Kỳ VII
Luyện xuất hồn để Tự Chữa Bệnh
và Chữa Bệnh Cho Người Khác
Một số môn đồ Vô Vi tin rằng nhờ
luyện môn xuất hồn này nên họ được khoẻ mạnh, ít bệnh, tâm thần an ổn. Nếu quả
được vậy thì thực tế cho thấy số môn đồ đó không bao nhiêu so với đại đa số đã
và đang được “chữa chạy” bằng đủ các ngón : từ súc ruột, uống thuốc Nature's
Sunshines, cho đến uống nước tiểu, tắm hơi, v.v., và cho đến cả massage.
Về thuốc Nature's Sunshines, các lọ
thuốc hoặc các bịt lớn thường được chia ra từng gói nylon nhỏ, bán lại cho môn
đồ. Tôi từng nghe các môn đồ tự hào “thuốc của Vô Vi chúng tôi...”, chứng tỏ họ
không hề biết đến nguồn gốc của các loại thuốc ấy.
Về ngón massage... trị bệnh, điển
hình như trong một thông báo vào tháng 9, năm 1998, về cái gọi là “Khóa Thanh
Lọc”, tại khách sạn Holiday Inn, Costa Mesa, California, ban tổ chức dự trù
nhiều tiết mục chữa bệnh, trong số có mục massage, do “bạn đạo M.” phụ trách.
Cũng như các món khác, món massage Shiatsu này được quảng cáo nghe rất kêu là
“Chương Trình Thoa Bóp Bấm Huyệt Ðả Thông Kinh Mạch”. Bản thông báo nhắc nhở
mọi người rằng “Anh M. cần trung bình khoảng một giờ đồng hồ cho mỗi người”.
Ðiều này có nghĩa ai muốn được anh M. massage thì phải chi tiền cho anh thoa
nắn ít nhất một giờ đồng hồ mới có kết quả, chứ nếu chỉ 15 phút hay nửa giờ
thì... e rằng không đủ dose, kinh mạch không “thông” được.
Ngoài món thoa và bóp nói trên, còn
có nhiều món khác như dưới đây, được đảm trách bởi các môn đồ Vô Vi Ở cũng theo
bản thông báo cho biết Ở đã “tốt nghiệp nhiều khóa chuyên khoa” và “rất giầu
kinh nghiệm” :
“Chương Trình Sửa Soạn Ruột, Trừ
Khử Ký Sinh Trùng, và Bồi Bổ Gan và Túi Mật” : đây là món súc ruột tôi đã trình
bày, có thêm nhiều chi tiết cặn kẽ như “Xin uống các loại thảo dược đặc biệt
tốt này theo đúng lời chỉ dẫn đi kèm trong gói”, và cuối cùng là “không nên
mang những thứ không bổ ích vào thể xác” kẻo “thân xác và cuộc đời sẽ thêm đau
thương.”
“Chương Trình Khám Mắt” : đây là
món chụp hình con mắt, rồi cầm cái
kính lúp xem, và phán “Cô lét tê rôn cao lắm, phải xúc ruột liền” như tôi đã đề
cập.
“Chương Trình Xem Máu” : món này do
một bác sĩ (?) không phải là người Việt phụ trách. Ông này lấy hai giọt máu
“nơi ngón tay út quí bạn” rồi sẽ nhìn qua kính hiển vi “có cỡ phóng đại 10 ngàn
lần”... “để phẩm định tình trạng sức khoẻ của các tế bào trong cơ thể.”
“Chương Trình Thanh Lọc Tuyến Hạch
Bạch Huyết” : món này được căn cứ vào “Hệ thống tuyến hạch bạch huyết không có
một trái tim để trực tiếp bơm liên tục như trong trường hợp hệ thống máu.” Môn
đồ nào chịu làm món này thì được cho uống nước muối Sodium Sulfate, nước
chanh-bưởi-cam, và “thường sẽ đi cầu nhiều lần. Dùng giấy thấm nước [chùi] cho
bới rát.”
Chưa hết : “Nếu đi cầu không đủ
kịp, nên súc ruột để giúp thải độc tố ra ngoài mau hơn...”
Ngoài dữ kiện khoa học huyền bí “Hệ
thống tuyến hạch bạch huyết không có một trái tim để trực tiếp bơm liên tục như
trong trường hợp hệ thống máu”, món
này còn căn cứ vào các huyền bí khác như “Lớp da trên thân thể quí vị...” có
thể “hấp thụ khí trời từ bên ngoài vào”,
nên “Chương trình Khóa Thanh lọc sẽ khuyến khích quí vị chà da khô, xông
hơi bằng thảo dược, ngâm mình trong nước muối biển nóng, và tắm nước nóng rồi
xối nước lạnh hằng ngày.”
Khoảng năm 1999, một môn đồ Vô Vi
tuổi độ trên 50, sống tại Hoa Kỳ, bị động tim, phải vào nhà thương cấp cứu và
điều trị. Sau khi được các bác sĩ Hoa Kỳ cứu sống, ông này nhất định mình đã
qua khỏi là nhờ đã luyện đạo xuất hồn. Ông viết một bài tường thuật dài, sao ra
gởi đi khắp nơi để trình bày kỳ công của ông và sự mầu nhiệm của môn luyện xuất
hồn. Trường hợp điển hình này lại cho thấy tính chất cực kỳ chủ quan và võ đoán
thường thấy của thầy trò đạo Vô Vi, nhưng những báo cáo như vậy lại được các
môn đồ Vô Vi hết lòng tin nhận, không hề thắc mắc. Nếu nhờ luyện xuất hồn được
khoẻ mạnh thì sao lại bị bệnh thập tử nhất sanh như thế ấy ??? Nếu tự chữa bệnh
được bằng “điển” thì sao lại để cho xe cấp cứu chở vào nhà thương, để các bác
sĩ và y tá phải bở hơi tai cứu mạng mình ???
Nếu nói nhờ tu luyện đạo Vô Vi nên
được ít bệnh thì chính mắt tôi đã chứng kiến các cao đồ đạo này cũng bị cảm cúm
như ai khi mùa cúm đến. Ngoài ra, chính LSH cũng vẫn còn bị huyết áp cao và
quạu quọ mỗi ngày thì “hết bệnh” và “tâm thần an ổn” ở cái khổ nào ???
Trong những “Khóa Thanh Lọc” nói
trên và những “khóa” tương tự được tổ chức đều đặn tại các địa điểm khác nhau.
“Ðức thầy” LSH có đến chủ tọa, nhưng từ trước đến nay tuyệt đối không bao giờ
có tiết mục LSH dùng điển để chữa bệnh cho các môn đồ, hoặc các môn đồ dùng
điển... chữa bệnh cho nhau. Trái lại, chỉ toàn là các ngón chữa bệnh tân thời
không hề được các hãng bảo hiểm y tế chấp nhận và đài thọ. Dĩ nhiên, ngoài phí
tổn di chuyển và thời gian trung bình một tuần lễ, các môn đồ Vô Vi phải chi
tiền cho những món mình muốn thử, hy vọng sẽ được hết bệnh, trẻ ra, lâu già.
Những ai theo dõi phong trào “New
Age” phát khởi từ trên 15 năm trước, hoặc ghé vào những Psychic Fair và Craft
Fair, đều có thể thấy rõ hầu hết các ngón chữa bệnh của đạo Vô Vi đều nằm gọn
trong đó. Nào là khám bệnh bằng cách nhìn tròng con mắt, nào là chụp hình hào
quang, cho đến massage, phong thủy, bói bài Taro, máy xung động điện T.E.N.S.
cầm tay, máy lúc lắc cặp giò cho “khí” lưu thông, v.v. và v.v.
Xem thế, điều gọi là “tu Vô Vi sẽ
có khả năng tự chữa bệnh và có thể dùng điển chữa bệnh cho người khác” là sự
thực, hay chỉ là một ảo tưởng, hoặc một điều lừa bịp ? Tôi xin để độc giả và
các môn đồ Vô Vi tự giải đáp.
Tác
động ma túy ?
Tổng quan, có hai sự kiện đáng ghi
nhận nơi đây :
1. Tôi
nhận thấy những người có trình độ suy lý thấp và hiểu biết kém không hề thay
đổi theo chiều sáng sủa hay tốt đẹp ra sau nhiều năm trường siêng năng luyện
xuất hồn và đều đặn hấp thụ những giáo điều “chân kinh” của tổ sư ÐTH và Phật
Tám LSH. Trái lại, họ, cũng như những người có trình độ văn hóa và hiểu biết
khá hơn, tất cả nay chỉ biết suy lý theo một chiều duy nhất : hồn-vía-điển.
Ðiều này không có gì đáng ngạc
nhiên, bởi như tôi đã trình bày trong những chương trước, chính những người dẫn
đầu là tổ sư ÐTH và Phật Tám cũng chẳng hề sáng suốt gì ra nhờ luyện môn này.
Lý trí đã không hề mở mang thì chớ, lại mờ ám thêm đi.
2. Có
những người đổi tánh (nhất thời hoặc lâu dài), thí dụ như từ “hay cằn nhằn vợ
con” thành “bả nói gì, làm gì, tôi cũng thây kệ, tôi không có la bả như hồi
trước nữa”. Tôi nhận thấy dường như kết quả này đến với những môn đồ cao niên
nhiều hơn là với các môn đồ còn trẻ tuổi hoặc trung niên.
Hai sự kiện trên và sự kiện một số
môn đồ tự đắc khoe rằng “hít một hơi vô thấy mát lạnh, têêêê mêêêê, đã lắm” cho
tôi thấy những điều môn đồ Vô Vi gọi là “cảm thấy khoẻ hơn, ít bệnh, hết bệnh,
và tâm thần an ổn” phần lớn thực ra chỉ là cảm giác mà thôi.
(Vấn đề này không khó hiểu mấy nếu
chúng ta nhớ rằng mỗi khi bị nhức đầu hoặc sổ mũi, uống hai viên Tylenol hoặc
Aspirin vào thì chỉ độ hơn 15 phút sau là tâm thần thấy chùng xuống, nhẹ người
ra. Chúng ta cảm thấy thoải mái, dễ chịu, nhưng đầu óc không còn có thể tập
trung tư tưởng để suy tính hay tìm cách giải quyết vấn đề một cách sắc bén như
trước. Chúng ta không còn hứng thú lý sự, tranh biện, hoặc... cằn nhằn gì nữa,
và bằng lòng với cảm giác an bình giả tạo. Tất cả chẳng qua chỉ là vì
Acetaminophen và Aspirin có tác dụng làm xoa dịu thần kinh, và đó là tác dụng
chung của các loại ma dược.)
Vậy những cảm giác nói trên của các
môn đồ Vô Vi có từ đâu ra ?
Từ những năm thuộc thập niên 1980,
nhiều người đã nêu ra một dữ kiện quan trọng của môn luyện xuất hồn bằng cách
Nút Tai - Bịt Mắt của đạo Vô Vi. Ðó là : hai ngón tay cái đút chặt vào hai lỗ
tai khiến các nhĩ huyệt bị kích phấn, gây cho cơ thể tiết ra chất endorphin, và
chất này có tác dụng tương đồng với ma dược.
Dĩ nhiên, LSH nổi sùng và tức khắc
bác bỏ như sau:
- “Không ! Không phải ma túy như
mấy người đó nói. Ngược lại, chúng ta bịt lại thì cái chấn động lực gia tăng
mạnh hơn. Chấn động lực là nói về bên Vô Vi. Còn cái kia thuộc về Y Khoa. Họ
không hiểu nên cho đó là ma túy. Y
khoa có nhiều cái chưa hiểu, đừng có tưởng là tới đích, chưa tới đích đâu !”
Xin người đọc chớ thắc mắc “cái
chấn động lực” đó là cái gì, bởi chính LSH cũng chỉ mường tượng lờ mờ rằng nút
chặt hai lỗ tai và tự nhủ thầm “tung lên đầu, tung lên đầu”, thì điển phải dồn
lên đầu. Dồn miết nó phải bung ra, đó là cục sáng bay lờn vờn trước mặt, là cục
“Mô Ni Châu”, chính là “hồn”, là “Ta”, là “Chơn Ngã”, v.v. LSH gọi có được như
vậy là nhờ chấn động lực. (Có môn đồ
viết thư than gia đình bất hòa nên ông ta không luyện xuất hồn đều đặn được,
thì LSH gọi đó là “phản chấn động lực của gia đình” !)
Cũng xin chớ thắc mắc bác sĩ y khoa
nào đã dám tuyên bố láo rằng y khoa đã “tới đích” khiến LSH đổ quạu, dẫu rằng y
khoa đã cứu sống LSH, và cũng đã mổ mắt cho LSH vào đầu năm 2000.
Tuy nhiên, tính chất “ma túy” nêu
trên có thể chính là câu giải đáp cho sự
kiện này : nhiều người luyện xuất hồn Vô Vi sau một thời gian vài ba
tháng cho đến sáu tháng đã cảm thấy :
Ðầu óc nhẹ nhàng, thảnh thơi
Không còn cằn nhằn vợ con
Hết nhức đầu, hết nhức lưng
Cảm thấy “vạn vật thái bình”, an ổn
Cảm thấy mình là một phần của
“Thiêng Liêng ở trển”... giáng lâm xuống đây, bị nhốt kẹt trong cái xác này để
học bài
v.v.
Một ít các cụ nhất định là nhờ
luyện xuất hồn nên được khoẻ mạnh, trường thọ. Tuy nhiên, nếu các môn đồ Vô Vi,
trẻ cũng như già, cứ đi bộ cho đúng cách là cũng có kết quả rất tốt cho cơ thể
và tâm thần. Những ưu tư, phiền muộn sẽ lắng đọng, và sau một vài tháng sẽ thấy
kết quả cụ thể như ăn ngon, ngủ yên, tăng sức. Báo chí gần đây cho biết đi bộ
có thể ngừa được và giảm được nhiều bệnh, kể cả một loại bệnh tiểu đường.
Nếu nói riêng về endorphin, ngoài
món đi bộ, các môn chạy bộ lúp xúp, hoặc massage, hoặc ngâm mình trong bồn nước
ấm cũng có thể khiến cho cơ thể tiết ra chất này.
Khoảng năm 1976, tại Sài Gòn, tôi
có đến dự buổi thuyết trình của bác sĩ Trương Thìn về đề tài “Trị liệu bệnh
ghiền ma túy bằng phương pháp châm cứu.” Có khoảng 150 châm cứu gia hai miền
Nam-Bắc đến tham dự. Bác sĩ Thìn là một tây y sĩ nhưng cũng giỏi khoa châm cứu.
