LỄ HỘI VU LAN & VIỆC CỨU ÐỘ VONG NHÂN

CHƠN HƯƠNG

Ðối với các dân tộc Châu Aâu nói chung và Việt Nam nói riêng, một dân tộc mà Ðạo Phật đã gắn bó thủy chung suốt một chiều dài lịch sử hơn hai ngàn năm, thì Vu Lan đã trở thành một lễ hội của cả cộng đồng dân tộc, là một điều tự nhiên và tất yếu. Thuở ban đầu, nó được hội tụ, ươm mầm từ nơi chốn thảo am, từ những mái chùa rồi lan dần, lan dần để rồi thâm nhập, hòa tan và thấm sâu vào mạch sống của dân tộc. Ðã trở thành thuần phong mỹ tục, nếp sinh phong văn hoá độc đáo, giàu tính nhân văn, mang đậm tình người làm đẹp thêm cho cuộc đời, lại mang đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc, Lễ Vu Lan đã ngự trị trong tận cùng tâm thức của mọi người con dân đất Việt một cách hoà bình và sâu lắng, chỉ trừ hạng người ăn cháo đá bát, muốn phản bội quê hương dân tộc, lai căng mất gốc mới xem nhẹ lễ hội Vu Lan mà thôi.

Không cần tầm chương trích cú, không cần truy tìm nguồn gốc tung tích lai lịch Vu Lan, cũng không cần mất thời gian để đọc kinh sách cho nhiều mới hiểu được ý nghĩa Vu Lan.

Ngày nay, nhắc đến Vu Lan rằm tháng Bảy âm lịch, thì dù người ít đọc, ít học và ít tìm hiểu nhất, trong đầu óc họ cũng hiểu mang máng rằng Vu Lan là cơ hội tốt, là dịp để báo đáp công ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ cha còn sống và cúng bái, tưởng niệm ông bà cha mẹ đã mất; và theo quan niệm dân gian lại còn cho rằng : Vu Lan là dịp tốt hằng năm mà các tội nhân bị đoạ đày giam hãm đói khát nơi các cõi địa ngục được dịp khoan hồng, giảm nhẹ tội, được về với gia đình con cháu. Vì vậy, ngày Vu Lan rằm tháng Bảy âm lịch trở về, thì dù giàu hay nghèo, thành thị hay thôn quê, trí thức hay dân dã chân bùn tay lấm cũng cùng một cảm thức thương nhớ bùi ngùi, lòng dạ nao nao nhớ thương về cha mẹ. Nếu không làm được một chút gì cho cha mẹ vui khi còn sống và không thắp được một nén hương cho những người đã mất thì cảm thấy tâm hồn như nặng trĩu, bồn chồn vương vấn, như một sợi dây vô hình cứ vương hình cứ vương vấn mà mộng lòng chưa thỏa giữa cuộc đời huyễn như khó biệt phân của hai dòng sống chết. Và đơn giản chỉ chừng ấy thôi cũng đủ thấy nguồn cảm hứng bất tận, mầu nhiệm và cái sức mạnh của lễ hội Vu Lan. Thật ra tổ chức Vu Lan, lễ hội Vu Lan và hành động đúng với Vu Lan là trở về cái gốc, cái cội nguồn của con người là luân lý và đạo đức, đó là Ðạo Hiếu. Ðạo hiếu là cái gốc của đạo làm người, người mà thiếu hiếu đạo thì mọi thành tựu, mọi nỗ lực cố gắng tuyệt vời đến đâu cũng sẽ bị phá vỡ không sớm thì muộn. Cho nên, Vu Lan chính là Thông Ðiệp về Ðạo Hiếu, trao gởi, ban tặng và lay tỉnh con người trong thế giới loài người đừng quên cái gốc của mình. Dù có khác nhau về màu da, chủng tộc, tập quán, ngôn ngữ và văn hóa, dù có xung khắc nhau về ý thức hệ hay chủ thuyết nào, dù Á hay Aâu, Mỹ hay Phi, đã là người sống trên trái đất này thì điều căn bản tối hậu và tối trọng trước tất cả thì đích thực phải có hiếu trước đã. Con người mà không có hiếu thì không còn là con người nữa, xã hội của con người đó sẽ là một xã hội lang sói.

Từ phàm đến thánh, từ chúng sanh đến thành Phật, tất cả đều trải qua hành trình ÐẠO HIẾU.

