểu mơ hồ ý nghĩa kinh hoặc hiểu chưa đầy đủ công hạnh của Bồ tát Địa Tạng và chỉ đặt Ngài trong việc độ tử. Theo lời Đức Thế Tôn ủy thác “… Địa Tạng, Địa Tạng đại sĩ hãy nhớ, hôm nay tại Đao Lợi thiên cung, trước đại hội gồm có các Đức Phật Đà, các Đại Bồ tát, cùng Tám bộ Thiên Long, nhiều đến trăm ngàn vạn ức hai lần không thể nói hết, một lần nữa Như Lai đem nhân loại, Chư Thiên và mọi loài khác, tất cả còn ở trong nhà lửa, ký thác cho Đại sĩ. Đại sĩ đừng để họ sa vào đường dữ …”. Như vậy Ngài có trách nhiệm trông coi cõi Diêm Phù đến ngày Đức Phật Di Lặc xuất thế, giải thoát chúng sinh trong sáu đường : có cả sự sống và chết.
Theo nghĩa đen, Địa là đất tức đất tâm, Tạng là Như Lai Tạng. Địa Tạng là đất tâm sâu kín. Kinh điển Phật giáo dùng nhiều thể loại ngôn ngữ : ẩn dụ, ngụ ý hay siêu thực … và kinh Địa Tạng cũng được trình bày như thế, gọi là quyền giáo, nghĩa là quyền biến phương tiện để hiển bày cái lý diệu nghĩa, mà luận giải bằng nhiều phương cách cho phù hợp với thời gian hay căn cơ chúng sinh. Do vậy, nếu hiểu Địa Tạng là đất tâm sâu kín, thì đó là chỉ cho thần lực nơi con người. Đức Phật cũng còn đặt tên kinh này là “… mệnh danh là năng lực hạnh nguyện của Địa Tạng đại sĩ” . Năng lực hạnh nguyện là lực khả năng ý chí cao phát xuất từ tâm địa. Chúng sanh còn vô minh nên tâm địa chưa cao vì có niệm ác, niệm thiện – mà đa số niệm ác, hành vi xấu : đó là địa ngục, qủy thần. Chỉ khi nào mở dần tuệ giác và tạo nên công đức đem đến hạnh phúc đồng đẳng với muôn loài thì trở nên Thiện thần.
Đức Phật nói kinh Địa Tạng tại cung Trời Đao Lợi thuyết pháp cho mẹ, trong pháp hội này còn gồm chư Phật, chư Đại Bồ tát, Thiên chúng, Long chúng, Thần chúng và Quỷ chúng trong mưòi phương. Trong kinh có nói đến phân thân hóa hiện ra đất đai, dòng nước, núi rừng, cây cỏ, hoa trái … để nuôi sống chúng sinh. Theo quan điểm của Phật giáo, vũ trụ mênh mông bao la vô cùng tận mà tương sinh tương duyên trong sự sinh tồn, nên việc làm của con người có ảnh hưởng đến muôn vạn loại chúng sinh, cũng tác động vào vũ trụ – tức nói đến nguyên vật lý trong vũ trụ và thân xác chúng sinh như đất, nước, gió, lửa – có tương quan sinh tồn và luân lưu không lúc nào ngừng, trải rộng không biên cương :một con bướm vỗ cánh đánh động bên kia đại dương”.
Kinh Địa Tạng, Đức Phật mượn hình tượng siêu thực nói về cảnh địa ngục để dạy cho nhân loại về lợi ích sự sống trên trái đất với vũ trụ tác động đối đãi với nhau; đồng thời cảnh báo con người về hiểm họa “tam tai” (Thủy tai, hỏa tai và dịch bệnh). Các mầm họa này ngày nay là sự kiện hiển nhiên đã xảy ra và sẽ xảy ra khủng khiếp hơn, nếu loài người không sửa chữa, cải thiện môi trường … Cân bằng sinh thái là điều tất yếu, sự chênh lệch nguyên lý sinh thái tạo nên “bệnh”. Thân thể con người không cân bằng thì ốm bệnh, trời đất không cân bằng thời thiên tai, bão lũ, nắng hạn … và nếu bệnh nặng hơn sẽ xảy ra “tam tai”, tiêu hoại tàn khốc !.
