TỪ LÒNG HIẾU ĐẾN TÌNH THƯƠNG
VÀ HIỂU BIẾT
NGUYỄN THẾ ĐĂNG
Lòng hiếu là một đức tính căn bản của nhân loại, xác định giá trị làm người của con người, bởi thế nó có mặt trong tất cả mọi nền văn hoá. Khổng giáo nói :"Hiếu là nguồn gốc của nhân, nhân là toàn thể đức tánh của tâm. Nhân cốt yếu là thương yêu, mà thương yêu thì trước hết là thương yêu cha mẹ mình". Khổng Tử nói :"Vì thương yêu người thân của mình nên không dám ghét người khác, kính trọng người thân của mình thì không dám khinh thường người khác". Định nghĩa một cách tổng quát, hiếu là tình thương và lòng biết ơn với cha mẹ đã sinh ra và nuôi dưỡng mình .
Đạo Phật có những đoạn kinh về công ơn sinh thành và nuôi dưỡng của cha mẹ rất đỗi cảm động mà có lẽ chúng ta đều biết. Cái đặc biệt và vượt trội của lòng hiếu trong đạo Phật là nó được mở rộng trong thời gian và không gian, để tạo thành một tình thương rộng khắp cho tất cả, và chính sự giải thoát cũng nằm trong tình thương rộng khắp và không chấp thủ đó. Khi thương người nào, chúng ta sẽ thấu hiểu người đó. Một tình thương bao trùm pháp giới, tình thương đó thấu hiểu được tính chất của pháp giới, tức là pháp giới tánh. Đó là con đường từ bi để đi đến trí tuệ; hay dùng ngôn ngữ bình thường hơn, từ tình thương để đi đến hiểu biết. Và từ bi và trí tuệ là mục đích cuối cùng của đạo Phật .
Đạo Phật thấy rằng trong vô số kiếp của mỗi người chúng ta, không có một sinh vật nào trong hiện tại mà không từng là cha mẹ chúng ta. Chúng ta đã trải qua vô số kiếp trong sáu nẻo luân hồi, cho nên chúng sinh trong sáu nẻo ắt phải từng là cha mẹ, quyến thuộc, bà con, đồng bào, và không ai không từng cực khổ nuôi dưỡng, giúp đỡ chúng ta. Từ đó, danh từ "chúng sinh" của đạo Phật, trái với một số người lầm tưởng đó là một danh từ mang ý nghĩa thấp kém, hạng dưới, thì chúng sinh mang một ý nghĩa tình thương, lòng biết ơn và trách nhiệm không bến không bờ. Chúng sinh chính là tình thương, lòng biết ơn và trách nhiệm. (Sự ăn chay một phần phát xuất từ cái nhìn này). Từ đó mà có Bồ đề tâm, sự phát triển của con đường Phật giáo. Bồ đề tâm là nguyện vọng giác ngộ, vì lợi lạc cho tất cả chúng sinh. Nói thế có nghĩa là Bồ đề tâm là sự kết hợp của trí huệ và từ bi ngay từ bước khởi đầu .
Từ khi sinh ra, mỗi người chúng ta đều sống trong tình thương của cha mẹ và của những người khác. Chúng ta không thể tự ăn uống, tự làm những hoạt động sơ đẳng nhất của một cuộc sống con người. Trọn sinh mạng của chúng ta đều tùy thuộc vào người khác. Lớn lên, nhờ thầy cô, nhờ xã hội, chúng ta có những kiến thức căn bản để làm người. Và trưởng thành, những thứ cần thiết cho một đời sống bình thường, cơm gạo, nước uống, tiền tài, danh vọng, nghề nghiệp, vợ con…đều từ người khác mà có. Trên con đường tìm kiếm con người thực của mình, Phật tánh của mình, chúng ta nhờ vào Thầy, vào bạn đạo, vào những kinh nghiệm sống và lời dạy của Phật, Tổ truyền lại. Thậm chí để trau dồi những đức tánh, những tri kiến sâu xa, chúng ta phải nhờ đến những người tạo ra nghịch duyên –mà thông thường cái nhìn thế gian gọi là kẻ thù –như Đức Phật Thích Ca nhờ vào Đề Bà Đạt Đa là một người suốt đời phá hại Phật làm thiện tri thức; như Thường Bất Khinh Bồ tát nhờ vào những người mắng nhiếc, ném đá khinh chê mình để tựu thành chân lý "tất cả chúng sanh đều có Phật tánh". Không những chúng ta nhờ vào chúng sinh hữu tình, chúng ta còn phải nhờ vào loài vô tình. Dầu có sống trong hang động xa cách loài người, chúng ta cũng phải nhờ vào không khí, vào nước sạch, vào trái cây. Rồi đến ngày tâm linh chín muồi, có khi cũng nhờ vào một cơ duyên bên ngoài mà "thức tâm, đạt bổn": có vị Thiền sư nhìn hoa đào mà ngộ, có vị nghe tiếng hòn sỏi chạm vào gốc tre mà ngộ, nghe một câu nói vô tình ngoài chợ mà ngộ… Thế giới đã đóng góp vào sự thành đạt tâm linh của con người. Theo cái nhìn của truyền thống Nam tông, tuần lễ thứ hai sau khi đắc quả Phật, Đức Thích Ca đã để một tuần lễ tiếp xúc sâu sắc với cây bồ đề, "để tỏ lòng tri ơn sâu xa đối với cây bồ đề vô tri vô giác đã che mưa đỡ nắng cho Ngài suốt thời gian chiến đấu để thành đạt đạo quả"(Đức Phật và Phật pháp –Narada) .