Một khi con người đã bất hiếu với cha mẹ, đã vong ân bội nghĩa, đánh đập anh em, lăng nhục chú bác và bà con thì không có một điều ác nào mà họ không dám làm. Kinh nghiệm trong cuộc sống hàng ngày cho ta thấy rõ gia đình nào vô phúc mà có con cái bất hiếu với mẹ cha là gia đình ấy tan nát, xóm thôn bất ổn. Một xã hội mà có nhiều người bất hiếu là xã hội đó băng hoại, suy thoái và luôn bất ổn, nhiễu nhương.

Vì hiếu là đạo lý, là nền tảng của con người, nên Ðức Thế Tôn đã minh thị trong Nhẫn Nhục kinh rằng : "Ðiều thiện tối cao là chí hiếu, điều ác tột ác là bất hiếu".

Ca dao tục ngữ Việt Nam cũng đã khuyến cáo : "Tu đâu cho bằng tu nhà, thờ cha kính mẹ mới là chân tu". Và cũng mỉa mai một cách thấm thía những hạng người vì danh lợi, vì đãi bôi, lắm khi đến chùa tụng kinh niệm Phật cho nhiều mà về nhà thì hời hợt thờ ơ với phận làm con của mình rằng : "Phật trong nhà không thờ, lại thờ Thích Ca ngoài đường".

Thế nên, để xứng đáng với địa vị và giá trị làm người thì trên tất cả và trước tất cả là phải hiếu dưỡng ông bà cha mẹ.

Kinh điển thuộc Phật giáo nguyên thuỷ hay Phật giáo phát triển cũng nhất quán với nhau về hạnh hiếu, và đều nêu bật tâm hiếu. Vì "Tâm hiếu là Tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật", nói cho gần gũi và dễ hiểu hơn thì : Ba đời mười phương Chư Phật đã làm tròn hiếu đạo trước khi thành Phật đạo. Nói ngược lại, Ðạo Phật là đạo hiếu, người đệ tử Phật luôn luôn phải suy nghĩ như Phật :

Nói lời Phật nói, và

Làm việc Phật làm

Nếu người Phật tử mà không Phật hóa gia đình, lại còn bất hiếu bất mục với cha mẹ thì chỉ là kẻ giả danh để phá đạo. Ðã làm mất gốc rễ con người lại là thành phần bất hảo của xã hội. Bất cứ ai, dù Phật tử hay không là Phật tử, một khi tìm hiểu, tụng đọc và hành trì kinh Vu Lan cũng nhận ra ngay rằng, người đang thực hành hạnh hiếu là một vị Bồ Tát, một bậc Thánh Tăng, một trong mười vị đệ tử của Ðức Phật Thích Ca, đã trợ hóa cho Ðức Phật trên sự nghiệp hoằng pháp, cứu khổ độ sanh, đó là ngài Mục Kiền Liên. Ngài là vị thần thông bậc nhất. Một vị thánh Tăng mà còn bức xúc, nỗ lực bằng thánh hạnh để cứu mẹ đang bị đoạ đày nơi chốn địa ngục. Bậc thánh mà còn dốc sức đền đáp công ơn của mẹ cha như vậy, thế thì hạng phàm phu tục tử như chúng ta phải suy nghĩ làm sao đây ?!!

Bây giờ trở lại vấn đề cứu độ vong nhân qua hành trạng của ngài Tôn giả Mục Kiền Liên. Ai cũng thấy rằng, với hiếu hạnh cao độ cộng với sáu phép thần thông đã chứng được, ngài Mục Kiền Liên vẫn không tự mình cứu được bà Thanh Ðề thoát khỏi đau khổ, mà phải nhờ đến tha lực của Chư Phật và oai lực của mười phương Thánh Tăng thanh tịnh.

Ðiều tế nhị và căn cốt mà chúng ta nhận ra đầu tiên là thần thông và tha lực không qua nổi Nghiệp báo và Nhân quả. Nói tiên quyết thì Nhân quả và Nghiệp báo là định luật khách quan, không thiên vị nể nang bất cứ một giai cấp, giới chức hay một địa vị nào trong cái thế giới hệ này.