Ông tường trình rất cặn kẽ việc ông dùng khoa châm cứu để chữa trị những người
ghiền ma túy tại “Trại Phục Hồi Nhân Phẩm”, nơi ông giữ chức vụ y sĩ trưởng.
Phần trình bày thành quả trị liệu
của bác sĩ Thìn làm mọi người tham dự hôm ấy ngạc nhiên và cực kỳ phấn khởi.
Bảng so sánh cho thấy các phương pháp cai ma túy đang được áp dụng lúc bấy giờ
tại Việt Nam và tại các viện cai ma túy đắt tiền trên thế giới có hiệu quả sau
6 tháng, 4 tháng, 3 tháng, 2 tháng, hoặc 1 tháng, xuống đến phương pháp nhanh
nhất là 3 tuần. Còn phương pháp dùng khoa châm cứu của bác sĩ Thìn thì sao
? Phương pháp nhĩ châm của bác sĩ Thìn
cai bệnh ghiền ma túy chỉ trong 7 ngày !!!
Phim chiếu trên màn ảnh cho thấy
một người đàn ông mới nhập trại và đang lên cơn ghiền, vặn mình vật vã kịch
liệt dưới bốn cánh tay kềm giữ vất vả của hai y tá. Rồi thì hai người y tá cũng
giữ chặt được người bệnh để bác sĩ Thìn châm các mũi kim vào hai tai anh ta.
Chỉ hơn năm phút sau, con bệnh bớt dằn vật, rồi từ từ buông tay xuôi xuội, nằm
êm ru.
Bằng vào kết quả phi thường ấy, và
so sánh thời gian cai bệnh ngắn kỷ lục 7 ngày của bác sĩ Thìn, chúng ta có thể
biết việc kích động các huyệt tai quả thật rất là quan trọng. Kích động ấy
khiến cơ thể tiết ra lượng endorphin hoặc một hóa chất tương đồng nào đó, và
tiết ra nhiều đủ để hóa giải cơn ghiền một cách mau chóng và thần hiệu.
Dữ kiện y khoa cụ thể này cũng cho
thấy : tổng kết các tác dụng sinh hóa trên cơ thể do các mũi kim ghim chính xác
vào các huyệt tai, với các tình trạng tâm thần, lý trí, lý giải của tổ sư ÐTH,
của Phật Tám LSH, và của các môn đồ, chúng ta có được một phần giải đáp cho
những kết quả Ở hoặc hậu quả bi thảm Ở của cái gọi là “Pháp Lý Vô Vi Khoa Học
Huyền Bí Phật Pháp”.
Thực tế cho thấy nhân điện hoặc
“điển” không hề thực sự chữa được bệnh như rất nhiều môn đồ Vô Vi vẫn còn mơ
tưởng. Họ ước vọng sẽ có điển để tự trị bệnh cho chính mình, và trị bệnh cho bá
tánh làm phước. Mộng ước diễm tuyệt của họ là một ngày không xa lắm mình sẽ chỉ
cần đặt nhẹ bàn tay vào da thịt người bệnh là người bệnh sẽ lập tức ngừng rên
rỉ, cơn đau kinh niên sẽ lật tức tan biến. Thế là căn bệnh trầm kha Ở mà lương
y Tây, Tàu đều đã bó tay Ở sẽ lành, rồi người bệnh sẽ thành kính, trân trọng tạ
ơn cứu tử, và mình sẽ... khiêm tốn từ chối không nhận tiền bạc.
Mộng ước đó đã, đang, và sẽ chỉ là
một ảo mộng !
Vì sao ? Vì ngoài sự kiện Chúa
Giê-su chữa khỏi cho chỉ một, hai con bệnh mà kinh thánh đã ghi lại, cho đến
nay vẫn chẳng thấy ai khác có khả năng thần bí đó. Hiện tại, có rất nhiều bệnh
nhân ung thư đang phải chịu đựng các cơn đau kinh khiếp từng ngày, từng giờ,
từng phút, từng giây, cho đến khi tắt thở trong các bệnh viện ung thư công, tư,
hoặc của các cơ sở tôn giáo. Chưa từng có một ai khoan thai bước vào các bệnh
viện ấy để dùng bàn tay mình thoa nhẹ vào da thịt người bệnh và chận đứng nỗi
thống khổ cho bệnh nhân. Nếu làm được việc ấy, họ đã chẳng ngần ngại gì làm để
có thể thu hút thêm tín đồ cho tôn giáo mình, hoặc để hốt bạc triệu, bạc tỉ một
cách nhẹ nhàng, và lại còn được nổi danh lẫy lừng khắp thế giới. Những màn bịp
chữa bệnh có tổ chức của các ông đạo trên các sân khấu đại hội trường đông hằng
ngàn người, hoặc tại những cơ sở tôn giáo, đều bị các nhà khoa học, các y sĩ,
và các phóng viên đưa ra các bề trái.
Thực ra, ước vọng có được khả năng
chữa bệnh nhờ luyện xuất hồn chỉ là một trong nhiều món tham rất đáng được
thương xót của thầy trò đạo Vô Vi:
1. Không
muốn bỏ tâm sức, năm tháng vào việc nghiên cứu và học hỏi Phật pháp cho tường tận
và tu hành suốt đời, mà chỉ muốn lẹ lẹ thành Phật, thành thánh chỉ sau một thời
gian vài tháng hoặc vài năm luyện xuất hồn. Riêng trong món này, LSH tự cho
mình là cao siêu hơn Phật Thích-Ca.
2. Không
muốn khép mình trong đời sống tu hành kham khổ để tu cho thành đạo, chỉ muốn
luyện xuất hồn “tê mê” và hưởng dục lạc thế gian, hãnh diện gọi đó là “đời đạo
song tu”.
Riêng trong món này, thầy trò Vô Vi
khinh bỉ những người tu hành xa lánh thế tục là... “hèn nhát”.
3. Không
muốn bỏ tâm sức và tiền của vào thời gian dài 20 năm đằng đẵng đi học để thành
bác sĩ y khoa, mà chỉ muốn mau mau có “điển” để chữa bệnh tài như thánh chỉ sau
một thời gian vài tháng hoặc vài năm luyện xuất hồn.
Riêng trong món này, đã mấy mươi
năm trời rồi mà thỉnh thoảng chỉ có ai đó tình cờ có chút kết quả tí ti. Thế
nên trong gần 20 năm qua, các môn đồ Vô Vi xoay qua học các lớp “M.D. cấp tốc”,
học nghề chẩn bệnh bằng kính lúp soi hình chụp tròng con mắt, xúc ruột,
“massage therapy”, v.v. Họ kiếm tiền bằng cách tổ chức những “khóa thanh lọc”
để thực hành các món chữa bệnh đó trên các đồng đạo. Tất cả mọi việc đều phải
có sự chấp thuận hoặc chủ trì của LSH.
Tất cả những dữ kiện kể trên quá đủ
để thấy bề trái của việc gọi là “tự chữa bệnh và chữa bệnh cho người khác bằng
điển” của đạo xuất hồn. Tuy vậy, những
ai vẫn còn ôm cứng mộng ước này Ở đặc biệt những người tại Việt Nam, có từ tâm
muốn làm phước cứu bá tánh nghèo khổ, bệnh hoạn Ở rất có thể vẫn không tin nổi đó
là sự thực 1000%, và vẫn còn tin vào “chánh pháp” Vô Vi.
Tuần Báo Phát Triển Ðiển Năng
(trước gọi là “Vovi LED”, viết tắt các chữ
“Life Energy Development”) số 305, ngày 6/5/2001, có câu giáo lý dưới
đây của LSH :
“Hỏi : Ðường nào là đường chánh
pháp ?
“Ðáp : Thưa đường xuất phát từ
trung tâm bộ đầu là đường chánh pháp, không thể bóp méo sự thật.
Tuần Báo này số 312, ngày
24/6/2001, thì có câu :
“Hỏi : Nguyên lý tròn hay méo ?
“Ðáp : Thưa, nguyên lý lúc nào cũng
tròn.
Vậy, tôi xin mời các độc giả đó đọc
tiếp phần cuối cùng dưới đây rồi sẽ tiếp tục luyện xuất hồn theo “đường chánh
pháp” và “nguyên lý lúc nào cũng tròn” ấy cũng không muộn.
“Tuần Báo Phát Triển Ðiển Năng” số 317, ngày 29/7/2001, đăng thư
của một môn đồ tên T. gởi cho “Ðức Ông Tám” :
“... Trong mười ngày gần đây, hình
như khi tiểu tiện, con bị “xuất tinh” hai lần, (giống như nước vôi, chớ không
giống như nước cơm) trong khi con không cương cứng, không rặn đại tiện. Sau mỗi
lần như vậy, con cảm thấy người mệt mỏi hơn cả giao hợp sáng đêm. Kế đó con
công phu không được, y như ruột xe bị bể, bơm hơi không vô. Ì ạch phải ba ngày
sau con mới công phu lại được và cũng chỉ được ba mươi phút mà thôi, cộng vào
bây giờ mỗi lần chiếu minh xong, khoảng 20 đến 30 phút là không kích dục thì
cũng nổi sân.”
Như thường lệ, “Ðức Ông Tám” phủi
tay :
“Con nên tìm thầy đông y bắt mạch
và sắc thuốc tàu uống ...”
Tuần Báo Phát Triển Ðiển Năng số
305, ngày 6/5/2001, đăng lá thư của ông MVT, 75 tuổi, tuổi Kỷ Mùi, qua Hoa Kỳ
năm 1990, gởi cho “ông Tám tôn kính” để xin chỉ giáo. Thư có các đoạn :
“Khi tôi còn ở Việt Nam, vào năm
1978, tôi theo tu với hai bạn: 1 - Anh Tư D (tác giả bức thư đính kèm) và 2 -
là anh Ba Ch, tu theo pháp của Ông là Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí.
Tu được một năm tôi thấy anh Tư D
đột nhiên phát điên cùng một lúc anh Ba Ch nổi nóng đến cực điểm vác dao chém
vợ con. Vì vắng mặt Ông, tôi không biết hỏi nguyên do sự trên với ai, hỏi ông E
và ông Sáu L, không ai giải thích thỏa đáng. Tôi hoảng quá, nên thôi, không dám
công phu nữa.
...
Và sau đây tôi nói rõ về nguyên
nhân “Ðiên” của anh Tư D để ông chỉ dạy ảnh khỏi tái phát.
Mục đích Tư D tu vì sợ trễ Kỳ Hội
Long Hoa (vì đạo gốc của anh là Ðạo Cao Ðài). Ngày công phu bốn lần: Tý Ngọ Mẹo
Dậu. Còn anh Ba Ch tu để đạt lục thông và có điện mạnh để trị bịnh cho bà con
lối xóm, cũng công phu 4 thời.
Mỗi đêm hai anh đều xuất hồn lên
Thiên Ðình, yết kiến Ngọc Hoàng Thượng Ðế và cùng gặp bà Tây Vương Mẫu sắp mở
hội Ðào Tiên, có bia ghi danh sách tên tuổi của anh D - Ch trên thiên đình.
Mừng quá, 5 giờ chiều hôm đó, hai người cùng Thiền để bỏ xác. Nghe tiếng động,
anh Ba Ch mở mắt ra thấy anh Tư D leo lên mái nhà giở ngói vừa nói: trở ngại vì
mái ngói nầy mà hồn không lên Thiên Ðình được.
Hốt hoảng Ba Ch chạy về nhà vác dao
rượt vợ con chém vì họ cản không cho tu. Còn Tư D từ đó điên luôn. Tôi thấy vậy
cũng hoảng hồn không dám tu nữa (công phu), vì vậy mà tôi qua bên Tịnh Ðộ Tông.
Kính thưa ông Tám, tôi nói ra đây
hết sự thật để Ông hiểu rõ nguyên do hầu độ chúng tôi đến con đường giải thoát.”
Tôi đánh máy các trích đoạn trong
lá thư của cụ MVT mà lòng không khỏi
buồn thương cho hai nạn nhân này. Chuyện “Hội Long Hoa”, chuyện “xuất
hồn lên Thiên Ðình thấy có bia ghi danh sách tên tuổi”, có gì là mới đâu ? Ðạo Vô Vi cũng đã náo nức chuẩn bị suốt thập
niên 80 để “Cha Trường” lên ngôi “Long Hoa Giáo Chủ”. “Ðức Ông Tám” cũng từng
khoe rằng mình đã lên “Thiên Ðình” lật sổ xem, thấy mình thành Phật cách nay
5000 năm. Và cũng cơn mê muốn “có điện mạnh để trị bịnh cho bà con lối xóm” !
Ông E. và ông Sáu L. là hai môn đồ
trong số các môn đồ Vô Vi kỳ cựu nhất. Hai ông này không giải thích thỏa đáng
cho nạn nhân, nhưng LSH thì có giải thích tức thì. “Ông Tám tôn kính” không dạy
các môn đồ phát điên ấy đi tìm thầy thuốc bắc. “Ông Tám tôn kính” viết một bài
trả lời dài thoòng để đổ tội cho họ đã “không phân tách sự việc trước khi
hành”, “mượn phương pháp thực hành của Pháp Lý Vô Vi mà hướng tâm về sự phù hộ
thì sẽ tạo loạn cho chính mình”, và phải “ăn uống điều độ trong cuộc sống thì
mới dễ hành pháp lý được” ...
Suốt mấy thập niên qua, có rất
nhiều báo cáo về những hậu quả của việc luyện xuất hồn Vô Vi, và các nạn nhân
đều thành kính xin LSH chữa trị hoặc chỉ dạy. Tất cả đều bị đổ tội lên đầu : vì
chính mình luyện sai, luyện không đúng cách, vì nghiệp chướng, vì không biết ăn
uống bổ dưỡng, vì không biết “đời đạo song tu”, v.v.
Ông Tư D., gốc đạo Cao Ðài, nhưng
vấn đề đã được ông MVT trình bày rõ rệt là ông Tư D. và ông Ba Ch. tu theo Pháp
Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí, và hai ông đã phát điên sau triệu chứng “lên thiên
đình giở sổ”. Tuy vậy, như thường lệ, LSH phủi tay và đổ tội cho các ông.