Hạnh phúc (thiên đường) hay khổ đau (địa ngục) là do nghiệp quả của con người tạo ra, các hành vi (nhân) và thành kết quả của hành vi (quả). Vì chỉ con người mới có thần lực (khả năng tác động) làm biến đổi, mất cân bằng nguyên lý trên trái đất. Do si mê, tham lam và sân hận mà tác hại sự sống của muôn loài … chiếm đoạt, lạm dụng đã tàn phá trái đất, bầu trời, cùng với chiến tranh tiêu diệt hoang tàn đưa đến tiếm quyền và tước đoạt những điều kiện sống của các chủng loại khác.
Biết rằng bản tánh của người chưa giải thoát là bất định, nhưng hiển nhiên làm dữ kết thành quả khổ, làm lành thì cảm ra phước lạc, chẳng thể cho làm lành, làm xấu tùy theo hoàn cảnh chi phối. Vì si mê nên vui hay buồn cũng đưa đến mầm mống giết hại – do tập quán thói quen. Các món lạc thú khi đã sa vào luôn mờ mịt, sự phù du coi như thật có; nên lúc qua “nàn” đã tự mãn quên xưa, nên Kinh dụ là “Cá thoát lưới, nhưng còn trong nước…” Kinh Địa Tạng cũng nói đến tập quán, như vui mừng khi sinh con cũng giết hại để liên hoan, khi bệnh chết cũng giết hại để cúng tế … tạo nên oan ương cho cả hai (người làm và đối tượng để làm), mà đã gieo nhân ắt nhận quả báo, dù nhân nhỏ hay lớn đều có quả đối đãi tương ứng. Đạo Phật quy vào 10 loại tác nghiệp: đối với thân có 3 là giết hại, trộm cướp và tà dâm, miệng có 4 là nói dối, nói thêu dệt, nói 2 chiều(đòn sóc) và nói ác thô; ý có 3 là tham lam, sân giận và si mê tà kiến.
Trên cuộc đời con người, bệnh tật và chết là nỗi lo sợ nhất, đa số con người khi bệnh nặng hay gần chết là lúc thế lực đã yếu, sự đau đớn làm rối loạn, tinh thần mệt mỏi kiệt quệ, trí óc mơ màng u tối, có khi hoảng hốt ám ảnh những cảnh tượng ghê rợn, tiềm ẩn ký ức trồi ra…nào hoài mong hối tiếc, thương nhớ, trông mong…sống dở, chết kéo dài; tức giờ “cân phúc đong tội”(cận tử nghiệp) hoặc chết trong yểm mị (bất đắc kỳ tử), còn tĩnh lặng ra đi được mấy ai! Nên kinh Địa Tạng cũng chỉ dạy là đưa hình tượng Phật hay Bồ Tát cho người bệnh chiêm ngưỡng, nếu họ có duyên sẽ đánh thức họ chú tâm, có thể ổn định được tâm trí, hoặc người yếu gần chết thì luân phiên tụng kinh, niệm Phật để tư tưởng họ nương theo, nếu họ tỉnh biết một chút thì họ nương theo cho tâm hồn không còn bâng khuâng, sợ hãi bơ vơ và khi ra đi được yên lòng. Nếu chết việc tụng kinh này có thể mỗi ngày, hay 7 ngày 1 lần trong suốt thời gian “thân trung ấm”(thời gian hồn linh còn vất vưởng quanh quất trong vòng 49 ngày(7 lần 7 ngày) và các việc tụng kinh niệm Phật, cúng dường, bố thí phóng sinh…mỗi lần nên hồi hướng cho người chết để họ bòn mót 1 phần công đức, tức cảm ứng được thì hồn linh cởi mở dần .
