Ý NGHĨA TAM VÔ LẬU HỌC
HT.THÍCH TRÍ QUẢNG
Thay mặt Ban Chỉ đạo An cư kiết hạ của Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh, tôi có lời vấn an chư tôn thiền đức an cư tại trường hạ Tổ đình Long Thạnh. Và tôi có một số suy nghĩ nhằm đóng góp vào sự suy nghĩ chung của Tăng Ni ở thành phố Hồ Chí Minh trên bước đường tu học, đặc biệt nhất là trong mùa an cư.
Được biết Tổ đình Long Thạnh là chùa xưa nhất, nhì của thành phố chúng ta và có truyền thống kết hợp giữa việc học Phật với ứng phú đạo tràng. Có thời kỳ nơi đây từng là trung tâm tu học của chư Tăng, đã đào tạo được nhiều pháp sư danh tiếng; nhưng cũng có lúc bị suy đồi, vì tu sĩ bỏ quên kinh, luật, luận của Phật giáo, chỉ còn ứng phú đạo tràng.
Hiện tại, trải qua hai mùa an cư, chư tôn đức đã tập họp về Tổ đình này, trước nhất để nghiên cứu giáo nghĩa của đạo Phật, áp dụng vào cuộc sống và kế đến là ôn lại nghi thức cổ truyền của Phật giáo. Tôi thấy việc làm này có ý nghĩa, nếu duy trì được hình thức cổ truyền và chuyển đổi từ cổ ngữ, khó hiểu thành ngôn ngữ thời đại ể Phật tử nghe những bài tán tụng cũng hiểu được ý nghĩa nó. Làm được như vậy là thích nghi với cuộc sống hiện tại.
Ở đây, tôi muốn nói đếnviệc áp dụng giáo lý Phật trong cuộc sống. Phật giáo hưng thạnh do người tu áp dụng giáo pháp có kết quả, thể hiện thành cử chỉ, ngôn ngữ của người đắc đạo truyền thống đến tâm niệm của Phật tử tại gia, khiến họ phát tâm được. Dù hình thức cầu an, cầu siêu, trai đàn, thuyết pháp, ngồi Thiền …, nếu do vị sư đắc đạo hay người quyết tâm tu thực hiện đều có giá trị ngang nhau. Nhưng nếu làm những việc này mà chỉ chú trọng đến hình thức, không đat được quả chứng thì cũng không tốt.
Trong mùa an cư, chúng ta thường đề cập đến việc thúc liễm thân tâm, trau giồi giới đức, siêng tu Tam vô lậu học. Và phần chính yếu là ba pháp vô lậu mà người xuất gia phải học.
Vô lậu giới định huệ khác với hữu lậu giới định huệ thế nào ? Chúng ta học pháp vô lậu, vô vi khác với pháp hữu lậu, hữu vi. Phần lớn chúng ta tu học từ hữu vi vào vô vi. Đối với hàng thượng căn, chỉ thấy Phật hay nghe danh Phật là họ đắc đạo. Còn chúng ta là hàng trung, hạ căn và tu ở thời mạt pháp, phải nương giáo lý Phật, tất yếu hướng của chúng ta hành trì là từ giới định huệ hữu lậu thâm nhập vào giới định huệ vô lậu.
Giới hữu lậu căn cứ trên 4 oai nghi của Tỳ kheo mà chúng ta phải luyện tập, khác với Thánh Tỳ kheo hiện tướng giải thoát tự nhiên, không cần tập luyện. Thánh Tỳ kheo có tướng giải thoát từ xa đã thấy đẹp, đến gần thấy đẹp hơn và sống chung thì thấy càng đẹp hơn nữa. Trong khi phàm Tỳ kheo, nghiệp Tỳ kheo còn nhiều mặt yếu, nhất là nghiệp chướng hiện rõ.
Mùa an cư chúng ta thường bệnh hoạn là bệnh nghiệp. Người khỏe không có nghiệp bệnh. Vì vậy, không thể lấy lý do bệnh để không học, không tu, không chấp tác. Bệnh là thua bạn vì không làm được việc, không tu được, không học được; trong khi người mạnh khỏe dễ dàng tu, học, làm việc. Các Tỳ kheo học chung với tôi ở Phật học đường Nam Việt xưa kia, tôi thấy thầy nào mạnh thì làm nhiều, học nhiều dễ dàng. Theo tôi, nếu Tỳ kheo bệnh tu pháp hữu lậu, quan trọng là phải sám hối tội căn, tức nghiệp chướng nhiều đời. Ốm yếu, bệnh hoạn là do nhiều kiếp đã sát sanh, hại mạng. Xưa kia, tôi cũng vậy; nhưng nhờ biết túc nghiệp của mình, nên siêng năng lạy Phật, sám hối, hành trì liên tục trong 10 đến 12 mùa hạ. Kết quả tôi khỏe mạnh, bằng với đại chúng về việc học, chấp tác, tụng kinh, không còn nghiệp bệnh. Mặc dù còn là phàm phu, nhưng khi chúng ta đã dứt nghiệp, thì được vào Tăng đoàn.