Tự tác thì tự thọ, ai ăn thì người nấy no, nghiệp là do thân, miệng và ý tạo tác. Hành động có tác ý sẽ dẫn đến nghiệp. Hễ có nghiệp nhân đã gieo thì sẽ gặt hái nghiệp quả. Nhân nào sẽ có quả đó. Nhân thiện sẽ có quả thiện, nhân ác sẽ có quả ác. Ở đời có bao giờ chúng ta thấy có ai trồng cây sầu riêng mà nó sẽ quả mít ? Một khi đã hiểu được định luật Nhân quả và Nghiệp báo thì ta càng thảnh thơi và tự do, ta hoàn toàn tin vào việc của ta làm. Ta không còn tin vào định mệnh hay số phận, không phó thác đời mình vào thần thánh hay một Thượng đế nào cả.

Tín đồ của các tôn giáo thì tin tuyệt đối vào Thượng đế hay vị giáo chủ lập giáo của họ. Ðạo Phật ngược lại, con người tin vào chính mình. Bảo rằng người Phật tử là người tự do tuyệt đối là cũng trong ý nghĩa này. Con người tự quyết định, tự làm chủ lấy hành động của chính mình. Vì vậy, bà Thanh Ðề đã làm nhiều việc độc ác thì bà phải chịu quả báo độc ác là bị đọa đày trong địa ngục khổ đau, là điều công bằng, hiển nhiên và khách quan nhất. Chính bà làm thì bà chịu chứ có ai chịu thay cho bà ? Âm phủ hay ở trần gian này cũng vậy thôi. Thế thì rõ ràng là thần thông hay tha lực không thể giúp chúng ta thoát khỏi sanh tử luân hồi được. Muốn thoát khỏi Tam đồ lục đạo phải tự lập tâm, điều phục tâm, và chuyển hóa tâm. Không có con đường nào thần diệu, hữu hiệu và tối thượng bằng con đường tu tập Giới – Ðịnh – Tuệ và thực hành Bát chánh đạo là pháp môn tối thượng để chấm dứt vĩnh viễn khổ đau.

Một mình, dù là đại chí hiếu, dù là thần thông độn thổ phi thiên như Mục Liên Tôn giả vẫn bó tay mà phải nhờ oai lực của mười phương Tăng mới cứu được mẹ.

Ca dao Việt Nam đã từng nói : "Hợp quần gây sức mạnh" hay là "Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại thành hòn núi cao""một con én không làm nên mùa xuân" nhằm đề cao giá trị : "Chúng đức như hải", là tinh thần tập thể của cộng đồng, mà xã hội là do con người và của con người. Con người tốt thì xã hội tốt. Ngược lại, con người là hình ảnh của xã hội thu hẹp. Một xã hội mà luật pháp không nghiêm, ỷ thế cậy quyền và tham nhũng hối lộ thì con người bị đầu độc và tha hóa, mất niềm tin, chỉ biết sống say chết mộng, sống hối hả hấp tấp, đạo đức, luân thường, đạo lý bị xem thường là điều dễ hiểu. Muốn cứu vãn xã hội, điều khẩn thiết là phải xây dựng con người trở nên lương thiện.

Tăng ở đây phải là Tăng Thanh tịnh và Hòa hợp. Muốn thanh tịnh thì phải nghiêm trì tịnh giới, phải tham thiền nhập định. Lấy sáu pháp Lục hoà làm nguyên tắc sống chung, "Ðức trọng quỷ thần kinh", Ðức ở đây là đạo đức. Muốn có đạo đức phải hành trì giới luật, nếp sống tốt là nếp sống lục hòa. Chính nhờ một tổ chức toàn là Thánh tăng và mười phương Tăng nghiêm trì giới luật thanh tịnh, hòa hợp đã tạo nên một sức mạnh vĩ đại, một nguồn nhiệt lượng đốt cháy tất cả những khát ái, tiêu hủy tham sân si. Có sức cảm hóa, đánh động tâm tư, lay chuyển được ý nghĩ của bà Thanh Ðề, làm cho tâm tư bà tự động chuyển hóa những sự nghiệp xấu tạo thành một nguồn năng lượng, như sức nóng của mặt trời làm tan sương mù u tối.

