CA DAO THÁNG 7

NHƯ ĐỨC

Buổi trưa đi về, qua những tàn cây mát rượi, nghe tiếng mẹ ru con :

Aàu –ơ-

Ví dầu cầu ván đóng đinh

Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi

Giọng ru kéo dài đẩy đưa những âm điệu ầu ơ …như dỗ dành; không phải chỉ có đứa con buồn ngủ mà cả khoảng nắng trên cao cũng muốn rũ xuống nghỉ ngơi trên chiếc võng mềm. Tiếng ru này dứt, đi qua một vài nhà, sẽ nghe tiếng ru khác nối theo.

À ơ

Chanh chua thì khế cũng chua

Chanh có tuỳ mùa khế có quanh năm

Bài hát ru con của mẹ là bài học cho con, là bài thơ mô tả thiên nhiên. Mẹ dắt con đi dần vào thế giới, mai sau con sẽ thấy thế nào là cầu ván đóng đinh … thế nào là cây chanh, cây khế. Những câu ru con dựa vào hình ảnh gần gũi quanh nhà :"Chiều chiều vịt lội bờ ao…" Chèn ơi, con vịt đang lội trong ao cũng được mẹ dắt vào bên võng. Cũng có buổi chiều khác :

Chiều chiều ra đứng ngõ sau

Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều

Lời ru này không dành cho con, mà là một cách diễn tả của mẹ. Tại sao phải ra đứng ngõ sau? Có thể vì quê ngoại hướng đó, cũng có thể cái tình cảm nhớ nhà đó phải giấu ở ngõ sau. Con sẽ học dần thế giới nhiêu khê phức tạp của người lớn, không đơn thuần là :"Chim chuyền nhành ớt líu lo" mà còn có "Mảng sầu con bạn ốm o gầy mòn"; cái vui và cái buồn đi gần nhau. Có khi bụi chuối sau hè lại gợi lên một hình ảnh khác :

Gió đưa bụi chuối sau hè

Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ

Cái buị chuối, chuối mẹ và chuối con xúm xít như gia đình, ông cha đi đâu mất? Rồi một cơn gió đưa khác :

Gió đưa cây cải về trời

Rau răm ở lại chịu lời đắng cay

Phải có ở nhà vườn mới thấy được cây cải xoè lá che chở bụi rau răm mọc ở dưới gốc, một ngày nọ người ta nhổ cây cải đi, còn "rau răm ở lại" .

Ca dao vẫn với lời ru, bằng hình thức dạy dỗ :

Chim khôn kêu tiếng rảnh rang

Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe

Không ít lời ru bước sang lĩnh vực ca dao vì tính chất phổ thông đơn giản :

Ra đi mẹ có dặn dò

Sông sâu chớ lội đò đầy chớ qua

Gặp người đáng bậc mẹ cha

Chào thưa vâng dạ mới là gái ngoan

Nhưng có khi lời ru muôn đời ở vị trí lời ru dỗ :

Ru em em thét cho muồi

Để chị đi chợ mua vôi ăn trầu

Mua vôi chợ Quán chợ Cầu

Mua cau Nam Phổ mua trầu chợ Dinh

Câu ru mang tính cách địa phương, chỉ có dân Huế mới biết chữ "thét" có nghĩa là ngủ. Một lô địa danh tên chợ, cái vui ngầm, cái náo nức khi cô chị kể ở đây, có mấy miếng cau trầu mà qua bao nhiêu chỗ .

Tháng Bảy mùa Vu Lan. Buổi trưa sau giờ thọ thực, chư tăng Ni tụng bài kinh Báo hiếu. Âm ba quen thuộc vang lên :

Một thuở nọ Thế Tôn an trụ

Xá Vệ thành, Kỳ Thụ viên trung

Câu chuyện của Tôn giả Mục Liên cứu mẹ được nhắc đi nhắc lại, như một hình thức ca dao truyền khẩu. Chúng ta thông cảm với Tôn giả, lo lắng khi thấy mẫu thân trong hình thức ngạ quỷ :

Mau mau về đến giảng đường

Bạch cùng sư phụ tầm phương giải nàn

Còn hình ảnh bà Thanh Đề :