Con người mong muốn được sống yên vui, thì phải nhận thức các nguyên nhân làm huỷ hoại cuộc sống tốt đẹp; có hiểu được việc làm xâm hại ấy, mới biết tự sửa chữa sám hối hầu cải thiện cuộc sống. Kinh sách Phật dạy:”hiểu và tin quy luật nhân quả, rõ tính chất vô thường, vô ngã, mới chuyển biến nhận thức về ta, cái của ta mới làm tiêu mòn tham, sân, si. Để làm được điều này phải quay về nương tựa (qui y)Tam Bảo…Vì phật là đấng hoàn toàn sáng suốt, đã có kinh nghiệm bản thân chứng đắc giải thoát. Pháp là lời nói của Phật chuyển giao công trình đã tu tập thành tựu, sáng rõ tâm – vật lý con người – cơ cấu, thành tố trong thiên nhiên và lập những phương cách thực tiễn để con người hiểu biết, tu tập theo mà vượt qua bể khổ. Tăng là người tình nguyện tu hành chân chính, gìn giữ, nghiên cứu sâu và tu tập giáo pháp Phật Đà, cùng hướng dẫn nhân loại theo đường Đạo của Đức Phật.
Con người vì đã mất chân linh từ vô thỉ, niệm khởi vào thế gian thì cuộc sống lôi cuốn đắm nhiễm dục lạc, niệm bất giác vô minh, vọng tưởng không dừng, huân tập cấu kết, muốn tìm lại nguồn linh giác phải quay về nương tựa Tam Bảo. Đã biết trở về là điều cốt yếu, tìm hiểu giáo lý để có đức tin kiên định và thực tập những phương pháp (pháp môn) để tu tỉnh ; từng bước quán chiếu cuộc sống, sự đời sẽ sáng suốt, lối sống cởi mở với mọi người, bớt tham sân để tiến tu 10 nghiệp lành (thập thiện). Về thân thì không sát sanh, không trộm cướp và không tà dâm, về miệng thì không nói dối, không nói thêu dệt, không nói hai chiều (đòn sóc) và không nói lời hung ác, về ý thì không tham lam, không sân hận và không si mê tà kiến. Từ đó bước lên bậc làm các hạnh nguyện cao hơn như cúng dường bố thí…để phụng sự xã hội và thực hành thường xuyên: tụng kinh niệm Phật, thiền định để cảm nhận được tánh Phật nơi Tâm, để được tỉnh thức chánh niệm và hiểu sâu Phật pháp. Đó là lĩnh vực yên bình trong cuộc sống hiện tại và vị lai .
Pháp Phật thì diệu nghĩa, tuỳ pháp hội Đức Phật đặt chủ đề nói Pháp, là lời dạy của Phật nói về nguyên lý cuộc sống và phương pháp tu tập cho chúng sinh, nên đọc tụng phải giải trạch sâu xa lời dạy ấy, không phải chỉ để tụng suông thôi; nếu ai chỉ đọc tụng thuộc, mà không hiểu nghĩa thì sẽ mù mờ về lý đạo. Với kinh Địa Tạng cũng vậy, nội dung chính yếu nói về “bổn tâm”, thiện ác là do tâm, tu là tu cái tâm và có tu mới đạt đạo, đã tu cũng trắc lượng, nếu nhận thấy tâm dần yên vui, sáng ý đó là từng bước cải thiện cuộc sống của mình và cũng lợi ích đến xã hội, các loài…
Nhân loại đã tiến bộ vượt bực, nhưng lại tiến triển về lãnh vực khoa học vật chất. Con người lòng tham vị kỷ, chấp ngã còn lôi kéo mạnh, dù biết hại chung nhưng lại bỏn xẻn đóng góp…nên tiến mà như đã có mầm mống trở lại hồng hoang! Các nền văn minh cổ đã vùi lấp trong lòng đất là điều chứng minh! Bao giờ nhân loại tiến bộ thăng bằng giữa Tâm và Vật, cái này không có động lực hủy hoại cái kia; đó mới là nền hạnh phúc thật sự của loài người và các loài trên trái đất.
Kinh Địa Tạng là hiếu kinh, Hiếu là sự tri ân, tri ân mọi người – mọi vật cho sự sống…tri ân từ quá khứ đến hiện tại để bắc cầu cho vị lai, để cõi Ta Bà uế trược này trở thành cõi cực lạc, thanh lương. Mỗi mùa Vu Lan về, Phật tử lại ngẫm về lòng hiếu, về tri ân để luôn nhủ lòng, nỗ lực gieo thêm hạt giống Bồ Đề vào tâm khảm để Đức Địa Tạng chóng thành tựu Phật quả.