Lý "Tương tức tương nhập" cũng được thấy rõ ở đây. Dĩ nhiên, bị đoạ vào địa ngục khổ đau, bà Thanh Ðề luôn ước muốn vượt thoát. Khi được thấy oai lực của một đại chúng Tăng thanh khiết, trang nghiêm và đầy lòng bi mẫn hướng đến bà, khuyến tấn, khích lệ bà nỗ lực cải đổi tâm ác thành tâm thiện nên bà được cảm hóa, cảm phục, bà tự hối tự ăn năn và tự chuyển. Nhờ cái này mà có cái kia, cái này có trong cái kia, một sự tương tác có điều kiện. Vấn đề đặt ra ở đây là dù cho oai lực của chúng Tăng chú nguyện mà tự tâm bà Thanh Ðề không chuyển hóa thì bà vẫn không thoát khổ. Cũng có thể nói ngược lại là, sở dĩ chuyển hóa được Tâm bà Thanh Ðề là nhờ có Thánh Tăng và mười phương Tăng đều Thanh tịnh và Hòa hợp.

Sự thể ở đời mà ai cũng thấy, một người luôn sống dối lừa độc ác thì không thể làm gương cho ai. Cũng vậy, sống trong một tập thể mà ai cũng đạo đức, hiền lương, thì người xấu sẽ được chuyển hóa thành tốt, nếu không muốn bị đào thải. Gần mực thì đen gần đèn thì sáng là vậy. Ở đây nhằm nêu bật giá trị của cộng đồng, một cộng đồng sống chung mà luôn luôn thanh tịnh và hòa hợp. Quên mình vì người, sống vô trước, vô chấp và vô trụ, luôn vì lý tưởng vị tha vô ngã. Ðó là đoàn thể Tăng già mẫu mực lý tưởng làm gương sáng cho đời. Do vậy, Tăng không thể là một người mà tối thiểu từ bốn vị trở lên. Hễ nói đến Tăng phải nghĩ ngay đến một nhóm, đoàn, quần thể lấy giới luật làm kim chỉ nam sách tấn mình, lấy lục hoà làm nguyên tắc và mẫu mực cho cuộc sống.

Tăng không thể phá giới phạm trai, không thể vì lợi dưỡng vì danh vọng. Nội bộ Tăng mà còn tị hiềm ích kỷ, còn mang nặng tham sân si, hận thù, ân oán, còn xem mình là một tiểu vũ trụ muốn được đời trọng vọng, đặt lợi quyền trên tập thể, tranh cãi om sòm như giữa chợ thì đó là một tổ chức ô hợp, tạp nham. Ðã tự dối mình, dối đời lại còn làm mất niềm tin cho kẻ sơ cơ chưa hiểu đạo, Tăng chỉ hình thức, thiếu tu thì Tăng còn thua Tục, nên trong các loại cô hồn cũng có hạng dành cho Tăng Ni.

Trong Phật giáo, giới tu sĩ không thể ban phước giáng họa hay có quyền tha tội cho ai. Tăng chỉ thể hiện bằng thân giáo, bằng đạo đức khả hành của mình để mọi người tin phục và noi theo. Ngay Ðức Phật là bậc đạo sư của Trời và Người mà Ngài còn dạy : "Tin ta thì phải hiểu ta". Ðạo Phật là đạo hướng nội vì :Thành ư trung hình ư ngoại". Hãy trở lại soi rọi tâm mình, tu tập và chuyển hoá tâm. Oai lực và thần lực của đại chúng chỉ là sức xúc tác, sự cảm hóa, sự kích thích tương tác hỗ trợ mà thôi. Ðó là ý nghĩa cứu độ vong nhân mà kinh Vu Lan như một thông điệp trao cho mọi người trong mọi thời đại.

Ðề cập đến phẩm vật cúng dường mà như trong kinh miêu tả, như phải sắm sửa đủ thứ ngon ngọt tốt tươi, thật ra đây chỉ mang ý biểu trưng mà thôi. Chủ yếu là tâm thành kính vì "lòng thành thì thấu đến trời cao". Khi đã có lòng hiếu thảo chí thành thì không tiếc công của để phụng dưỡng và tưởng niệm về ân đức sâu dày đối với mẹ cha. Nhiều lúc cách cho còn quan trọng hơn của cho. Người nghèo mà có lòng chí hiếu thì một nén tâm hương tưởng niệm hơn kẻ tiền rừng bạc biển mà hời hợt chỉ làm lấy lệ lắm lúc vì muốn được danh tiếng. Ngày Vu Lan còn được gọi là ngày Phật hoan hỷ, thật ra Phật hoan hỷ vì thấy chúng Tăng nỗ lực chuyên tâm thiền quán và hành trì giới luật. Sự thật thì Ðức Phật bao giờ và lúc nào cũng hoan hỷ. Nơi nào có sự hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ là nơi đó có sức sống chánh Pháp, an lạc sẽ toả sáng và điều ác sẽ bị đẩy lùi, nơi đó luôn có Phật hoan hỷ.