Các báo cáo khác như “trước trán có
một lỗ nhỏ hủng vào”, hoặc “trên đầu có cục u lên”, hoặc thấy đốm sáng, thấy
bay trên trời, v.v., được LSH khen ngợi và chúc mừng, ngay cả những trường hợp
có các hậu quả đi kèm theo.
Những môn đồ theo đạo Vô Vi trên
dưới 10 năm nay tất phải biết rất rõ điều này : Ông T., ông Tư D. và ông Ba Ch.
kể trên hoàn toàn không phải là những nạn nhân đầu tiên, và chắc chắn họ cũng
không phải là những nạn nhân cuối cùng của cái gọi là “Pháp Lý Vô Vi Khoa Học
Huyền Bí Phật Pháp”.
HẾT
Ngày 5, tháng 11, năm 2001.
ù
Sự thật - Kỳ VI
THƯ ÐỘC GIẢ VÀ HỒI ÐÁP KỲ 5
Kính gởi bà HLT,
Cảm ơn bà đã gởi tuần báo ấy để tôi "nghiên cứu thêm". Sự kiện ấy không có gì đặc biệt; một vài chi tiết khác đăng trong số ấy có phần ích dụng. Ngoài ra, có bao giờ bà tự hỏi bao nhiêu trong số những dữ kiện và "lá thư" của tuần báo ấy là thực, và bao nhiêu là bịa đặt ? Bà đã đọc tiểu sử của LSH mới được soạn lại gần đây chưa ? Trong đó có ghi đương sự tu hành "khổ hạnh". "Khổ hạnh" ??????
THƯ ÐỘC GIẢ khen ngợi PHẠM BÁ
Dr. PM viết :
Bạn Phạm Bá thân,
Trước hết xin phép kêu anh là bạn, vì tình cờ đọc được tài liệu trong web của anh, thấy vui và thích quá ! Chứng tỏ anh là một vị thiện tri thức lớn, rất am hiểu về đạo Phật, và có nghiên cứu nhiều về các giáo phái (sects, cults). Nhân đây xin yêu cầu anh, nếu có thể, với trí thức thâm sâu của mình, mổ xẻ tường tận giúp cho những người căn cơ yếu kém về Phật pháp hiểu rõ sự thật trong pháp tu "Nghe tiếng Cõi Trời" của vị Sư Phụ "Không có ai cao hơn" và compare phép màu của Sư Phụ với Bé Tám.
Ða tạ.Phạm Bá trả lời :
Xin chân thành cảm tạ những lời khen quá lớn lao của tiến sĩ. Tôi hoàn toàn không dám nhận, mà lại có phần cảm thấy xấu hổ ! Ngay từ khi bản tường trình này khởi đăng được vài kỳ đầu tiên, nhiều độc giả cũng đã đề nghị tôi làm một bản tường trình về "Sư Phụ". Tôi xin thưa chung đến tất cả quí vị, tuy tôi rất hân hạnh được quí vị tin cẩn và đề nghị, nhưng quả thực tôi không có được bao nhiêu thời giờ rảnh rỗi. Hơn nữa, có rất nhiều người hiểu biết cao rộng trên cả hai phương diện học vấn và đạo pháp, nhưng do bận tu hành, sinh kế, trách nhiệm gia đình, hoặc có nhiều việc quan trọng đáng làm hơn, nên họ không làm việc tôi đang làm đó thôi. (Như riêng tôi, trong gần một năm qua bỗng nhiên có rất nhiều việc đổ tới, việc nào cũng cần yếu hơn, cấp bách hơn, ích lợi hơn, hoặc... có nhiều phần thích thú hơn, nên phải làm trước. Chính vì vậy nên gần 10 tháng sau ngày phần "Tẩu Hoả Nhập Ma" đã được đăng, phần "Ðiển" đến hôm nay mới được cập nhật và đưa lên internet.) Một lần nữa, tôi xin cảm tạ những lời khen và đề nghị của tiến sĩ, và xin mời đọc qua phần thư... hăm he hồn vía Phạm Bá dưới đây.THƯ ÐỘC GIẢ hăm he hồn vía PHẠM BÁ
Ðộc giả TVP viết hai câu cụt ngủn :Hello Phạm Bá,
Lời thệ nguyện của anh sẽ được đáp ứng ! Chúc anh đi về địa ngục vui vẻ !Phạm Bá trả lời :
Tôi đọc lời phán của anh mà phải phì cười !!!
Chẳng hay anh sẽ cho tôi vào địa ngục vì chính anh là chúa ngục, hay vì anh có... "quen biết lớn" với chúa ngục nào đó, hay chẳng qua chỉ vì tôi trình bày những sự thực quá phũ phàng và quá đau đớn mà anh không thể nào ngờ được, và anh không thể tin nổi đó lại là những sự thực 1000% ??? Thưa anh, trải vô số kiếp, tôi đã phải qua nhiều cửa ngục, và tôi thấy đúng như Ðức Phật đã dạy : không có nỗi khổ nào lớn cho bằng nỗi khổ của sự ngu tối !
Anh chúc tôi "đi về địa ngục vui vẻ", dĩ nhiên là anh nói móc, nói đểu kiểu con nít với nhau đó mà. Tuy vậy, câu chúc này cho thấy anh không biết gì về một hạng người có khả năng "vui vẻ đi vào địa ngục". Ðó là hàng Bồ-Tát đại- thừa, và khi họ vào địa ngục thì những người xung quanh không ai biết họ là Bồ-Tát. Thường khi cho mãi đến khi họ không còn xác thân phàm tục như mình nữa, mình mới biết họ là Bồ-Tát.
Ngoài ra, xưa nay ở đâu cũng có hạng người tự xưng Bồ-Tát, tự xưng Phật sống, tự xưng đủ thứ tên gọi oai phong trùm thế giới, rồi la cà những nơi như nhà điếm, bàn nhậu, sòng bài, và rõ ràng cũng đam mê dục lạc vật chất hoặc dục lạc nam nữ như ai. Họ tự biện hộ và khoác lác mình "vui vẻ vào địa ngục" để độ chúng sanh, để chiến đấu với âm mưu của thế lực vô hình muốn xâm chiếm cõi này, để vào chỗ ô nhiễm mà không nhiễm ô, v.v. và v.v. Ðây là hạng bố láo, bịp bợm, và chỉ gạt được những người quá dốt Phật pháp mà thôi. Thực tình tôi rất thích mấy dòng chữ của anh. Chỉ trong có hai câu cụt ngủn, không đến 20 chữ, mà anh phô bày được nhiều đặc tính tôi thường thấy nơi thầy trò đạo xuất hồn : trịch thượng, tự thị ta đây, thích hăm he, và rất kém Phật pháp.Thư hăm he rất dài dòng của độc giả TNL :
Kinh goi ong Pham Ba,
Toi ten la TNL, mot nguoi da 23 nam tu thien theo PLVVKHHBPP, toi hien dinh cu o _______, trong nhung lan mang du tren mang luoi Internet, toi vo tinh tim ra duoc trang Web co nhung bai viet phe binh phap tu thien Xuat Hon ma toi da va dang thuc hanh.
Nhung bai viet cua ong neu xet ve su suy luan pham tran cua ha tri thi do la nhung bai viet hay, loi cuon nguoi doc, trinh bay sang sua, mach lac... Nhung neu xet ve tam linh thi do la nhung bai viet cua mot nguoi con trong vong vo minh ma da tuong minh la sang suot di phe phan mot vi cu si tu da dac dao!....... [Thư rất dài.]
Phạm Bá trả lời :
Kính gởi ông TNL,
Cảm ơn ông đã bỏ thời giờ ra viết lá thư dài 1015 chữ, và cũng xin cảm ơn những lời dạy bảo, triết lý, dẫn chứng Chúa Jêsu, Ðạo Ðức Kinh, v.v. của ông.
Sau đây tôi xin đáp một vài đoạn trong thư của ông :
A. Bắt đầu ngay nơi đoạn thứ hai ở trên :
1. Ông lập tức phán rằng những người như tôi là "hạ trí", "còn trong vòng vô minh", v.v. Ðiều này không có gì mới lạ. LSH và các môn đồ xuất hồn tự cho mình là người "thượng trí", đã ra khỏi vòng "vô minh", và tất cả những ai phê bình, nhận xét "Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Phật Pháp" không thuận với tôn ý của các ngài tu đạo này thì đều thuộc hạng "hạ trí" và còn trong vòng "vô minh" hết !!!
2. Ông dùng những chữ "một vị cư sĩ tu đã đắc đạo" để chỉ LSH cũng không đúng tí nào, và rõ rệt là ông cũng chẳng thực sự hiểu rõ những chữ "cư sĩ", "đắc đạo". LSH không phải là một cư sĩ. Cư sĩ là người tại gia đã thọ ít nhất là Ngũ giới của Phật giáo, có pháp danh, và noi theo con đường của Ðức Phật Thích Ca. LSH chưa từng thọ giới nên không hề có pháp danh, ngược lại còn khinh thị Ðức Phật Thích Ca. Cái gọi là "pháp danh Lương Vĩ Kiên" cũng chỉ là một danh xưng mới nhất trong số cả lố các danh xưng của LSH. Dĩ nhiên ông đã biết quá rành "Phật Vĩ Kiên" cũng chỉ là một danh hiệu do LSH tự phong từ lâu. Việc ông không hiểu rõ chữ "cư sĩ" cũng chứng minh thêm sự kiện đại đa số môn đồ Vô Vi, cho đến chính "tổ sư ÐTH" và "đức thầy LSH", đều rất dốt Phật pháp ngay cả đến những từ ngữ bậc sơ cấp. Ðó lại là thêm một điều chẳng hay ho và đẹp đẽ gì để ghi ra đây, nhưng là một trong những sự thật và những yếu tố chánh yếu khiến cho tất cả thầy trò rơi vào tình trạng tối tăm, hoang mang, mâu thuẫn, lủng củng, bi đát trên con đường được họ gọi là "đời đạo song tu" và việc gọi là "đắc đạo thành Phật".
LSH chỉ "đắc đạo" theo sự tự tin, tự xưng của đương sự, và theo lòng cả tin của các môn đồ Vô Vi mà thôi. Qua đoạn thư này, ông muốn khẳng định "LSH là một cư sĩ Phật giáo đã tu đắc đạo, thành Phật". Ðiều này không những sai lầm lớn mà còn cho thấy ông chấp nhận không thắc mắc và cương quyết tôn sùng, cương quyết thờ kính một kẻ tự xưng là Phật nhưng còn vui thú nơi những phố thị ăn chơi muôn ánh đèn màu, đắm luyến các sòng bài quốc tế khắp nơi, thích sống trong các khách sạn hạng sang quanh năm, nổi sân bất cứ lúc nào, với bất cứ ai, vì bất cứ lý do vặt vãnh gì, v.v. và v.v. Những ai không đồng ý với tấm lòng cương quyết như sắt thép ấy của ông và của các môn đồ Vô Vi khác đều được ông xếp vào hạng "hạ trí" và "vô minh" cả !Ông viết :
O ben xu Phu Tang co mot anh chang mu co mot buoi toi no, anh ta ra duong voi cay den cay cam trong tay, dang di bong anh bi mot nguoi di duong dung phai, khien anh te xuong mat duong, anh voi la am i rang: bo dui hay sao ma khong thay cay den cua toi dang chay ho? Nguoi kia voi vang xin loi anh ta va noi rang: ong oi cai den cay cua ong cam tren tay da bi gio thoi tat tu lau roi, no dau con chay nua!!
.....
Phạm Bá trả lời :
Ông dẫn chứng thêm câu chuyện trên để chứng minh tôi còn mù tối, nhưng có lẽ chính ông không hề biết rằng đó là một mẩu chuyện có đặc tính Phật Giáo Ðại Thừa, và chẳng có liên hệ gì với đạo hồn vía. Ðạo Phật không liên hệ gì đến xuất hồn, xuất vía. Xuất hồn là trọng tâm của đạo Lão, và đạo này đã suy tàn từ lâu vì tính chất không tưởng của nó. Tuy vậy, cụ ÐTH, LSH, và các môn đồ Vô Vi rất thích dẫn chứng càn và dùng bừa các ngôn từ của Phật Giáo, vì vậy dùng đâu là sai đó. Ðiều này còn cho thấy cụ ÐTH và LSH cũng chẳng am tường gì về đạo Lão. Nói chung, đạo Vô Vi là một trường hợp tiêu biểu của tình trạng "tu mù". Hậu quả là LSH huênh hoang "thành Phật trước Phật Thích-Ca 2500 năm", khinh bỉ Phật Thích-Ca và giáo pháp của Ðức Phật, và phán dạy đệ tử không được xem kinh nhà Phật chỉ vì kinh nhà Phật chẳng đá động gì đến luyện xuất hồn thì chớ, lại còn cho những môn tu luyện và những hành vi như của đạo Vô Vi là tà đạo.
(Tu mù : "Tu mà không học là tu mù" : không chịu nghiên cứu, học hỏi cho tường tận trước khi tu, tự mò mẫm làm theo ý mình nghĩ tưởng. Tu ít lâu thấy vài hiện tượng trong thâm và tâm, tự cho là cao, là siêu việt, là thành đạt rồi.)
Ngoài ra, thưa ông, khi ông đọc những mẩu chuyện như thế, đáng lẽ ông phải suy ngẫm thêm một tí nữa : sau khi anh mù ấy bị người lạ va vào (chỉ va vào thôi chứ không đụng anh khiến anh "té xuống mặt đường" như ông viết) và sau đó được người lạ cho biết cái đèn lồng (không phải "đèn cầy" như ông viết) của anh ta đã tắt, anh mù liền "trắng mắt ra", và tự hối. Có lẽ anh xin lỗi người lạ nọ, nhưng mẩu chuyện không ghi lại phần đương nhiên đó. Vài ngày sau, anh mù trở lại nhà người bạn để trả cái đèn lồng, và thuật lại câu chuyện đã xảy ra, rồi có lẽ người bạn ấy đã ghi lại trên giấy mực, nên ngày nay chúng ta mới biết đến. Nếu như anh mù sau khi được người lạ cho biết sự thật, anh liền nổi sân, hăm he hồn vía người ta, đòi bỏ người ta vào địa ngục, trích dẫn kinh này, sách nọ lăng nhăng, hoạnh hoẹ cho oai, thì ngày nay chúng ta làm gì có câu chuyện hay đẹp đó mà đọc, thưa ông !Ông viết :
Chua Jésus cung noi khong khac: mot anh mu dan ca dam nguoi mu di thi ket qua se ra sao? Tat ca deu se lao xuong vuc tham!