Tỳ kheo bệnh nhiều, Phật pháp không thể hưng thạnh. Tỳ kheo không bệnh và làm lợi ích cho đời, được đời qúy trọng, đạo pháp mới phát triển.
Khi ta sám hối, rèn luyện oai nghi mà người thấy được và ta có chủ tâm làmnhư vậy, đó là giới tướng thuộc hữu lậu giới. Ai cũng phải tu từ giới tướng đi vào giới tánh vì bỏ giới tướng để vào giới tánh không phải là việc đơn giản, không dành cho chúng ta.
Tánh bên trong hiện tướng bên ngoài. Tỳ kheo có cử chỉ thô thảo là biết tâm họ chưa yên. Tỳ kheo có giới tướng trang nghiêm sẽ ảnh hưởng đến giới tánh bên trong thanh tịnh theo. Vì vậy, chúng ta bắt đầu tu có mặt này mặt khác, nhưng siêng tu nhiều mùa hạ, tướng bên ngoài thành trang nghiêm, tánh bên trong thành thuần; ví như ngựa được cột lại. Có thể ban đầu, chúng ta khó chịu, nhưng một khoảng thời gian sau, ta quen với khuôn phép tu hành, trở thành tự nhiên; là do tướng bên ngoài thanh tịnh khiến cho tánh thanh tinh theo. Quá trình này là từ tướng vào tánh, từ hữu lậu tướng vào vô lậu giới và chứng được vô lậu giới trở thành tánh thanh tịnh, hiện tướng trang nghiêm tự nhiên. Người thấy tướng giải thoát thực của Tỳ kheo phải phát tâm.
Trong năm vị đệ tử đầu tiên của Đức Phật, Mã Thắng có tánh thanh tịnh, được Phật thọ ký A la hán mới có khả năng giáo hóa chúng sanh. Chưa thanh tịnh thì không giáo hóa được. Thanh tịnh thì ý thức giáo hóa không còn hay không còn ý thức chinh phục người khác và bây giờ giáo hóa chúng sanh bằng tự tánh thanh tịnh. Chính vì vậy mà Xá Lợi Phất cảm nhận được sự thanh tịnh của Mã Thắng, đánh thức được tánh giác của Xá Lợi Phất khiến ông liền đắc sơ quả, xin làm đệ tử Mã Thắng. Tinh thần giáo hóa bằng tự tánh thanh tịnh rất quan trọng mà chúng ta phải nỗ lực tu, khác với cách lý luận đến khô lưỡi của tà đạo mà người cũng không nghe.
Học đạo vô lậu, vô vi là vậy, biến giới tướng thành giới tánh, thành đức hạnh thì người tự giải thoát an vui, là giáo hóa trên vô lậu pháp. Tu trên vô lậu pháp mới giáo hóa trên vô lậu pháp, đi thẳng vào tâm chún gsanh, khiến họ phát tâm Bồ đề.
Đạt được giới vô lậu thì định và huệ vô lậu tự sinh ra, không cần định huệ hữu lậu nữa. Định hữu lậu là hình thức ngồi Thiền. Vì tâm chúng ta không yên, hay nghĩ đủ thứ, nên buộc thân chúng ta phải ngồi yên và cột tâm lại, là định hữu lậu.
Từ định hữu lậu, bị bắt buộc ngồi yên và bắt tâm chúng ta trụ một chỗ, mắt mở một phần ba vì nhắm mắt thì dễ hôn trầm, mở mắt thì tâm tán loạn. Mở mắt một phần ba tập trung vào một điểm thôi để cột tâm. Riêng tôi, xưa kia thường áp dụng pháp này bằng cách đặt tượng Phật trước mặt cách độ một thước để tập trung tư tưởng vào tượng Phật. Có thiền sư thì dạy nhìn vào sóng mũi để tập trung. Hoặc có người dạy tập trung nhìn vào rún, nhưng cách này tôi thấy dễ bị còm lưng, cong cổ và sanh bệnh gai cột sống, nguy hiểm. Như vậy, thiền hữu lậu dạy chúng ta phải điều chỉnh cơ thể và ràng buộc tâm, không cho nghĩ bậy, lăn gxăng. Khi chúng ta tập trung, chú tâm vô một chỗ, nghĩ việc gì thì việc đó sẽ tự sáng lên.
