TRẦM TƯ VỀ GIA TÀI ĐẦU TIÊN CỦA CON NGƯỜI
THÍCH PHƯỚC ĐẠT
Dù con theo trọn kiếp người
Cũng không đi hết những lời mẹ ru
Có lẽ đây chính là gia tài đầu tiên mà nhân loại được thừa hưởng. Bằng lời ru dịu ngọt của mẹ hiền, sự nghiêm trì giáo hạnh của người cha, hạnh phúc đầu tiên và cuối cùng của con người hầu như được thiết lập bằng lòng hiếu thảo của muôn vạn người con sống trên các nẻo đường đất nước, của mọi quốc gia …
Thật vậy, ngay từ thuở lọt lòng, con người đã thọ lãnh và thừa kế gia tài đầu tiên :"Tình người", nó được kết tinh khởi đầu bằng tình mẫu tử, phụ tử keo sơn đậm đà. Đây là nguồn cội của dòng suối yêu thương, vô ngã, vị tha và từ bi. Dòng suối tâm thức hiếu hạnh chảy đến đâu, sự tươi mát trong lành tình người thẩm thấu tại đó. Những hương thơm quả ngọt dòng đời, sự bình an nội tại từ trong tâm thức cứ theo đây trổ đầy với niềm phúc lạc vô biên .
Câu chuyện báo hiếu của Ngài Mục Kiền Liên năm xưa đã đi vào huyền thoại trong tâm thức của mỗi người, để rồi trở thành hiện thực của lễ Vu Lan báo hiếu diễn ra hàng năm đối với người con Phật. Ngày Rằm tháng Bảy là ngày không chỉ có người con Phật mới tưởng niệm ân đức sinh thành của cha mẹ. Dù theo đạo nào đi nữa, ai ai cũng có tổ tiên ông bà cha mẹ, thế nên lễ Vu Lan thắng hội nghiễm nhiên trở thành ngày lễ đón mừng kỷ niệm gia tài đầu tiên nhân loại được thọ lãnh thừa hưởng : gia tài văn hoá tình người. Kinh Tương Ưng đã xác chứng ý niệm này :"Vô thỉ là luân hồi, này các Tỳ kheo, không dễ gì tìm được một chúng sanh trong một thời gian dài này lại không một lần nào làm mẹ làm cha !".
Hình ảnh Ngài Mục Kiền Liên bộc bạch sám hối, thỉnh cầu chư Tăng chú nguyện cho mẹ mình và tất cả chúng sanh thoát khỏi cảnh giới địa ngục khổ đau là hình ảnh sáng ngời về hiếu hạnh, nó có xuất xứ từ tâm hiếu thảo. Hương vị "Tình người" từ đây lan tỏa để rồi tạo thành dòng suối yêu thương ngọt ngào tuôn chảy khắp nơi. Khi nguồn suối yêu thương này chảy vào những trái tim yêu đương thì kết thành tình vợ chồng chung thủy trăm năm. Khi dòng suối trong thanh mát mẻ ấy chảy vào tâm thức anh chị em cốt nhục thì đây chính là tình huynh đệ thắm thiết như chân tay. Khi chất ngọt yêu thương của dòng suối thẩm thấu vào lòng mỗi người trong xã hội thì đây chính là "bốn biển đều anh em"; đến với nhau trong ý niệm tất cả là đồng bào thì đây là khúc nhạc lòng ân tình nghĩa cảm dạt dào. Khi nguồn suối yêu thương này chảy vào lòng dân tộc, quốc gia thì gọi là lòng yêu nước thương dân. Khi dòng suối ấm áp chân tình đó len lỏi vào từng hơi thở nhịp đập con tim, thức chuyển từ một trái tim đến muôn vạn trái tim thì tình này hoá thành tâm đại từ, đại bi cứu khổ cứu nạn của chư Bồ tát thương chúng sanh như con đẻ ruột rà! Xem ra tình phụ tử mẫu tử đã trao truyền cho nhân loại cái gia tài đầu tiên của nền văn hoá chứa chan tình người, khởi đầu cho những con tim biết yêu thương và hiểu biết .