Phạm Bá trả lời :
Ông dẫn chứng thêm cả chúa Jêsu cũng để chứng minh tôi còn mù tối, nhưng ông hãy thử nghĩ chiều ngược lại xem sao ?! Phải chăng chính những kẻ mù ÐTH, LSH, đã và đang dẫn dắt các môn đồ xuống cái vực thẳm có tên nghe rất kêu là "Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Phật Pháp" ??? Ông có thấy thầy trò đạo này đã và đang nhốn nháo, cãi vả nhau, sân si nhau, hăm he hồn vía nhau trong vực thẳm tối đen có cái tên dài giòng ấy?
Thưa ông TNL, ông đã bỏ quê cha, đất tổ, bỏ cơ nghiệp, bỏ thân bằng, quyến thuộc, liều chết đi tìm tự do, và ông đã được những cơ quan từ thiện quốc tế giúp đỡ, rồi được cho phép định cư tại một quốc gia tự. Ông đang là một công dân tự do, sống trong một thể chế dân chủ, văn minh. Chẳng ai có quyền bỏ tù ông, hay nhốt ông vào địa ngục nào đó, hoặc hăm he hồn vía ông chỉ vì ông thử suy nghĩ, suy luận, và phán đoán vô tư, không chịu nô lệ cho bất cứ cá nhân, chủ thuyết, chủ nghĩa, tà thuyết, tà đạo nào. Ông hãy thử để ra 5, 10 phút cho trí óc ông suy luận một cách hoàn toàn tự do bên ngoài những song sắt "hồn vía" và "điển" đã giam hãm ông 23 năm nay xem sao. Hãy nhớ ông là một người tự do !
Ông phán rằng tôi, và những người đã đọc bản tường trình của tôi rồi quyết định bỏ đạo xuất hồn, sẽ "suốt cuộc đời chỉ luẩn quẩn trong vòng hữu vi sắc tướng rồi chết đi trong vòng luân hồi lục đạo..." Ông và các môn đồ Vô Vi khác rất giống với LSH : cùng mắc chứng bệnh rất nặng là thích hăm he này nọ !!! Ðiển hình, có một lần mấy mươi người chứng kiến LSH nổi sùng, nạt nộ mắng một môn đồ như người ta mắng chó. Môn đồ này là một thanh niên khoảng trên 20 tuổi nhưng vì bệnh hoạn kinh niên nên cơ thể yếu đuối như bé gái 10 tuổi. Cứ độ 20 phút hay nửa giờ anh ta lại rà vào gần LSH để lẩm bẩm xin "đức thầy" chữa bệnh cho. Cuối cùng LSH chịu hết nổi, sừng sộ nạt lớn :
- "Mày mà không chịu làm việc, mày cứ ăn tiền bịnh hoài, mai mốt mày chết thành con giòi !"
Ðó là trường hợp LSH đối xử với một môn đồ vì bệnh hoạn kinh niên nên được chánh phủ cho hưởng tiền bệnh, và đã vào đạo xuất hồn để mong được chữa lành bệnh như đạo này đã rêu rao.
Có thể chính vì các môn đồ Vô Vi bị "đức thầy" nạt nộ, hăm he hồn vía thường ngày riết nên đã quen dần với sự khủng bố và ngược đãi bằng lời nói này (verbal abuse), nên tất cả đều nhiễm thói hăm he hồn vía.
Thưa ông TNL, hạng "hạ trí" như tôi thì phải luẩn quẩn trong vòng lục đạo là quá đúng rồi. Tôi cũng tin chắc là chúng ta nếu sống đến gần mãn kiếp mà vẫn còn đam mê những thói xấu, tỉ dụ như bài bạc, ăn chơi, nói phét, thì trong kiếp kế tiếp nếu còn chút phước duyên nào để được trở lại làm người, chúng ta cũng sẽ tiếp tục con đường cũ ấy, vì những thói ấy đã ăn quá sâu vào tiềm thức rồi.
Ông viết :
vi the trong Dao Duc Kinh da co cau la: Tri gia bat ngon, ngon gia bat tri! ( biet thi khong noi, ma noi thi khong biet!) cho nen nhung vi dao cao duc trong van thuong hay an minh tu luyen, tinh khau, tham thien.Phạm Bá trả lời :
Ông dẫn cả Ðạo Ðức Kinh cũng chỉ để chứng minh tôi mù tối, nhưng ông lại tự mâu thuẫn quá nặng nề ! Chữ "tri" trong câu đó chỉ cho "tri đạo" tức đã đắc đạo, và chữ "bất ngôn" chỉ cho "đạo" vốn vượt ngoài văn tự. Tuy vậy, nếu người "tri đạo" mà không "ngôn" trong phương diện giới hạn của ngôn tự thì làm sao dạy "đạo" cho người học ??? Ðây là những vấn đề then chốt, và đáng lẽ ông đã phải nắm vững từ mấy mươi năm trước chứ đâu thể để mù mờ mãi cho đến ngày nay.
Ðó là việc "đạo", còn việc những sự thật như ban ngày của LSH và đạo xuất hồn thì có gì "vượt ngoài văn tự" mà phải "tri" với "bất tri" hoặc "ngôn" với "bất ngôn" ???? Nếu như Khổng Tử ăn chơi, cờ bạc, giảng dạy lủng củng, mâu thuẫn, ấu trĩ, thì làm sao viết được Ðạo Ðức Kinh như thế ? Ông cũng nên bỏ thời giờ đọc lại Ðạo Ðức Kinh xem Khổng Tử có tự viết đủ thứ nhãn hiệu để dán lên ngực, lên lưng, hoặc tuyên bố láo, nhảm nhí, hoặc hăm he hồn vía các đệ tử và mọi người chăng ?
Cứ theo lời lẽ của ông sau 23 năm luyện xuất hồn, tôi đoán ông cũng đã đắc chức vị gì to tát, cao siêu lắm đây, nếu chưa thành Phật sống như "đức thầy" thì ít ra cũng gần bằng. Ông hãy cho biết vì lý do mầu nhiệm gì LSH không "ẩn mình tu luyện, tịnh khẩu, tham thiền" như ông phán trong đoạn thư này, thay vì thế lại "giáng lâm" nơi các sòng bài, để phải lên tiếng tự biện hộ, tự giải thích vớ vẩn, không chứng minh được, và bây giờ chính ông đang hăm he hồn vía này nọ, và dạy người khác phải ẩn mình tu luyện, tịnh khẩu, để... đừng có nói ra những sự thật về đạo xuất hồn nữa ???
Ngoài ra, "tham thiền" khác xa với việc ngồi đút chặt hai ngón tay cái vào hai lỗ tai và cầu khấn cho được xuất hồn. Ông lại dùng sai chữ nữa rồi ! Ông có biết, khoảng mùa hè năm 2000 cho đến nay, đạo xuất hồn lại đang có tranh chấp nội bộ ? Một môn đồ phe này dẫn chứng lời Ðức Phật Thích Ca và công án Thiền để tranh biện với phe kia. Thực khôi hài và đáng thương làm sao ! Ða số môn đồ Vô Vi vẫn còn lầm tưởng LSH tôn kính Ðức Phật và Phật pháp, và tất cả vẫn còn cả tin đạo xuất hồn là đạo Phật.Ông viết :
Khong nen vi mot ca nhon hay be phai ma che dao nay, phi bang dao no!
Phạm Bá trả lời :
Ông đã căn cứ vào đâu để phán những lời này ??? Cá nhơn ư ???? Bè phái ư ???? Tôi chỉ hành xử quyền tự do ngôn luận và tự do tư tưởng để trình bày những sự thật. Chẳng qua, những sự thật ấy quá ư phũ phàng khiến các môn đồ như ông rất đau lòng, nên có cảm tưởng bị "phỉ báng" như ông đã cảm thấy. Chính LSH là người phỉ báng Phật Thích-Ca, phỉ báng Phật Giáo, và phỉ báng tăng lữ, ông quên hết rồi ư ? Lý do gì khiến ông bịt tai, bịt mắt, ngậm miệng trước những sự thật đó ??? Những người như ông mỗi khi nghe ai phê bình đạo xuất hồn là lập tức nổi sân lên, bất chấp sự thật, rồi lại làm vài câu hoạnh hoẹ, hăm he, đó mới hành vi có tính chất "bè phái". Lý do gì khiến ông không còn trí phán đoán sáng suốt bình thường ???
23 năm trước, khi ông còn là một người thuần chất, tin Phật, và bắt đầu luyện xuất hồn vì một lý do gì đó, đâu có ai trong đạo này đứng ra cho ông biết là nhiều năm sau ông sẽ phải phủ nhận lý trí, xoay lưng lại sự thật, chấp nhận những lời thô lỗ phỉ báng Phật-Pháp-Tăng, và chấp nhận những điều bịa đặt trắng trợn một cách không thắc mắc như hiện nay ! Nếu họ nói trước như vậy, ông có dám đêm đêm ngồi đút hai ngón tay cái vào hai lỗ tai, và nằm phình bụng lên, xẹp bụng xuống, mong cho được "xuất hồn" chăng ?
Hơn nữa, ông cũng quên rằng cái gọi là "PLVVKHHBPP" không phải là một "đạo này, đạo nọ" hoặc "tôn giáo" như ông viết trong câu trên và các câu khác. Ðiều này có ghi rõ trong các sách Vô Vi.Ông viết :
Toi do rat nang! sau nay khi ong qua doi, se co nhieu linh can thanh dao cua Dao do den tim ong ma chat van, luc do ong se tra loi ra sao?
Phạm Bá trả lời :
Kính thưa ông TNL, ông hãy khoan lo cho cái "tội rất nặng" của người đang trình bày những sự thật, và cũng hãy tạm gác chuyện hồn vía khi qua đời, để trở lại với thực tại trước mắt chỉ năm ba phút : LSH và các môn đồ Vô Vi như ông đã và đang trả lời như thế nào trong suốt mấy mươi năm qua, mỗi khi mọi người khắp nơi (trong số có chính các môn đồ Vô Vi) chất vấn về các hành vi của LSH nói riêng và đạo lý hồn vía nói chung ? Cho đến nay, LSH và các môn đồ chỉ giải đáp rất luẩn quẩn, rất phí lý, chỉ nổi sân, rồi hăm he hồn vía người ta, vậy các "linh căn thành đạo" kia của ông nếu có thì cũng chỉ thế mà thôi chứ có gì khác lạ ???!!!
Kính thưa ông TNL, hàng ngày ông đang thụ hưởng những thực phẩm mua trong supermarkets, cái nhà vững chắc và đẹp đẽ nơi ông đang trú ngụ, cái xe ông đang sử dụng, các vật dụng tiện nghi căn bản thường ngày như nước máy, đèn điện, bếp điện, máy lạnh, máy sưởi, đồng hồ, điện thoại, máy truyền hình. Cho đến internet, email ông đang dùng, cho đến thuốc men và nhà thương cứu chữa mạng sống của ông những khi ông lâm bệnh, tất cả là thực tại, là kết quả của khoa học thực sự, của trí tuệ loài người có được sau nhiều thế kỷ liên tục học hỏi và nghiên cứu trong các học đường, các cơ sở kỸ nghệ. Những "hồn vía" và "huệ nhãn" viển vông, vô ích dụng mà ông tưởng tượng, trong suốt lịch sử loài người chúng hoàn toàn không dự phần gì vào việc kiến tạo đời sống tự do, dân chủ, và những tiện nghi ông đang hưởng. Ông dùng ngón tay khẩy nhẹ một cái chốt, ánh đèn điện chan hòa tỏa ra soi sáng bóng đêm cho ông : đó mới là một trong những "mầu nhiệm" thực sự do những con người "hạ trí" phát minh ra cho ông cùng LSH và những "thượng trí" Vô Vi khác hưởng thụ không thắc mắc !!!!!! Những "Phật sống" la cà trong các casino sáng choang đèn nê-ông màu 24/24 không hề hóa phép cứu ông ra khỏi Việt Nam, cũng không hề hóa phép biến ra các tiện nghi kia cho ông hưởng dụng.
LSH từng sừng sộ phán rằng "Bệnh là hình phạt của Trời !" (Tôi tin là ông không biết nguyên nhân của câu nói này.) Tuy nhiên, LSH quá sân nên quên phéng đi là chính mình cũng bệnh lên, bệnh xuống. Cái gì đã và đang còn khiến LSH và các môn đồ tự hôn ám, mâu thuẫn một cách quá trẻ con như vậy, ông thử suy nghĩ xem ! LSH vừa mới được giải phẫu mắt gần đây, "Phật sống" lại bị "Trời trừng phạt" nữa đó ư ??? Hay ông Trời chỉ trừng phạt 5, 6 tỉ người địa cầu không tin đạo xuất hồn, còn đối với LSH và các môn đồ Vô Vi thì ông Trời chừa ra, biệt đãi ???
Dĩ nhiên các bác sĩ y khoa "hạ trí" và các y tá cũng "hạ trí" chính là những người đã làm cuộc giải phẫu chữa mắt ấy cho LSH, ông biết chứ ? Thử nghĩ, nếu khi bác sĩ giải phẫu sắp bắt tay vào việc mổ mắt cho LSH thì có một cao đồ Vô Vi hoạnh họe một cách ngây thơ : "'ng là Phật sống đó nghe ! 'ng rất thích đi Las Vegas chơi sòng bài, và rất thù ghét những người 'hạ trí' như bác sĩ" !!! Có lẽ bác sĩ phải lễ phép mời thầy trò Vô Vi về với các bác sĩ Vô Vi "thượng trí", có "linh khí" trên mặt, và chẩn bệnh bằng cái kính lúp.Ông viết :
... mong ong som tu minh dep bo di cac bai viet phe binh Phap Ly Vo Vi theo pham tam, pham tri, va noi len vai dieu an nan sam hoi... Neu duoc nhu vay thi do la ong lap cong chuoc toi vay, mong lam thay.Phạm Bá trả lời :
Một lần nữa, tôi xin cảm ơn ông đã bỏ thời giờ ra đánh máy lá thư dài 1015 chữ này. Ðáng tiếc là nội dung lẫn hình thức lá thư của ông hoàn toàn không có gì mới lạ, mà chỉ là một khuôn tâm trạng cố hữu của thầy trò đạo xuất hồn :
a. Ôm bo bo "hồn vía" và "điển"
b. Cực kỳ chủ quan, cao ngạo, tự tôn, tự đại, tự thị
c. Tự biện hộ, dẫn chứng lăng nhăng, quàng xiêng
d. Khinh thị; hoạnh họe; hăm he hồn vía
e. Lên giọng phán dạy trịch thượng cho hả dạ
và cứ thế tái đi, diễn lại mãi đã mấy mươi năm rồi !