Thế giới đã đóng góp vào sự thành tựu tâm linh của mỗi người, nên khi một người chứng ngộ là chứng ngộ cho thế giới, thành Phật là thành Phật cho 3 cõi. Có lẽ đến một lúc nào, khi đã có một vài chứng nghiệm tâm linh đủ để thoát khỏi vòng tư tưởng cứ bó hẹp lấy bản ngã của mình, đủ để nhìn thấy một tương quan không hay giữa mình và thế giới bên ngoài, chúng ta phải đi cám ơn từng người, bạn cũng như thù, cám ơn từng ngụm nước, từng hạt gạo, từng ngọn rau, từng chiếc lá, từng giọt mưa, từng âm thanh, từng những lần được sinh ra và bị chết đi, cùng với hoàn cảnh của mỗi đời, trong hằng hà sa số kiếp. Lúc ấy chúng ta mới biết tất cả thế gian đã thành tựu cho mình như thế nào, và lúc ấy chúng ta mới biết từng con người, từng sự vật đã thương yêu chúng ta như thế nào, lúc đó nơi chúng ta mới khai mở tình thương và lòng biết ơn thật sự và tròn đầy. Có lẽ vì nhận thấy rõ ràng những nhân duyên đã tạo thành cho mình, mà một vị Bồ tát một khi tâm thức đã có thể vĩnh viễn đi vào Niết bàn, đã trở lại cuộc đời để giúp đỡ chúng sinh đời này qua đời khác .
Không phải ngẫu nhiên mà trái đất này được những nền văn hoá lớn gọi là Bà Mẹ. Dâù chỉ có một chút tình thương và lòng biết ơn cũng đủ cho con người vượt qua được hiểm họa tự tàn phá mình bằng cách hủy hoại môi trường. Không ai có thể tự mình sinh ra, không ai có thể tự mình hiện hữu, tất cả phải nhờ vào người khác, vào thế giới bên ngoài. Mỗi một cái phải nhờ vào tất cả các cái khác, đó là cái nhìn khơi dậy tình thương. Đó là cái nhìn pháp giới bằng bốn tâm vô lượng. Không ai có thể tự là chính mình, không ai có thể hiện hữu độc lập. Con người với tư cách là một thân thể, là một hội tụ của đất nước gió lửa; với tư cách là một thế giới tình cảm là một dòng biến dịch những xúc động tuỳ thuộc vào con người và thế giới bên ngoài, và với tư cách là một thế giới tư tưởng, thì không ai có thể nói là mình tư tưởng một cách độc lập, tư tưởng chỉ là những tương tác với những tư tưởng khác, với những sự vật khác. Ngay cả một nhà khoa học, tư tưởng của người ấy cũng không thể độc lập, tự mình. Họ phải cùng tư tưởng với những tư tưởng khác, hoặc chống lại, hoặc khai triển thêm của người đi trước, phải nương nhờ vào chiều hướng phát triển của thời đại mình và phải dựa vào thế giới trùng trùng biến dịch ở bên ngoài. Tất cả con người chúng ta đều là tuỳ thuộc, đều là duyên sinh. Vì cha mẹ tôi có, thức ăn thực phẩm có, nên có thân xác này. Vì có người khác và những tình cảm của họ, nên có tình cảm này. Vì có tư tưởng của người khác, nên phát sinh ra tư tưởng này. Tôi không là gì cả, tôi chỉ là những phản ánh, những tương tác của cuộc đời. Nếu cuộc đời này khác đi, thức ăn thực phẩm này khác đi, văn hoá này khác đi, tôi sẽ khác đi, thành một người khác. Tính cách duyên sinh nơi thân tâm mỗi người, đó là cái nhìn trí tuệ, cái nhìn hiểu biết. Và vì duyên sinh nghĩa là nhờ vào tất cả, tuỳ thuộc vào tất cả, đó là cái nhìn tình thương, cái nhìn từ bi. Đó cũng là cái nhìn giải thoát khỏi cái ta ngục tù hạn hẹp để mở ra với thực tại vô hạn, là con đường trí tuệ đi song song với từ bi của đạo Phật .
Tôi có mặt ở đời này là do cha mẹ, nên nếu tôi biết thương tôi, tôi phải thương cha mẹ. Và tôi không chỉ có một đời, nên tôi cũng thương cha mẹ nhiều đời. Tôi do cuộc đời này tạo thành, cho nên, nếu một người biết thương mình bao nhiêu thì người ấy phải thương yêu người khác và thế giới ngoại cảnh bấy nhiêu. Đơn giản vì không ai tự mình mà có, đơn giản vì một "cái mình" tách biệt không bao giờ có, đơn giản vì tôi và thế giới không thể tách biệt, chỉ là hai mặt của cùng một thực tại. Tôi không thể nào hiện hữu độc lập, tôi luôn luôn tùy thuộc, tôi sống vì và do tất cả những gì quanh tôi đang sống. Tính chất cộng sinh, cộng tồn đó mở ra cái thế giới của tình thương .
Tất cả chúng ta đều là duyên sinh, nên tất cả chúng ta cộng thông ở trong tình thương. Ở đây trí tuệ và tình thương hợp nhất. Từ tình thương người ta có thể khám phá ra duyên sinh, là phương diện của trí tuệ. Và từ duyên sinh là phương diện của trí tuệ, chúng ta có thể khám phá ra tình thương. Với suy nghĩ bình thường, duyên sinh (hay vô ngã, hay giải thoát) và tình thương dường như là hai điều đối nghịch. Nhưng với đạo Phật, cái nghịch lý ấy được hài hoà ở tận chỗ sâu thẳm của con người. Và mỗi khi thành tựu được điều ấy, mới có thể hiểu biết và thương yêu thực sự .
(Tuần báo Giác Ngộ số 127 –9/1998)