Từ trong ý niệm "văn hoá tình người" này, tâm hiếu hoá thành tâm Phật, nó chuyển động vận hành từ đời sống hướng thiện dẫn đến sự thăng hoa của thiện, cuối cùng là sự tự thân chứng đắc giải thoát Niết bàn. Vẫn còn đó hình ảnh hôm nàoThái Tử Tất Đạt Đa trầm tư về mẹ cha. Ngài nhận biết rằng, mỗi khi chúng sanh đang còn đọa lạc trong dòng thác sanh tử luân hồi thì cha mẹ Ngài vẫn còn phải chịu khổ đau như mọi người. Chính lẽ sống này, Ngài đã giã từ cung điện vàng son lên đường thể nhập chân lý, phá vỡ tất cả các gông cùm thực tại đang trói buộc thân phận con người. Vượt qua các cám dỗ cuộc đời và sáu năm khổ hạnh rừng già tu học với các bậc đạo sư danh tiếng bấy giờ, tâm hiếu thảo ban đầu của Ngài đã chuyển hoá thành tâm giới, tâm định, tâm huệ, tâm giải thoát, giải thoát tri kiến sau 49 ngày đêm tư duy thiền định dưới gốc cây bồ đề. Kinh điển ghi lại những suy tư của Ngài :"Cha ta và tất cả chúng sanh rồi đây sẽ già yếu, sẽ khổ đau về thể xác. Ta phải làm gì cho những người thân yêu đó được hưởng quả phước tinh thần như một vị Sa môn kia? Ta phải tự giải thoát để giải thoát cho phụ hoàng, di mẫu Gia Du và toàn thể chúng sanh. Ta phải đem đến cho họ niềm an lạc vô tận, vô biên này". Xem ra với gia tài đầu tiên : văn hoá tình người đã thọ hưởng, Ngài đã tiếp nhận một cách trọn vẹn, giữ gìn như một hành trang quý báu vào đời để khai thị ngộ nhập Phật tri kiến cho tất cả chúng sanh. Chính tâm hiếu là tâm Phật, là cơ sở ngọn nguồn giải thoát mọi khổ đau bất cứ lúc nào bạn muốn thực thi hành trì. Cho nên khi biết phụ vương của mình sắp băng hà, Ngài đã trở về bên cha, thuyết giảng cho vua cha nghe thời pháp cuối cùng, gần một ngàn câu kệ được tụng đọc ròng rã trong bảy ngày đêm để vua cha đắc quả A La hán và thác sanh lên cõi trời Tịnh Cư. Ngày tang lễ phụ hoàng, Thế Tôn –bậc Đại Giác Ngộ Tối Thắng –vẫn nghiêng mình kề vai gánh quan tài, tự thân làm lễ trà tỳ cho vua cha dưới chân đồi núi Linh Thứu. Đối với Phật mẫu, dù cách biệt đôi đường, Thế Tôn đã lên cõi trời Đâu Suất Đà trong kỳ nhập hạ thứ bảy thuyết pháp liên tục ròng rã ba tháng, làm nhân duyên để mẹ đắc quả thánh Tu Đà Hoàn. Cho đến lúc sắp nhập Niết bàn, đại bi tâm của Ngài đã cứu độ không biết bao nhiêu chúng sanh, không có một phút giây dừng nghỉ. Cứ mỗi chúng sanh được hoá độ là mỗi gia tài đầu tiên của "văn hoá tình người" được trân quý gìn giữ, được thừa hưởng, được thăng hoa nở rộ trong niềm hạnh phúc vô biên vĩnh hằng. Dù bạn đang sống ở đâu, làm Phật Thánh, hay Nhơn Thiên giữa cõi đời này, tâm hiếu hạnh chứa chan tình người vẫn luôn tuôn chảy mãi hoài. Đó là niềm hạnh phúc đầu tiên và cuối cùng mà nhân loại cần thọ lãnh và thừa hưởng .
Về sau, các vị đại đệ tử của Đức Phật cũng đã thừa kế chân lý này để phát đại bi tâm, sống theo lý tưởng Bồ tát độ đời, cứu đời. Trong ý niệm đầy chất nhân văn của gia tài "văn hoá tình người", chính tự thân thể tính của chính nó đã chuyển hoá thăng chứng thành gia tài pháp bảo Phật bản trong mỗi chúng sanh hiện hữu giữa trần thế. Tại đây, dòng suối "văn hoá tình người" đầu tiên nghiễm nhiên trở thành dòng suối "văn hoá vô ngã" của đại bi tâm Bồ tát tuôn chảy vào các vùng văn hoá, giáo dục, đạo đức, kinh tế, chính trị , xã hội và đời sống của từng cá nhân con người đi qua từng dân tộc, quốc gia. Thực tế lịch sử đã minh chứng rất cụ thể lúc nào, thời đại nào tình người được chuyển hoá bằng chất liệu và thể tính của từ bi, hỷ xả, vô ngã, vị tha thì lúc đó, thời đại đó sẽ có những cá nhân con người an lạc, nhà nhà yên vui, hạnh phúc, xã hội thái bình, quốc gia hưng thịnh và độc lập hùng cường. Hẳn nhiên âmvang khúc khải hoàn ca của thời đại Lý Trần thịnh vượng xa xưa vẫn vang vọng đến tận bây giờ. Thế nên, sống giữa những năm tháng cuối thế kỷ thứ hai mươi hiện đại này mà hàng năm đến ngày Rằm tháng Bảy, dân chúng vẫn hướng về đại lễ Vu Lan như là một lễ hội truyền thống văn hoá dân tộc. Điều này xác định giá trị "văn hoá tình người" vẫn luôn được tôn vinh kế thừa, truyền trao đi từ thế hệ này sang thế khác …
Trong đời sống văn hoá tinh thần người Việt hiện nay, sự tích hay nguồn gốc của ngày Rằm tháng Bảy có thể không còn quan trọng đối với người này hay người khác; điều thiêng liêng nhất là vào ngày này, một cái cầu nối vô hình dường như được bắc giữa hai bến bờ sanh tử, không những cho những người sống với nhau, mà còn cho cả thế giới giữa người còn kẻ mất. Ngày này cũng là ngày xá tội vong nhân, ngày của những người đã nằm xuống trong lòng đất. Ngày đó họ được ăn no, mặc đẹp, được tự do trở về sống với người thân bên mái ấm gia đình và toàn thể xã hội. Tại đây, ý niệm "đồng bào" của huyền sử trăm trứng nở trăm con của vị cha già dân tộc Lạc Long Quân và mẹ hiền Aâu Cơ sống dậy, để trên ngực mỗi người cài một bông hồng tươi thắm để biết mình mãi mãi vẫn còn mẹ còn cha .
Đến đây, dù bạn là người phương Đông hay là phương Tây, đang theo tín ngưỡng tôn giáo gì đi nữa thì gia tài đầu tiên được mẹ cha trao truyền của thuở ban đầu :văn hoá tình người vẫn còn đó, hãy trân quý giữ gìn và sống với nhau bằng nguồn suối hạnh phúc của dòng văn hoá vô ngã trên bước đường hướng đến một thế giới hạnh phúc chân thật .
( Tuần báo Giác Ngộ số 127 –9/ 1998)