Tu luyện được mới vài ba tháng đã có những bệnh chứng ấy phát khởi, cho đến vài ba năm, 20 năm, 30 năm, 50 năm, mà chỉ được "cái tôi" càng ngày càng phình trương lên như quả núi, trí óc càng ngày càng tối tăm, lủng củng, nô lệ như thế, thì cứ tiếp tục tu đến ngàn kiếp cũng chỉ có con đường một chiều đó để chìm sâu thêm mãi không cùng mà thôi.
Chế độ Cộng Sản Xô-Viết sau 70 năm kiên cường, cuồng tín, hoang tưởng, kềm kẹp lẫn nhau, trắng trợn lừa dối nhau, công khai hăm dọa nhau, đày đọa nhau, thủ tiêu nhau, ai cũng tưởng địa ngục ấy sẽ tồn tại đến muôn ngàn đời. Cuối cùng khi chính họ thấy ra sự thật là con đường của họ theo đuổi chỉ càng ngày càng đưa họ đến khốn khổ và nghèo đói hơn, đến băng hoại toàn bộ xã hội, kinh tế, và văn hóa, chế độ ấy đã phải tan rã.
Tuy vậy, tôi không hề ngạc nhiên chút nào khi những môn đồ Vô Vi như ông theo dõi đọc bản tường trình những sự thật về LSH và đạo xuất hồn cho đến hôm nay mà vẫn còn kiên tâm dạy bảo nhau đó là... "ma quỷ khảo đảo, thử thách", là... "test".
Bức tường ô nhục Bá Linh kiên cố đã bị đập phá không thương tiếc năm 1988, nhưng còn một bức tường kiên cố gấp trăm ngàn lần bức tường bê-tông cốt sắt ấy, xin đố ông, đó là bức tường nào ?
Ông hãy thử lặng yên ngồi, đối diện với nỗi hoang mang, day dứt, trăn trở ngấm ngầm trong tận đáy lòng, và tự hỏi mình sẽ tự dối mình, tự mãn nguyện đày đọa mình trong cái ngục "hồn-vía-điển" này cho đến bao giờ.
Không ai có thể cứu ông được ngoài chính ông.
KỲ VI
"Ðiển"Thông thường, mọi người cho rằng "điển" là "nhân điện", và chính các môn đồ Vô Vi cũng thường dùng nghĩa này bởi họ thích nói "truyền điển", hoặc "thầy ban điển". Nghĩa thứ hai của "điển" phát xuất từ hiện tượng được gọi là "giáng điển", tức "ai đó" có bề thế trong cõi vô hình "ở trển" giáng nhập vào một người trần thế để tuyên bố một điều gì đó rất ư là trọng đại, khiến người nghe phát hồi hộp và ớn lạnh. (Chẳng hạn như câu "Tận thế đến nơi rồi, các con phải kíp tu mau kẻo trễ", dân Việt Nam mình được hân hạnh nghe miết suốt hơn 40 năm qua, riết thành ngao ngán.)
Về nghĩa "giáng điển" này, một môn đồ lớn của đạo Vô Vi từng chán nản phát biểu riêng rằng :
- Ổng [Phật Tám] nói cũng trật hoài, chỉ những khi nào điển ở trển giáng thì ổng nói mới trúng."
Khi được hỏi :
- "Làm sao biết lúc nào điển giáng hay không ?"
môn đồ này cho biết :
- "Khi nào điển giáng thì mặt ổng đỏ bừng bừng."
Riêng tôi nhận thấy những lúc LSH mặt đỏ bừng bừng là những lúc ông ta tức giận, cay cú một môn đồ hoặc người ngoài nào đó. (Có lẽ "nói trúng" đây có nghĩa là nói hợp lý chứ không phải là tiên tri đúng, vì LSH có tiên tri đúng điều gì đâu ?!) Và nếu chỉ khi cái gì đó giáng vào mới nói trúng đi hay tiên tri đúng đi nữa, thì cũng chỉ là một hình thức đồng bóng là cùng, chứ "Phật sống" ở cái khổ nào ?
Khoảng năm 1986, một môn đồ Vô Vi viết một tập sách mỏng về cách tu của đạo này, lời lẽ và cách dùng chữ cho thấy người viết có trình độ đại học, và ông ta cho biết điển không phải là nhân điện, rằng nếu người đời nghĩ như vậy là lầm, là ngây thơ ! Ðương sự giải thích "điển" rất cao siêu, rất khoa học, bằng những danh từ vật lý như chấn động, xung động, giao động, tần số, v.v. và v.v., nhưng chẳng hề thấy đương sự đã dùng các máy móc tối tân gì, tại phòng khảo nghiệm nào để đo xem các giao động đó được bao nhiêu Hertz, bao nhiêu chu kỳ. Tôi kết luận là người viết cũng chỉ vì quá mê hoặc với "điển" nên sanh quá tự tin, bèn lượm lặt, chắp vá sách vở khoa học rồi tưởng tượng hão và giải thích một cách võ đoán như vậy mà thôi.
Cho đến nay, trên khắp thế giới họa chăng chỉ có một đôi người bẩm sanh dị thường, ngoài ra chẳng có một ai do tập luyện mà "có nhân điện" để phát ra được một dòng "nhân điện" có thể đo được bằng máy điện kế, và đủ mạnh để làm sáng một cái bóng đèn điện hoặc đèn pin nhỏ nhất. Nhiều người hành nghề chữa bệnh thích dùng hai chữ "nhân điện" nhưng cũng đều dùng các máy xung động điện (T.E.N.S.) loại chạy bằng pin, giá nay chỉ trên dưới 50 MỸ Kim, hoặc loại sách tay lớn hơn, chạy điện, đáng giá vài ngàn MỸ Kim (như cái cô B. thường đem theo mỗi khi đi khắp nơi với đức thầy Tám, và cô dùng nó kèm theo các bịt thuốc Nature's Sunshine để làm lương y chữa bệnh cho các con bệnh Vô Vi thay vì dùng "điển" gì đó có được do luyện xuất hồn).
Ðặc san Vô Vi năm 2000 có ghi phần điện đàm (xin thưa cho rõ, tức là nói chuyện qua điện thoại, chứ không phải nói chuyện bằng... điển) giữa LSH và một môn đồ bên Việt Nam. Khi môn đồ ấy hỏi chừng nào "đức thầy" về Việt Nam, ngài phán :
- "Về bển làm gì ? Ðể hút điển trược à ???"
Tuy sợ điển trược như vậy, nhưng LSH lại quyết định cho tổ chức đại hội Vô Vi năm 2000 tại thủ đô của Tiệp Khắc. Ðại hội này đã có kết quả tức khắc là các môn đồ đều rút vào nằm trong các phòng của khách sạn cho đến khi về, không ai dám ra đường. Lý do là trong những ngày đầu, một số môn đồ đã bị những kẻ bất lương tại địa phương chận đường uy hiếp và trấn lột. Nếu Phật sống đã chọn Tiệp Khắc làm nơi họp đại hội, chẳng lẽ ngài lại cố tình lựa nơi "điển trược" như thế để hại môn đồ ??? Hay "điển trược" Tiệp Khắc... thanh nhẹ hơn "điển trược" Việt Nam, đáng cho môn đồ "học bài" hơn, mau "tiến hóa" hơn ???
Nói chung, tất cả mọi lý sự loanh quanh, luẩn quẩn, vớ vẩn, ngớ ngẩn, và quái đản đến mức độ khôi hài của thầy trò VV rốt cục đều qui về một cái hang tối tăm cuối cùng : "ÐIỂN".
* Chữ nghĩa quốc ngữ và Hán văn của LSH chẳng đến đâu, vậy làm sao LSH biết được rằng kinh điển Phật Giáo mấy ngàn năm nay đều "tam sao thất bổn hết, không thể tin được"? LSH cho biết là nhờ"dùng điển đọc mà biết!"
*û "Ðiển Thượng Ðế" chuyển cho ông nọ, bà đó, ôm hun LSH và nói với mọi người, "Ðây là Di Lặc đây các con !"
*û "Ðiển Thượng Ðế" giáng vô cô kia, cậu nọ xưng "Ta là Thượng Ðế", bắt cha mẹ già phải quì lạy dưới chân mình.
*û "Ðiển Thượng Ðế" xuống người bệnh đó, khóc lóc : "Cha đã quyết định rồi, Cha sẽ đưa con ra khỏi Việt Nam, khỏi địa ngục trần gian."
(Té ra Thượng Ðế cũng còn bi lụy, khóc lóc như chúng ta sao ??? Té ra xứ Việt Nam chiến tranh lầm than, điêu tàn, chết chóc, vay trả trước mắt đó, "địa ngục trần gian" đó không phải là nơi cho LSH và các môn đồ VV "học bài". Trái lại, các xứ MỸ, Pháp, Úc, Hồng Kông, văn minh, sung sướng, hưởng thụ vật chất phủ phê, mới là nơi để họ học bài ! Thì ra, khi LSH nói rằng nước Việt Nam "được Thượng Ðế lựa làm điểm linh quang, linh địa để giải tiến tâm linh...," chẳng qua cũng chỉ là nói bừa thường nhật mà thôi hay sao ?)
*û "Ðiển Thượng Ðế" giáng vô cô đó, phán rằng, "Còn Phật của Ta đi [tức Tám vượt biên] là không có khổ, đi như đi chơi, Cha cưng ! Cha cưng rồi là nó đi chơi chớ không có đi như các con, nó khác hơn." (Té ra, rõ ràng Thượng Ðế thiên vị, và "con yêu con ghét" một cách rất phàm tục !!!]
*û "Ðiển Thượng Ðế" giáng vào một kẻ lấc cấc, tham danh, tham lợi, tham dục, tự xưng là "Cha Trời". Cha Trời này đứng chống nạnh, dạng háng, thách đệ tử lạy và chun qua dưới háng ngài !
ở Lý do gì LSH và các môn đồ cạo đầu ? Cũng chỉ để... thở hít điển cho được "nhẹ hơn, dễ lưu thông hơn, mặt sáng hơn." Tôi đã thấy tại các đại hội Vô Vi hoặc những khi hội họp có quay video, nhiều nam môn đồ Vô Vi kè kè cái máy cạo râu chạy điện deluxe loại 3 vòng dao cạo. Mỗi ngày rà máy trên đầu cả tiếng đồng hồ không chán !!! Có người còn thoa dầu lên cho bóng. Suốt ngày lo cho cái đầu thật láng và mong đợi mặt mày sáng ra. Soi gương thấy... mặt tối là lại rà nạo cái đầu trọc. Lý do dường như không có gì khác hơn là để khi chiếu video ra, cả làng cả nước Vô Vi thấy cái mặt mình nó sáng rỡ, có nghĩa là điển mình mạnh, mình tu cao.
Nhìn chung các thí dụ trên, chúng ta nhận thấy "Thượng Ðế" vô hình đã là một khái niệm trừu tượng được ưa chuộng nhất trong lịch sử loài người, và nơi đây khái niệm ấy đã được cụ thể hoá bằng cái gọi là "Ðiển Thượng Ðế", cứ như cả hai đều rất thật, không thể chối cãi được.
Vậy sau đây xin mời người đọc cùng xem xét nguồn gốc "điển" của đạo xuất hồn. Trong việc đúc kết toàn bản tường trình này, đây là phần cực nhọc nhất cho tôi, và có lẽ cũng là phần ít hứng thú nhất, đến độ chán chết cho người đọc. Lý do là các đương sự (tổ sư ÐTH trong quá khứ và Phật Sống LSH hiện tại) đều có cùng một căn bệnh : không thể tập trung đầu óc vào một đề mục hay một câu hỏi nhất định để trả lời hoặc giải đáp. Những câu hỏi đơn giản, rõ ràng, và chữ dùng phổ thông nhất cũng được các đương sự phát ngôn lung tung, linh tinh, lang tang, lạc đề, ý nọ bắt chuyền qua ý kia. Các câu hỏi "Ðiển là gì?" hoặc "Ðiển do đâu mà có?" được trả lời trên trời, dưới đất, người nam gặp người nữ, bào thai tạo hình, v.v. gần hai trang sách in chữ nhỏ, và vẫn không đưa đến câu giải đáp dứt khoát. Trang này cho điển là phần hồn thiêng liêng, chỗ khác cho điển là "cục Mô Ni Châu" từ trán phóng ra, đến trang nọ thì điển lại là "sự sáng suốt." (Nếu điển là sự sáng suốt thì tại sao lại có loại "điển trược" mà thầy trò VV rất sợ ???)
Chỉ riêng trong quyển "Kinh A-Di-Ðà Giảng Giải" của cụ ÐTH, cộng chung tất cả các đoạn rải rác, có đến ba, bốn trang giải thích về "điển" một cách bất nhất và luông tuồng. Ðọc qua đã là một cực hình, nếu đem chép hết vào đây lại là một cực hình thứ hai cho cả người viết và người đọc, lại chỉ thêm giấy mực. Do đó, nếu tôi phải dẫn nguyên văn đoạn nào, xin người đọc hiểu cho rằng đó là một sự cần thiết và bất đắc dĩ.
Nếu như tổ sư xuất hồn còn sống và có ai cứ truy hỏi cho ra ngọn ngành của điển, không biết cụ có nổi sung như Phật Tám hay chăng ? Giống như tổ sư đã quá vãng, hiện tại Phật Tám--tức Phật Vĩ Kiên, kiêm Thiền Sư Tám, kiêm Bé Tám, v.v.--cũng có nhiều câu giải đáp độc đáo về điển cho chúng ta học hỏi, và than ôi, cũng... linh tinh lang tang như vậy !!!