Từ hữu lậu định đi lần vào vô lậu định và đạt được định vô lậu, chúng ta không tập trung nữa, nhưng tâm chúng ta cũng không còn tán loạn là đạt tam muội. Có thể hiểu tam muội là vô lậu định, tập trung là hữu lậu định. Sơ tâm phải tu hữu lậu và tập trung được rồi thì định trở thành tự nhiên, không nghĩ lăng xăng nữa. Sức tập trung hữu lậu là còn dụng công để tập trung, bó buộc tập trung, nhưng không phải bó buộc chú tâm mà ta vẫn tập trung được trong mọi tình huống là định vô lậu hay tam muội. Và đà la ni là huệ phát sinh từ tam muội, nên chính xác. Đức Phật và các vị Thiền sư thấy việc không sai lầm vì có đà la ni.
Tùy định thế nào thì có huệ phát sinh tương ưng như vậy. Thí dụ Thiền sư Vạn Hạnh nhập định thấy được tư chất và khả năng của người tu và những người liên hệ trong xã hội vì Ngài đắc được một tam muội quán về thế gian, chứng được thế gian giải. Với tam muội này và đà la ni tương ưng, Ngài biết rõ triều Lê phải chấm dứt và Lý Công Uẩn sẽ làm vua, mở đầu cho triều Lý. Có thể nói người đắc định biết được quá khứ, hiện tại, vị lai như thấy trái cam trong bàn tay.
Tỳ kheo càng đi sâu vào định, kiến giải càng ít sai lầm. Ban đầu hiểu biết của chúng ta là của thế gian, chúng ta vẫn giúp ích được cho người. Nhưng khi vượt hơn thế gian, mới là chúng trung tôn, hiểu biết siêu việt, chính xác mới được người kính trọng.
Có nhiều thầy hiểu lầm người xuất gia là chúng trung tôn, không hiểu ý sâu xa là phải làm sao xứn gđáng ý nghĩa chúng trung tôn. Thử nghĩ lại xem đại chúng có tôn kính chúng ta thực hay không.
Người tôn kính vì việc gì họ biết, ta biết, họ không biết, ta cũng biết, việc họ làm được, ta làm được, họ không làm được, ta cũng làm được; như vậy mới là chúng trung tôn.
Tỳ kheo phải phấn đấu từ hữu lậu pháp đạt được vô lậu pháp. Vào được định vô lậu, tập trung dễ dàng và hiểu biết chính xác, tự động là đà la ni. Tôi suy nghĩ về ý nghĩ triền đà la ni mà Đức Phật nói trong kinh Pháp Hoa. Theo tôi, đà la ni là huệ giải của chúng ta. Đầu tiên chúng ta có được triền đà la ni vì thọ trì, đọc tụng, giảng nói, biên chép kinh Pháp Hoa, nên những gì chúng ta viết, nói hay suy nghĩ đều là kinh Pháp Hoa. Và tập hợp được tất cả hiểu biết của chúng ta không ra ngoài kinh Pháp Hoa, nó cứ lẩn quẩn trong đầu, nên chúng ta nhớ và hiểu kinh dễ dàng, đó là triền đà la ni.
Tùy định thế nào thì có huệ phát sinh tương ưng như vậy. Thí dụ Thiền sư vạn Hạnh nhập định thấy được tư chất và khả năng của người tu và những người liên hệ trong xã hội vì Ngài đắc được một tam muội quán về thế gian, chứng được thế gian giải. Với tam muội này và đà la ni tương ưng, Ngài biết rõ triều Lê phải chấm dứt và Lý Công Uẩn sẽ làm vua, mở đầu cho triều Lý. Có thể nói người đắc định biết được quá khứ, hiện tại, vị lai như thấy trái cam trong bàn tay.
Tỳ kheo càng đi sâu vào định, kiến giải càng ít sai lầm. Ban đầu hiểu biết của chúng ta là của thế gian, chúng ta vẫn giúp ích được cho người. Nhưng khi vượt hơn thế g ian, mới là chúng trung tôn, hiểu biết siêu việt chính xác mới được người kính trọng.