Thấy cơm mẹ rất lo âu

Tay tả che đậy, hữu hầu bốc ăn

Những bà mẹ trong đời, có thể bịt kín mọi cảm thông tình người, để chỉ khư khư lo cho con cháu, có khác gì đâu. Chúng ta thương hay trách? Chỉ cầu xin sức Tam bảo mầu nhiệm chuyển đổi tấc lòng. Ngày Rằm tháng bảy, ngày mãn hạ, có sự dung thông hoan hỷ trong Thánh chúng. Các bậc ẩn cư lâm tuyền, các bậc chuyên tâm mật niệm…cho đến các thầy Tỳ kheo bình thường đều đến dự trai phạn :

Tất cả các bậc Thánh, phàm

Đồng lòng thọ hưởng bát cơm lục hoà

Bát cơm lục hoà là phương thuốc hoá giải cho bát cơm ích kỷ của bà Thanh Đề. Chư Tăng trong ba tháng an cư, mỗi vị tự chọn cho mình một chỗ trú thích hợp, một chốn ẩn cư trong rừng hay trong làng, cùng tu tập với nhau thành nhóm hay tu tập riêng lẻ. Thời gian đó được hiểu như là thời gian dành cho chính mình, tự rút sâu vào an trú nội tâm, xa lánh sinh hoạt thế tục. Nhân có nhiều vị chứng từ Sơ quả đến Tứ quả, có nhiều vị thấy đạo mà danh từ kinh gọi là "được con mắt pháp", và rất nhiều rất nhiều vị được lợi ích an vui. Ngày tự tứ hay ngày giải hạ là lúc trở về tịnh xá, cũng đảnh lễ nhau, thưa hỏi về lỗi lầm nếu có trong thời gian ở riêng. Đó là một nghi thức hoà hợp tốt đẹp nhất, dù bậc chứng Thánh đến đâu cũng không bỏ qua .

Thế nên :

Vì ngày ấy Thánh tăng đều đủ

Dẫu ở đâu cũng tụ hội về

Như người thiền định sơn khê

Tránh điều phiền não chăm về thiền na

Hoặc người đặng bốn toà đạo quả

Công tu hành nguyện thỏa vô sanh

Hoặc người thọ hạ kinh hành

Chẳng ham quyền quý ẩn danh lâm tòng

Cùng nhau sám hối là cùng nhau chỉ lỗi và đồng thọ một bát cơm cúng dường, không phân biệt là bậc Bồ tát đăng địa hay người mới vào đạo. Chỗ không còn thấy ta-người, không thấy có chứng đắc là chỗ vô ngã cao nhất, trong tinh thần đó những vướng mắc hẹp hòi đều được xoá tan. Nhờ sức chú nguyện của đại chúng, những tâm hồn yếu ớt cô đơn được nâng lên, được vực ra khỏi hầm lửa chướng ngại do chính mình tự tạo. Cho nên kết quả là :

Như còn cha mẹ hiện tiền

Nhờ đó cũng đặng bá niên thọ trường

Như cha mẹ bảy đời quá vãng

Sẽ hoá sanh về cõi thiên cung

Đó là chỗ Đức Phật đặc biệt nhấn mạnh về phép cúng dường ngày tự tứ,ngày tượng trưng cho sức hoà hợp, sức mạnh của Tăng già. Kết thúc của câu chuyện là hình ảnh vui đẹp :

Mục Liên mẫu cũng trong ngày ấy

Kiếp khổ về ngạ quỷ được tan

Và từ đó mãi mãi về sau, chúng ta thường được nghe kinh Vu Lan trong mỗi tháng 7. Nếu chỉ chú trọng về phần huyền nhiệm, chúng ta quên cội nguồn của giải thoát ngạ quỷ là từ sức dung thông hoà hợp của chúng Tăng .

Bài kinh đơn giản, gần gũi với cuộc sống như ca dao, như lời ru. Không có thế giới Hoa tạng, không có triết lý cao siêu hoằng viễn, không nhiều danh từ rắc rối, nhưng ngân vang trong mỗi tâm hồn Phật tử .

(Tuần báo Giác Ngộ số 176 –8/1999)



bullets08.gif - 0.2 KTrang MỤC LỤC
bullets08.gif - 0.2 K Trang chính