Tôi sẽ trình bày các cách giảng nghĩa "điển" của cả hai đương sự. Các chữ in đậm trong các trích đoạn là do ý của tôi nhằm giúp người đọc dễ thấy các điểm nổi bật hơn các điểm khác trong đám dây dưa chằng chịt của ngôn từ Vô Vi. Khi các chữ được in đậm y theo nguyên bản, tôi có ghi chú thích tại chỗ.I. Tổ sư đạo xuất hồn giải thích "điển"
Trang165, Kinh A-Di-Ðà và Phật Học Vấn Ðáp theo PLVV KHHBPP, cụ ÐTH phán :
"Trên trời thì có mặt trời, mặt trăng, để làm việc ngày đêm với các vì sao, còn trần gian thì có đèn pha, đèn điện, kể chung tất cả điển tiên thiên trên Thiên Ðàng cùng điển của trần gian là lửa điển phụ thuộc mà thôi. Trên trời thì có lửa điển trong tốt do Hắc Bì Phật lập hiến. Còn dưới trần thế thì có điển lửa của khí trược, do trái đất hoá sanh. Trong trái đất có khối đá, trong chất khối đá là một thứ nhớt của cát. Cát, thứ tốt, màng của nó sanh ra loài kim khí, khí nhớt đã thành khối gọi bằng đá."
Phần nhận xét của tôi:
1. Ðèn pha, đèn điện cũng được tổ sư xuất hồn đem cả vào để giải thích điển.
2. "Trên trời thì có lửa điển trong tốt do Hắc Bì Phật lập hiến": Câu này thể hiện hai trong số nhiều đặc tính rõ rệt của đạo xuất hồn: (1) gán bừa một vị Phật hoặc kinh Phật với các sự kiện không tưởng, và (2) dùng từ ngữ bừa bãi : lập hiến.
3. "Trong trái đất có khối đá, trong chất khối đá là một thứ nhớt của cát" ??? Câu này và câu kế tiếp cho thấy dường như cụ ÐTH tin rằng cát sanh ra chất nhớt, chất nhớt ấy kết lại thành... đá.
Tiếp theo đoạn trích dẫn trên :
"Ðá được hưởng khí mặt trời chói rọi, hợp với thán khí là khí đất, thành chất lửa điển, khi lấy 2 cục đá chọi nhau, hoá thành chất điển lửa trược. Bởi thế khi chúng ta phân tách, mới biết lửa nào của Thiên Ðàng, còn điển nào trược đục của đá cát cùng nước nhớt chung đụng thành khối gọi là điển lửa đục của trần gian gọi là điển âm. Bởi sự hợp tinh của Niết Bàn là mặt trời xây chuyển, hễ chất nào được hợp Ngũ hành là số 5 gọi là kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ hợp với 4 cộng là 9, số 4 là: Ðông, Tây, Nam, Bắc.
Khi số 5 của Niết Bàn sa xuống thoai noãn số 4 gọi là 9 thì hợp tác thành ra một thứ hồn điển Thiêng Liêng, gọi là hồn của bản thể con người, ví như trong Niết Bàn 1 với 8 là 9, 7 với 2 gọi là 9 vân vân..."
Phần nhận xét của tôi:
1. Ðá hợp với thán khí thành lửa điển, nên khi hai cục đá chọi nhau thì lửa điển ấy xẹt ra !!!! Phải chăng đây cũng chính là loại "khoa học huyền bí" đương sự đã thủ đắc nhờ luyện xuất hồn thành công ?
2. "Bởi sự hợp tinh của Niết Bàn là mặt trời xây chuyển" : Ðố ai hiểu nổi !
3. Ngũ hành là số 5; số 4 là Ðông Tây Nam Bắc; cộng nhau thành 9. Thai noãn cũng số 4; 5 + 4 là 9; Niết Bàn 1 với 8 là 9, v.v. Tôi nhận thấy Tổ sư rất thích 9 nút.
Trang 192, cùng sách:
"Máu có 3 thứ: thứ trong thì ở ngoài da, còn thứ đỏ tươi thì ở từng theo sớ thịt, còn thứ đỏ bầm thì chất huyết nầy nặng nề, rồi nhờ Pháp Luân Thường Chuyển là phép của Phật dạy ta công phu lừa lọc, hợp lại với thứ nhớt trong, gọi là tinh ba, còn thứ đỏ tươi hợp với nhớt trược nhẹ, chung qui là một thứ khí quản, rồi thừa tiếp mở kỷ xuống tại nơi đường mạch đốc là chỗ dây gân xanh ở giữa 2 trái cật, nương theo đường mạch đốc đi thẳng theo xương sống, làm ra một thứ khí trong, để giúp cho linh hồn ta một thứ máu nóng gọi là Ðiển. Ðiển này thừa hành phận sự làm chủ bản thể, giống nó cũng như loại kim là sắc, ưa rút nhảy cũng như thứ (aimant của magnéto) mà thế tục thường làm xe hơi, để cho bộ máy chuyển động nó, để giúp cho thần hồn mạnh mẽ khoẻ khoắn."
Phần nhận xét của tôi:
1. Theo tổ sư, máu có... 3 thứ : trong, đỏ tươi, và đỏ bầm. Vậy là hợp với "khoa học" quá mức rồi, nhưng đương sự bỏ sót quá nhiều loại máu khác như : máu cờ bạc, máu ham danh, máu ham lợi, máu dê, máu xấu, máu hàn, máu nhiệt, máu sản hậu, máu cao, máu thấp, máu xâm, máu khùng, v.v. và v.v.
2. "Pháp Luân Thường Chuyển" đây là cách nằm phình bụng lên, phình bụng xuống, do đương sự sáng chế, hoàn toàn không phải do Phật nào dạy.
3. Bảo đảm không có Phật nào dạy đệ tử "lừa lọc" cả. Nếu có, đó là loại Phật do ma nhập vào ai đó phong cho làm Phật.
4. "Ba thứ máu hợp với nhớt trong, nhớt nhẹ, tất cả thành khí quản" : đây cũng là một kiến thức chỉ thấy có trong đạo xuất hồn Vô Vi mà thôi.
5. "Khí quản ấy chạy trong đốc mạch, tạo ra khí trong. Khí trong này lại cho linh hồn ta một thứ máu nóng, gọi là ÐIỂN." UREKA !!! Ðây chính là nguồn gốc điển của đạo xuất hồn, tức đạo Vô Vi, tức Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Phật Pháp ! Ba thứ máu biến thành cái khí quản chạy trong đốc mạch, tạo ra khí trong, khí trong này cho linh hồn một loại máu... thứ tư gọi là máu nóng, máu nóng đó chính là ÐIỂN.
6. "Ðiển này giống nó cũng như loại kim là sắc" : tổ sư dạy rõ thêm : điển này có tính chất giống như... kim loại.
Trang 180, cùng sách:
"Vấn:?
Ðáp: Trước kia ta ở trong thai noãn,.....[nguyên câu dài luông tuồng 143 chữ, không hề trả lời thẳng vào câu hỏi.] Bào thai ấy....... Sự hợp nhứt của Cha Mẹ..... [câu này cũng dài khoảng 120 chữ, cũng chưa thấy đá động đến điển.] Còn ngũ tạng ruột, gan, ..... Rồi thai ấy........... Khi Mẹ hoài thai 9 tháng thì thai noãn đủ nguyên hình, ................" [Ðã 2 trang giấy như thế -trang 180 và trang 181-cũng chưa thấy nói gì để trả lời câu hỏi "Tại sao gọi là Ðiển ? "]
Trang 182, cùng sách :
"Trong kinh nhà Phật nói: Ta vốn là ta, gọi là căn bản, căn bản gọi là khí điển. Hồn của ta trên trời sa xuống từ lúc Mẹ ta có thai noãn trong 6 tháng, làm chủ bản gọi là trí, ý, hồn, tánh, tình là Vía. Nhưng cũng có sự phụ thuộc vốn của Cha Mẹ ta là Khí cấu tạo, rồi hợp thành một cái vốn khí điển của Thiên Ðàng sa xuống nhập vào thai. Bào thai này nhờ có ngươn khí chất lỏng của Cha Mẹ tạo thành, gọi là khí bẩm sở câu, vật lực sở tế......"
Phần nhận xét của tôi:
1. Như thường lệ, loại kinh nhà Phật này chỉ có độc quyền trong đầu óc của đương sự.
2. Hồn của ta, cùng khí cấu tạo của cha mẹ, và cái vốn khí điển của Thiên Ðàng, tất cả 3 thứ hợp nhất thành Ta. Ta tức là căn bản, tức là khí điển. (Ðương sự dùng các chữ "hợp thành một" là ý này.)
Tuy nhiên, đã hợp nhất thành điển, sao lại có việc luyện hồn vía ??? Còn nếu nói chỉ hợp chung lại, tại sao lại chỉ luyện hồn vía, bỏ quên khí cấu tạo và khí điển của Thiên Ðàng ???
Chúng ta chớ quên, mới nơi trang trước : 3 thứ máu cộng với dầu nhớt này nọ thành cái khí quản, rồi cái thành một thứ máu nóng gọi là điển. Qua đây thì điển lại là kết quả của hồn + khí cấu tạo + khí điển của Thiên Ðàng.
Có lúc ngài cũng cho hồn là điển, điển là hồn. Do đó, tiện đây tôi trích thêm các lời tổ sư giải thích HỒN để người đọc nếu muốn có thể tưởng lãm thêm cái trí tuệ rối bòng bong của ngài. Như đã ước hẹn trước, cũng như trong các phần trích đoạn ở trên, các chữ in đậm nét dưới đây là do ý tôi, cốt giúp người đọc dễ thấy các điểm nổi bật hơn các điểm khác. Tuy nhiên, rất có thể người đọc sẽ nhận thấy các điểm khác có phần tếu hơn và xứng đáng được in đậm nét hơn !
1. Hồn là một điển quang của Hắc Bì Phật đã lập hiến, nào là điển của mặt trời là khí dương cùng điển của mặt trăng là khí âm, hợp với 28 vì sao cùng ngũ hành, nhưng điển nào làm việc chậm trễ thì sa xuống trần gian hợp cùng thán khí, rồi hợp với khí âm khí dương của bản thể con người, thừa theo giống đực giống cái, chung với ngươn khí hợp thành thai noãn nguyên khối. (Trang 164)
2. Tóm tắt, trong bản thể con người thì có hồn là một thứ điển quang trên Thiêng Liêng, gốc của Lập Hiến, nào là Hiến Pháp, là mặt trời mặt trăng, sao, ngũ hành, chỉ lẽ chánh khí điển hiến pháp cực thanh thì còn ở làm việc. Còn khí điển nào trược, nặng, làm việc chậm trễ, thì điển ấy sa xuống trần gian gọi là hồn. (Trang 165)
3. Hồn là một đấng Thiêng Liêng do khí trược của Thiên Ðàng, của Phật Trời gọi là hồn. Khi hồn sa xuống nhập vào bản thể con người cùng vật, nhưng từ Thiên Ðàng cùng trần gian đều có sự hoá hoá sanh sanh hưởng ứng, nhưng trần gian thì cũng có đủ thứ như trên trời. (Trang 165)
4. Tóm tắt : TINH vốn của Cha. KHÍ vốn của Mẹ, TH...N vốn của trên Thiên Ðàng sa xuống, nói chung là: Tinh, Khí, Thần. gọi là Ta, vốn là Ta. (Trang 182)
5. Ta vốn là Thần Hồn trên thiên Ðàng sa xuống cũng gọi là Căn bản. Căn bản 1à vốn gốc hồn trên trời sa xuống làm chủ bản thể.......... (Trang 182)
6. Người đủ trí thức gọi là Hồn, còn ta là người ở thế gian, Cha Mẹ sanh ra ta. (Trang 183)
7. Hồn là trí não ở vào bộ óc là một thứ khí thiêng liêng của Trời Phật ban phó cho trong bản thể con người.... (Trang 193)
8. Nhưng trước đây ta phải công phu thấy Mâu Ni Châu xuất ra, đó làHồn. Hồn là một cục máu hoá thành lửa điển gọi là Mâu Ni Châu trong mình ta trước trán phát tung bay ra mới gọi là Hồn. (Trang 194)
Trên đây là phần tổ sư đạo xuất hồn giải thích điển, ngài đã quá cố. Dưới đây đến phần phán dạy của Phật sống LSH.II. Phật sống LSH giải thích "điển"
Hỏi: Ðiển quang là gì?
ÐÁP: Ðiển quang là sự sáng suốt trong nội thức của chúng ta, cho nên khi mọi người tu mà hiểu được sự sáng suốt do liên kết với điển quang sáng suốt của bề trên. Cái điển quang sáng suốt chẳng hạn trong lúc các bạn đang viết thơ mà nghĩ một việc này mà viết rồi một chập ào ào ra những việc còn siêu hơn và nhẹ hơn. Ðó, cái điển quang chuyển hoá xuống nên tâm thức mình được mở mang càng ngày càng sáng suốt.
Phần nhận xét của tôi:
1) Ðiển là "sự sáng suốt trong nội thức."
Sách xuất hồn không ghi người hỏi thắc mắc nội thức là gì, và chúng ta lại không...có điển, nên cứ hiểu nội thức theo nghĩa thông thường là tâm trí, là sự suy nghĩ. Nếu lại truy "Vậy ngoại thức là cái gì ?" thì có lẽ Phật Sống lại phán thêm vài ba chữ nghe có vẻ rất triết lý và trừu tượng khác mà thôi.
Tôi nhận thấy đương sự cực kỳ ưa thích việc dùng những ngôn từ đao to búa lớn, những chữ trừu tượng mà chính đương sự cũng không hiểu nghĩa lý rõ rệt. Có thể nói đương sự luôn luôn bị ám ảnh với các ngôn từ kêu nổ rộn ràng ấy. Trong một câu trả lời cho môn đồ qua hệ thống InterNet-Vol. 5 No. 9, tháng 6 1996-ngài phán, "luồng điển trong nội thức xuyên qua hà đào thành, khớp xương xoáy óc..." Như thế, nội thức không có nghĩa là sự suy tư, suy nghĩ, hoặc tâm trí theo nghĩa bình thường. Vậy theo LSH "nội thức" giống như cái ống nước hoặc sợi dây điện trong đó luồng điển chạy ? Vậy "nội thức" là một vật cụ thể ta có thể rờ mó được, như chân tay, bàn ghế ???
Cũng theo phần trả lời về điển của Phật Sống, chúng ta thấy những ai không luyện xuất hồn, không có điển, tất không có sáng suốt trong nội thức. May thay!
2) "Tu mà hiểu được sự sáng suốt [là] do liên kết với điển quang sáng suốt của bề trên."