Vì vậy, không đợi đến dịp lễ hội Vu Lan mới thể hiện lòng hiếu và mới cúng dường tưởng niệm. Hiếu thảo trong từng tâm niệm, thể hiện trong cuộc sống hàng ngày. Ðừng để thời gian chê cười rằng : "Sống thì chẳng cho ăn, đến khi chết xuống làm văn tế ruồi".

Phật hoá gia đình bằng cách áp dụng lời Phật dạy trong gia đình, thể hiện sức sống Phật giáo trong mỗi lúc mỗi thời. Chính bản thân con cái và cha mẹ quy y Tam bảo, giữ giới đã thọ, sống hiền lương đạo đức luôn luôn phải và nuôi tâm nguyện làm cho mình, gia đình mình và mọi người khác được hạnh phúc an lạc.

Và điều rất tối hậu là bản thân mình cũng như khuyên mẹ cha là đừng bao giờ sợ chết. Mà chỉ sợ rằng mình sống một cuộc sống thiếu lương thiện đạo đức, ích kỷ tham lam, bỏn xẻn, đã không lợi cho mình mà còn làm đau khổ bao người khác.

Sống Chết bình an, xem cái chết nhẹ tựa lông hồng, vì ai rồi cũng phải chết. Muốn chết nhẹ nhàng, không bối rối, không hoảng hốt thì phải thực tập cuộc sống tỉnh giác, thương mình, thương người, sống sao cho ích lợi mọi người. "Phàm làm việc gì cũng nghĩ đến kết quả của nó", luôn tin vào luật nhân quả nghiệp báo. Không đền trước cũng phải trả sau. Khi nghiệp ác đã gieo thì dù chui xuống đất hay bay lên trời thì cái nghiệp vẫn đeo đẳng như bóng theo hình.

Hãy sống thanh thản, tin vào Phật Pháp Tăng, sống một cách nhân hậu, vị tha vô ngã, luôn luôn hiếu thảo, phụng dưỡng cha mẹ, nghĩ đến sự vô thường, nghĩ đến cái chết nó đến bất cứ lúc nào mà không hẹn trước. Hãy cứu độ mình và cha mẹ, anh em bà con mình ngay khi còn sống bằng cách thực hiện một cuộc sống tốt đẹp. Ðừng biến Ðạo Phật thành một đạo cúng bái ma chay. Sống như thế nào thì chết như thế đó. Cứu sanh độ tử là hai mặt của Ðạo Phật trong cuộc đời này.

Từ khi mới lọt lòng chúng ta đã chết rồi, phải chết đi khát ái, làm cho chết tham lam, sân hận, si mê, giết chết cái ích kỷ, nhỏ hẹp hận thù. Phải làm cho cái sống bao dung tha thứ, sống bằng tình thương lao vào đời bằng lý tưởng Phật giáo là Bi, Trí, Dũng, thì có sợ gì sống chết.

Ðây cũng là phương pháp cứu sanh độ tử mà mọi người trong cuộc đời này, trước hơn ai hết là người con Phật phải tâm niệm để thực hành. Lễ hội Vu Lan, cách báo hiếu qua kinh Vu Lan là của Tăng Ni Phật tử nói riêng và của con người, nhân loại nói chung. Con người nào, xã hội nào quên đi cái gốc là Ðạo hiếu, thờ cha kính mẹ thì sẽ sụp đổ, dù cho văn minh, khoa học và kỹ thuật có tiến bộ đến đâu chăng nữa.

Cuối cùng nói một cách văn chương thi vị thì : sống với nhau trên đời cần có một chút tình, dù để cho gió bay đi.



bullets08.gif - 0.2 K Trang MỤC LỤC VU LAN(những bài mới)
bullets08.gif - 0.2 KTrang MỤC LỤC VU LAN (những bài khác)
bullets08.gif - 0.2 KTrang chính