Có nhiều thầy hiểu lầm người xuất gia là chúng trung tôn, không hiểu ý sâu xa là phải làm sao xứng đáng ý nghĩa chúng trung tôn. Thử nghĩ lại xem đại chúng có tôn kính chúng ta thực hay không.
Người tôn kính vì việc gì họ biết, ta biết, họ không biết, ta cũng biết, việc họ làm được, ta làm được, họ không làm được, ta cũng làm được; như vậy mới là chúng trung tôn.
Tỳ kheo phải phấn đấu từ hữu lậu pháp đạt được vô lậu pháp. Vào được định vô lậu, tập trung dễ dàng và hiểu biết chính xác, tự động là đà la ni. Tôi suy nghĩ về ý nghĩ triền đà la ni mà Đức Phật nói trong kinh Pháp Hoa. Theo tôi, đà la ni là huệ giải của chúng ta. Đầu tiên chúng ta có được triền đà la ni vì thọ trì, đọc tụng, giảng nói, biên chép kinh Pháp Hoa, nên những gì chúng ta viết, nói hay suy nghĩ đều là kinh Pháp Hoa. Và tập hợp được tất cả hiểu biết của chúng ta không ra ngoài kinh Pháp Hoa, nó cứ lẩn quẩn trong đầu, nên chúng ta nhớ và hiểu kinh dễ dàng, đó là triền đà la ni.
Kế tiếp, Phật dạy chúng ta chứng pháp âm phương tiện đà la ni. Đây cũng là một pháp quan trọng cần áp dụng trong cuộc sống. Phương tiện của Phật nghĩa là tùy quốc độ và hoàn cảnh mà Ngài thuyết pháp giaó hoá chúng sanh không giống nhau.
Chưa được pháp âm phương tiện, nghe kinh nào thì chấp vô đó, không thay đổi. Hiểu pháp âm phương tiện thì thấy Phật thuyết kinh ở thành Xá Vệ, Tỳ Da Ly, hay Vương Xá đều khác nhau và Phật nói với A Nan khác với Tần Bà Sa La. Thấu hiểu tinh thần pháp âm phương tiện đà la ni, một vị Tổ sư đã nói : Thực tế lý địa bất thọ nhứt trần, phương tiện môn trung bất xả nhứt pháp.
Trong các pháp phương tiện, việc nào làm cho chúng sanh an lạc thì ta làm. Người nhờ cầu an, cầu siêu ta cũng cầu nguyện, nhờ ta cúng mà họ yên tâm thì ta cũng cúng. Mọi việc nhằm làm an ổn trời người, ta làm không từ chối.
Đức Phật đã sử dụng phương tiện một cách rõ nét trong cách sống của Ngài. Từ việc tế độ hàng vua chúa, trưởng giả cho đến việc xỏ kim cho bà già, rửa ghẻ cho một thầy Tỳ kheo, hay bế con nai què cho theo kịp mẹ nó, tất cả việc này là phương tiện độ sanh của Đức Phật. Hoàn cảnh nào thì tùy theo đó giáo hóa, không nhất định phải làm việc này, không làm việc khác.
Bước theo dấu chân Phật, các nhà truyền giáo ở thời phong kiến hành đạo theo cung cách của thời phong kiến. Ngày nay, nếu chúng ta chấp vào những thành quả ấy mà khăng khăng đem đặt những việc của thời phong kiến vào nước tư bản hay xã hội chủ nghĩa là sai lầm lớn, phải thọ quả báo. Hiểu phương tiện thì tùy phương tiện giáo hoá và tu hành không còn trở ngại.
Về huệ hữu lậu, ta đọc kinh sách, nghe thuyết giảng, hiểu được ý nghĩa sâu xa lời Phật dạy, tâm được bừng sáng. Tâm sáng rồi, không học mà vẫn hiểu đúng là huệ vô lậu. Có huệ vô lậu, việc giáo hóa khắp nơi không bị trở ngại. Phật dạy rằng người tu chứng huệ vô lậu thì một câu, một chữ, một bài kệ, họ triển khai rộng đến vô số kiếp cũng không hết. Còn huệ hữu lậu thì học đâu biết đó thôi.
Trong mùa An cư, tôi được hữu duyên thăm và trao đổi kinh nghiệm tu học với chư Tăng, cầu mong quý vị ứng dụng được trong cuộc sống, một tháng còn lại cũng đạt được tam muội và đà la ni. Thiết nghĩ chư Tăng dùng thành quả tu chứng ấy mà giáo hoá chúng sanh nhất định sẽ thành công, làm vang danh đạo Phật và lợi ích cho đời.