Hiểu được sự sáng suốt ??? Câu này hoàn toàn chẳng có nghĩa lý gì cả. Ngôn ngữ Việt Nam chỉ có câu "hiểu một cách sáng suốt", hoặc "Tôi thán phục sự sáng suốt của ông A trong tình huống khó khăn đó." "Sáng suốt" chỉ là một trong các từ ngữ ám ảnh Phật Tám rất thường trực, cũng như những chữ "thanh nhẹ", "khai triển", "giải toả", "tâm linh", "vạn linh", v.v. Bất cứ ai trong chúng ta, chưa từng luyện xuất hồn, không hề có "điển", cứ nhắm mắt, mở miệng nói một dây những loại chữ này và các chữ nửa nạc nửa mỡ khác là tức khắc y chang một môn đồ VV kỳ cựu 100%, tu cao, sống chết với điển, cái sự lý gì cũng qui về điển. Chúng ta cũng có thể chuẩn bị cho chu đáo bằng cách "thực hành tháo gỡ nghiệp tâm" "trong lý thuyết minh giác" cho kỸ, để "giáng lâm" sân khấu Ðại Hội VV, tự xưng là Phật, là Cha Trời "tùy theo sự phát triển của nhịp tim" chúng ta tuyên bố trước "cộng đồng nhơn sinh" cho "thanh nhẹ phần hồn", cho "tâm minh đời đạo hướng khuynh Phật Trời", "khôi phục lãnh vực thanh tịnh sẵn có của tâm linh" trên thế gian đầy "điển trược" này.
Cũng trong lời giải đáp về điển của LSH ở trên, vấn đề đã được đương sự bán cái cho "bề trên". Chữ "bề trên" này đối với đa số người phàm chúng ta có nghĩa một "đấng" nào đó, "ở trển", có quyền ban phước, giáng hoạ xuống đầu mình. Nếu truy kỸ cho ra bề trên ấy ở đâu, mặt mũi ra sao, và "Ðiển quang sáng suốt của bề trên nghĩa là gì ?" "Có phải bề trên cũng do luyện xuất hồn mà có điển quang sáng suốt ấy không?" v.v., thì chắc chắn tất cả mọi người hiện diện sẽ chỉ được nhìn cái mặt nghệt ra trông rất đáng tội nghiệp của người bị hỏi như rất thường thấy mà thôi.
Quan sát rất nhiều trường hợp hỏi đáp, tôi nhận thấy mỗi khi có ai chất vấn Phật sống cặn kẽ cho đến nơi đến chốn thì mọi người tham dự chẳng thấy đạo lý của Phật Sống ở chỗ nào cả. Có hai trường hợp xảy ra : (A) Phật sống bí, và (B) Phật sống không bí.
A. Phật sống bí, nín thinh, mặt chầm dầm, suy nghĩ, xoay sở.
a) Nếu đương sự nghĩ ra được một câu nào đó để chống đỡ, đó thường là lời chống đỡ càn.
b) Nếu không nghĩ ra được câu gì, đương sự sưng mặt, gằn giọng, dùng lời lẽ thô lỗ của kẻ quê mùa, thất học, thất phu.
c) Nếu hoàn toàn đuối lý, đương sự nín thinh. Không khí nặng nề nhất trong tình cảnh này. Tất cả mọi người thấy rõ thực chất và khả năng của một kẻ tự xưng và được môn đồ xưng tụng là Phật Sống, ra mặt làm bậc thầy dẫn dắt người khác trên đường "tiến hóa tâm linh" bằng cách đút chặt hai ngón tay cái vào hai lỗ tai.
Trong các trường hợp thuộc loại thứ nhất này, coi như Phật sống thua, bất kể có thốt ra lời càn hay nín thinh. Một thí dụ điển hình cho các câu trả lời loại này là trường hợp sau: Trong một buổi Phật sống thuyết giảng tại một hội trường, sau phần Phật sống giảng, đến phần người dự nghe đưa các câu hỏi đã được viết vào giấy và chuyền lên sân khấu cho một người cầm đọc. Có một người hỏi về việc tu xuất hồn lâu thì đầu u lên (Phật sống phán rằng đúng vậy, đó là điều tốt.) Các câu hỏi tiếp theo : "U chỗ nào thì tốt, chỗ nào không tốt?" (Phật sống đáp.) Người hỏi tiếp : "U nhiều tốt nhiều, phải vậy chăng ?" Phật sống nổi sùng ra mặt và đáp "Muốn tu cho đầu nổi nhiều cục u thì cú lên đầu cho nhiều vô !"
Phần lớn đám đông môn đồ cười khúc khích. Có người ngoại quốc nghe lời dịch các câu hỏi đáp đến đây thì bực mình tháo cái headphone đeo trên đầu, liệng xuống bàn, và đứng lên bỏ ra. Tuy các câu hỏi ấy nghe có vẻ khôi hài, nhưng dường như đó là các câu hỏi chân thành từ một môn đồ VV đã luyện một thời gian, và ông hay bà ấy đã nghe nói hoặc thấy trong số những người luyện lâu năm có nhiều người nơi mỏ ác vun lên.
Trong các trường hợp hỏi đáp như trên, tôi coi như Phật sống thua : bản chất của môn luyện xuất hồn và bộ mặt thực của Phật sống bị phô bày.
B. Phật sống không hề bí. Ngài tự tin, phán dạy hùng dũng, nhưng hoặc là lạc đề, hoặc tránh né, hoặc không hiểu câu hỏi, hoặc nói dốt, hoặc nói tà đạo, v.v. Trong trường hợp này người hỏi chịu thua và rút lui, bởi họ tự nhận ra là Phật sống hết thuốc chữa.
Ðiển hình các câu trả lời loại này là khi có người nhắc đến quả vị La Hán, Phật sống lập tức giận dữ phán : "La Hán là cái gì ? - đây không có tu chùa !" Rõ ràng đương sự đã lòi ra bộ mặt tà đạo hằng được rán dấu diếm bằng đủ mọi cách. Người hỏi thua, rút lui vì không lẽ nói thẳng vào mặt Phật sống "Như vậy thì ông đích thực là bàng môn tả đạo rồi còn gì nữa ! Ông xưng là Phật mà không biết La Hán là gì và khinh thị La Hán như vậy sao ??? "
Sau đây là một giải đáp khác về "điển" của LSH, ngày 4 tháng 1 năm 1994.
"Hỏi: Ðiển do đâu mà có?
ÐÁP: Ðiển từ bên ngoài do sự hội tụ chấn động của càn khôn vũ trụ mà có. Còn điển của con người do sự tụ hợp tự thực phẩm và hành pháp thông khai thần kinh khối óc thành tựu ánh sáng hoà hợp với chấn động thanh nhẹ của vũ trụ quang, tiếp thu tinh ba của vũ trụ, dũng chí hồi sinh, tự giải toả mọi sự nan giải của tâm linh, hoá độ quần sinh."
Phần nhận xét của tôi:
ở Câu thứ hai dài 61 chữ, được nhồi thành bởi một nùi ngôn ngữ trọng đại, không phân mệnh đề chánh, phụ. (LSH gọi đây là thao thao bất tuyệt, tuôn ra "ào ào". Các môn đồ một mực thán phục !) Như thường lệ, một lô ngôn từ Vô Vi chen lấn nhau mà ra, láo nháo bất kể chữ này có ý gì, chữ kia nghĩa lý là sao, nhập bầy với nhau với mục đích để diễn tả điển hay cái gì khác !?
ở "Sự hội tụ chấn động của càn khôn vũ trụ." Vũ trụ chấn động như thế nào, diễn biến làm sao? "Chấn động" có nghĩa chuyển dịch bất thường với cường độ mạnh mẽ. Thí dụ: "chuyển động địa chất", gọi tắt là "địa chấn", tức sự di chuyển mạnh mẽ của các lớp vỏ địa cầu. Máy đo cường độ địa chấn cho chúng ta biết một địa chấn đã xảy ra với cường độ 3.5 hoặc 5.6, 6.8, v.v. Sự di chuyển trầm lặng và cực kỳ chậm như của lòng sông, đáy biển, của các lục địa thì không thể gọi là "địa chấn" được.
Ðạo xuất hồn rất thường mập mờ và nhập nhằng : khi thì xác định Thượng Ðế chính là cái huyệt Hà Ðào Thành trên đỉnh đầu, lúc thì phán "Thượng Ðế chuyển điển cho tôi nói như vậy." Vậy thử hỏi cái đại vũ trụ bên ngoài hoặc cái tiểu vũ trụ của riêng LSH chấn động hồi nào ? Với cường độ nào ? Khởi sự và chấm dứt lúc nào ?
ở Hội tụ có nghĩa là gom lại, qui về một điểm. Lý do gì khiến các chấn động hội tụ ? Ðiểm hội tụ ở đâu, không hề thấy đương sự nói đến.
ở "Còn điển của con người do sự tụ hợp tự thực phẩm và hành pháp thông khai thần kinh khối óc." Với mệnh đề thứ hai của câu này, LSH muốn nói cách tập xuất hồn làm thần kinh óc hết kẹt. Các sợi thần kinh óc bị kẹt như thế nào ? Chỗ nào kẹt ? Cái gì làm kẹt ? Căn cứ vào đâu biết đã bị kẹt và căn cứ vào đâu biết sau đó hết kẹt ? Có hình chụp quang tuyến hoặc MRI hay sao ???
Phải chăng khi chưa kẹt thì "tâm linh" u tối, đọc chữ "Ma-Ha Ca-Diếp" chỉ biết đó là người Ấn Ðộ tên Mahacasyapa? Và khi đã khai thông, cảm thấy "thanh nhẹ, sáng suốt", có điển, nhìn cũng chữ Ma-Ha Ca-Diếp đó liền thấy rõ ràng nghĩa lý của Kinh muốn nói Con Ma Ca Hát Lá Gan ??? Hoặc khi đã khai thông rồi thì nghe phán gì liền tin nấy, chẳng còn dám suy luận và thắc mắc chi nữa ???
ở "...sự tụ hợp tự thực phẩm..." Vì sao Tổ Sư Xuất Hồn ÐTH không hề nói điển do thực phẩm tụ hợp với cách tập xuất hồn mà nay LSH lại phán như vậy ? Có chi lạ ! Số là nhiều năm trước, sau khi súc ruột liên chi mệt lả, LSH được các cố vấn xung quanh khuyên nên ăn thực phẩm Health Food. Từ những năm 1985-86, LSH đã phán truyền cho các đệ tử biết rằng ăn kê dễ tiêu, da mặt mịn, thanh nhẹ, v.v. Thế là tất cả hè nhau ra tiệm Health Food ôm về từng bịch kê, và kê đắt gấp 5 lần gạo ! Ðược nửa năm, một năm, món "diệu dược" này qua lại tiếp đến món "thần dược" khác, theo sát các tiệm Health Food.
ở "...thành tựu ánh sáng hoà hợp với chấn động thanh nhẹ của vũ trụ quang...": Phần này cho chúng ta thấy sau khi dùng cách tập xuất hồn tụ hợp với thực phẩm health food, kết quả có được là ánh sáng, và đây chính là "điển". Ðoạn còn lại sau đó muốn nói: sau khi đã có điển, mới hòa điển của mình với "chấn động thanh nhẹ của vũ trụ quang" v.v. rồi tự giải toả những... sự nan giải của... tâm linh, hoá độ quần sinh. Nhóm chữ đao to búa lớn này lại cũng làm tròn nhiệm vụ thông thường của chúng, nghĩa là chẳng liên hệ gì với câu hỏi "Ðiển do đâu mà có ?"
Vậy: Luyện Xuất Hồn + Health Food = Ánh Sáng = Ðiển. Tuy nhiên, trong một lần khác, LSH trả lời cũng câu hỏi "Ðiển đo đâu mà có ?" như sau :
- "Luồng điển ở mảnh đất phù sanh này là do sự kết tập bởi những luồng thanh khí của các lọai Kim thuỷ Mộc Hoả Thổ, kích động và phản động tạo ra hình thù duyên dáng. Còn về thiêng liêng phần hồn thì là luồng điển thanh tịnh phát sinh và cấu tạo nơi cõi không động trong qui luật chuyển điển của âm dương, chỉ nó mới có thể tự tiêu diệt hay bồi bổ lấy nó, chứ không ai có thể tiêu diệt nó được. Vậy chúng ta..." [...chiến tranh, người tu hành đứng đắn, v.v. và v.v., không liên hệ gì đến câu hỏi.]
Phần nhận xét của tôi :
* "Ðiển" là do sự chuyển...điển của âm dương trong cõi không động mà ra. Liệu chúng ta có thể nói rằng âm dương tức là vũ trụ, và điển của người luyện xuất hồn có được là do...điển vũ trụ chuyển hay không? Không! Vũ trụ có hình tướng, còn âm dương không có hình tướng. Tổng quan, âm dương chỉ là một nguyên lý về sự đối nghịch nhau của các động lực và các tính chất: thu gọn (dương) và bành trướng (âm), sáng và tối, nóng và lạnh, nhẹ và nặng, cay và ngọt, v.v. Âm dương không phải là vũ trụ. (Nếu nói về ngồn gốc, Thái Cực sanh Âm Dương, và cũng không thể nói Thái Cực chính là vũ trụ.)
"Cõi không động" ấy ở đâu??? Ðạo xuất hồn đặt cơ sở tu luyện trên xác thân và luồng điển châu lưu Nhâm mạch, Ðốc mạch. Trong toàn cơ thể, tuyệt đối không có chỗ nào không động để gọi là cõi không động! Có lần Tám nói Cõi Không Ðộng là cõi chỉ có hào quang mà thôi. Câu giải thích này phản khoa học thường thức và phản chính "khoa học huyền bí" của đạo xuất hồn. Ánh sáng là do sự rung động của các quang tử, hào quang cũng chỉ là điển rung động ở một tần số nhất định. Ðã rung tức động, động thì khỏi không động.
CHƯA HẾT! CÓ LẦN PHẬT TÁM ÐÃ PHÁN RẰNG: "ÐIỂN TỨC LÀ NƯỚC, NƯỚC TỨC LÀ ÐIỂN, VÌ TRONG CƠ THỂ CÓ NƯỚC THÌ ÐIỂN MỚI CÓ CH' CHạY, THẤY KHÔNG ? CHO NÊN BÂY GI- CÁI ÐIỂN CỦA NHÀ ÐÈN, MÌNH ÐỂ HAI S"I DÂY ÐIệN DƯỚI NƯỚC, MÌNH THỌC TAY VÔ NƯỚC LÀ BỊ GIỰT LIỀN."
Sự việc cũng không hề chấm dứt ở đó. Phật Tám còn tùy hứng đặt ra hằng mấy chục thứ điển khác nhau, trong số có... "điển tâm", có lẽ chỉ vì nghe nói Phật giáo luận nhiều về Tâm.
Cao điểm của trò "điển giáng" :
Ông lên bà xuống, và "cha trường" xuất hiện
Giấy trắng mực đen rõ ràng đã cho thấy tổ sư ÐTH và LSH đều chỉ nói tán loạn, rốt cuộc chẳng xác định được "điển" là gì. Ðối với đạo này, điển là cứu cánh, là tất cả. Và khái niệm điển đã được các giáo chủ giải thích như thế đó.
"Ðiển" có một công dụng rất rõ rệt cho những ai đã sa lầy xuống cái hố cạm bẫy của những xung cảm và giao động trong cơ tạng và thần kinh hệ : nó được họ dùng làm căn cứ địa tối tăm để rút về trốn núp các ngọn giáo trí tuệ sắc bén của những người không hề bị mê hoặc bởi cái gọi là "điển".
Nói chung, lá bùa "điển" hão huyền, không tưởng, xưa nay đã gây cho biết bao nhiêu người uổng phí năm tháng, tiền của là còn may lắm. Nói "may" là so với những người khởi tâm lành, muốn tu, nhưng lại lạc vào trò đêm đêm xếp chân ngồi nhắm nghiền mắt, lòng canh cánh mong cho được "điển giáng", mong cho được ai đó bên thế giới vô hình nói cho mình nghe một điều gì bí mật của "thiên cơ", hoặc một tai ương lớn lao gì đó sắp xảy đến nay mai, để sáng ngày mình ra vẻ quan trọng, xù xì, úp mở với đôi ba người xung quanh. Sau đôi ba năm, chứng này biến thành tâm bệnh, bởi lúc nào cũng nghĩ tưởng đến con người và thế giới vô hình do chính mình mường tượng. Ít nói nhưng hễ mở miệng là phán những lời tiên tri, những chuyện trọng đại "cơ trời", "luật trời", "phán xử", "trừng phạt", "bên trên xắp xếp", v.v. và v.v., hăm he vận mạng người này, doạ dẫm hồn vía người kia, oai vệ cứ như mình là nhân vật trọng đại đã được đặc biệt mời dự buổi họp hàng đêm trên... "thiên đình", cứ như ta đây đã nắm rõ tất cả vận hành của nhân sinh và vũ trụ. Nặng hơn thì đến điên loạn bởi lúc nào miệng cũng lẩm bẩm đối thoại với ai đó "đang nói vào tai mình".
Chẳng qua cũng chỉ vì lòng ham hố được chút danh hão, mong được mọi người xung quanh kính nể mình vì mình biết bí mật "thiên cơ", biết chuyện họa phước tương lai, có biết đâu đã vô tình tự "mở cửa" mời gọi quỷ ma xâm nhập. Ðây là một bí mật mà nhiều người tu vì không biết nên từ lòng chân chất ham tu buổi ban đầu mà về sau phải lún dần vào cái hố thẳm loạn tưởng triền miên, kiếp này sang kiếp khác, khó có ngày ra khỏi.
Khởi sự từ những năm 1983-84 cho đến gần hết thập niên này, trò "điển giáng" trong đạo Vô Vi lên cao độ nhất, khôi hài nhất, đáng tội nghiệp nhất, và nhảm nhí nhất.
Các sân khấu đại hội Vô Vi hàng năm thời ấy cực kỳ náo động và vui nhộn. "Bạn đạo Vô Vi" đua nhau lên đồng, nhập xác tán loạn, kể cả những khi họ có dịp vào gặp LSH tại bất cứ nơi nào LSH "giáng lâm". Có cô bỗng nhiên bước tới trước mặt "đức thầy Tám", sàng qua, sàng lại, khom lưng, vòng tay, ẻo qua, ẻo lại, bước tới, bước lui... Mọi người ngơ ngác, chẳng biết cô làm cái giống chi, Phật Tám LSH ra bộ rành rẽ, tỉnh khô phán :
- "Tiên ở trển người ta múa như vậy !"
(Tôi thấy té ra tiên ở trển múa xem rõ chán phèo. Còn phải tập luyện cực khổ lâu lắm mới múa được như các tiên nữ hạ giới tại Las Vegas !!!)
Có ông xăm xăm lên sân khấu phát xưng mình là ông thần kia, ông thánh nọ; vừa xong lại có bà cũng bỗng khơi khơi xưng mình là Phật Mẫu; chốc lát sau lại có cậu oang oang tiên tri thời cuộc thế giới, vận mạng vũ trụ, v.v. và v.v. Thực là sôi động, náo nhiệt, tưng bừng khôn tả. Tuy nhiên hầu hết đều chỉ liều mạng làm Phật, làm Thần, làm Thánh gì đó độ mươi lăm phút hay nửa giờ rồi "thăng", lễ phép trả lại sân khấu cho đức thầy Tám làm chủ. Cho đến khi Trần văn Trường xuất hiện.Trần văn Trường Nhẩy Ra Ðoạt Gọn Sân Khấu Vô Vi
Bỗng nhiên, không ai thông báo, không "sấm truyền", dĩ nhiên không cả sự "tiên tri" của LSH, Trường đột ngột xuất hiện và tức khắc làm chủ tình hình các sân khấu VV. Trường không nhát cựa như mọi người. Trường vỗ ngực, vênh mặt, dõng dạc tuyên bố hắn là "Cha".
Chấn động càn khôn ! Trong "hệ thống quân giai" của Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Phật Pháp-tức đạo VV, tức đạo xuất hồn-Cha là Cha Trời, tức Thượng Ðế, trên Phật, có quyền hành hơn Phật một bậc. Do đó, Phật Tám bỗng hụt giò, bàng hoàng, thảm hại. Phật Tám chết trân trước sự việc xảy ra quá bất ngờ và mau lẹ, hoàn toàn ngoài khả năng xuất hồn, xuất vía của mình. Phật Tám thẫn thờ, không biết làm gì hơn, đành biết chịu trận cho một tên lạ hoắc nhảy ra ngang nhiên ngồi chình ình trên đầu mình. Trường tỉnh khô, công khai gọi Phật Sống là..."thằng Tám"!!! Trường nổi như cồn, lên như diều gặp gió trên các sân khấu và hậu trường đạo xuất hồn, mau chóng được nhiều môn đồ xuất hồn chấp nhận và gọi là "Cha Trường". Trường cũng tự chọn cho mình một nhãn hiệu : "Cha Nhẫn Hoà". Khi nghiêm nghị, lúc thơ thới, Trường nói liên miên không ngừng, cứ như đã nhiều năm bị bịt miệng không được nói. Phật Tám trái lại, bí xị, thê lương, ỳ thộn ra đó một đống, ngơ ngác suy tư, trông đến tội nghiệp. Ai cũng thấy Tám cú rủ còn hơn con gà mái phải mưa, ngồi nghe Trường múa mỏ, huyên thuyên, rực rỡ, lộng lẫy, quyến rũ..., như một con công chúa trong các cặp mắt của môn đồ ! (Nếu LSH và các môn đồ bất mãn khi đọc những đoạn này, xin xem lại các băng video.) Nhiều buổi hội họp từ đầu chí cuối Tám tuy cũng ngồi một bên sân khấu nhưng không hề có được lấy một lần ra lời. Thỉnh thoảng Trường xoay qua bàn Tám, mở ngỏ cho Tám phát biểu một vài lời.
Trường nói đạo hồn vía như mưa, nhưng cũng dùng các tuyệt chiêu rất tương tự với Tám : toàn những sự việc chỉ có trong mối loạn tưởng của riêng y. Dẫu cho FBI, CIA, KGB, Scotland Yard, và Mossad hợp sức lại đi nữa cũng chỉ có nước chịu thua không kiểm chứng nổi. Thì cũng chẳng có gì khác hơn vía, hồn, điển, "Thiêng Liêng", "ở trển", Thiên Ðình, Ðịa ngục, Thiên Cơ Bất Khả Lậu, v.v. và v.v. Có khác là người nói bây giờ chính là "Cha Trời", và các môn đồ ngây người ra nghe chết mê, chết mệt.
Nhìn Phật Tám, đám môn đồ có phần ái ngại nhưng cũng đành bỏ Tám, ùn ùn theo tuân phục Trường. Tâm trạng đa số lúc bấy giờ là : Ngu sao còn chờ gì không theo ? Rõ ràng ông mập này là ông Phật Sống bấy lâu nay, bây giờ ông ốm kia là "Cha Trời giáng lâm", là thượng cấp của ông Phật này xuống độ thế, ngu sao còn đợi gì mà không theo ? Cha Trường chính là Giáo Chủ Hội... "Long Vân", mình không theo ai cứu "phần hồn" mình ngày tận thế sắp tới ???
Tình hình đạo xuất hồn náo động, biến chuyển vùn vụt như miền Nam Việt Nam sáu, bảy tháng trước ngày 30 tháng 4, 1975.Hai Tên Hề Trên Sân Khấu Vô Vi
Ðã nhiều ngày tháng Phật Tám ngồi chơi sơi nước thộn ra trên sân khấu nghe Trường nói không biết mỏi miệng. Tám trở nên vô dụng và thừa thãi đến nỗi một hôm phải cùng Trường làm một màn hề. Trường giả trang làm Cha Trời, và Tám giả trang làm... Mẹ Trời !!! Tám má hồng môi son, quàng khăn đầu, cặp tay Trường bước ra sân khấu. Các môn đồ ngồi dưới bỗng nhiên thấy trên sân khấu hai đứa hề diêm dúa xiêm y, mặt mày bôi vẽ, vạch màn bước ra. Cả đám ngơ ngác chẳng hiểu nổi là cái đạo lý chi ! Hai tên hề thấy khán giả chẳng ai há miệng cười, hoặc vỗ tay, hoặc phản ứng gì ráo, bèn chỉ biết đứng đực ra... chờ đợi. Rồi có tiếng ai giải thích, các môn đồ ngồi dưới gượng cười giả lả và vỗ tay lộp bộp cho vui nhà, vui cửa.
Trường Tự Hại, Mở Ðường Cho Tám Xả Thẳng Tay
Trường tuổi đời nhỏ hơn Tám nhiều, nên còn lắm nông nổi, vụng về, và không kềm chế, che dấu hoặc bào chữa các tật xấu giỏi như Tám. Trường cũng xưng "mày tao" với đệ tử, và dĩ nhiên Trường "mày tao" luôn cả với Tám.
(Xưa có lần Phật Tám từng bị hỏi về sự thô lỗ này. Tám rằng Tám thương đệ tử cũng như cha mẹ thương con, nên gọi ai cũng... đứa này, đứa nọ, con nọ, thằng kia, là phải chớ có gì đâu ?)
Tuy thế, chẳng phải tất cả đều tuân phục Trường. Thỉnh thoảng có người cãi lý, phần để thử cựa Trường, phần vì Trường lắm khi lóc chóc, mày tao với môn đồ ỏm tỏi, tự làm giảm uy phong của mình. Trường chẳng có bao nhiêu "nhẫn và hòa" như nhãn hiệu "Cha Nhẫn Hoà" tự phong. Nếu như Trường biết ẩn nhẫn đợi thêm 5 năm sau hãy xuất đầu lộ diện, có lẽ cơ nghiệp bá chủ xuất hồn của Trường đã lâu bền hơn rất nhiều. Tánh sân còn lừng lẫy, Trường nhiều lần xách cây đập môn đồ lớn bé chí chạp. Mấy lần Trường đòi đập luôn... Phật Tám vì "Phật mà dám trái ý Cha Trời." Trường lại còn đang tuổi đòi hỏi nhục dục nam nữ. Coi bộ Trường chỉ bạo phổi nhưng non kinh nghiệm nên không thoát khỏi các hố bẫy to tướng này. Các đệ tử bắt đầu xì xào về thái độ quá khích và các hành vi khác của Trường. Tám thấy thế cờ đã mở, bắt đầu phát ngôn bóng gió, gầy lại uy thế dần dà.Phật sống Tám Nhờ Ðiển Mà Hạ Ðược Trường?
Môn đồ đạo xuất hồn đóng góp tiền xây cất nên cái gọi là "Thiền Viện Nhẫn Hoà" tại thủ đô Olympia của Washington State. Ngoài ra, còn cất thêm một cái cốc riêng cho Trường tại Thiền Viện 00, Oroville, California. Tất cả để chuẩn bị cho Trường lên ngôi trùm vũ trụ năm 1989, năm "Ðại Hội Long Vân". Xem thế đủ biết Trường đã thành công vượt bực, dẫu LSH vẫn còn một số đệ tử trung kiên, và có kẻ không chịu lạy Trường. Phật Tám dư biết ngày Trường đăng quang cũng sẽ là ngày Tám lùi sâu thêm vào bóng tối hậu trường.
Nhơn Trường xách cây tìm Tám đòi đập cũng lại vì "Phật mà dám khác ý với Cha Trời", Tám hạ thủ. Phật Sống cầu viện các đấng thiêng liêng đại diện cho luật pháp, là các ngài có nhiệm vụ giữ gìn an ninh và trật tự xã hội tại quốc gia Hoa Kỳ, châu MỸ, địa cầu, thái dương hệ. Rốt cuộc, chẳng phải điển Thiêng Liêng, điển Thượng Ðế, hoặc điển ở trển nào đã giải quyết cuộc tranh dành làm ông trùm xuất hồn giữa Trường và Tám. Chỉ là mấy thầy chú Cảnh Sát MỸ, con chó lửa giắt bên hông phải, cây ba-toong giắt bên hông trái, ngồi xe có đèn xanh đèn đỏ trên mui chạy tới.
- xứ Hoa Kỳ văn minh nơi hạ giới phàm trần này, nếu Trường xách cây đập con chó nhà hàng xóm thời Trường cũng được rước ngồi xe có ghế nệm, có còi hụ, có đèn màu chớp chớp, nói chi đập con người. Trường bị còng tay, lủi thủi ra đi. Tám lấy lại cuộc đời làm Phật sống kiêm Chúa Jêsu trên sân khấu Vô Vi.
Cho đến gần 10 năm sau, một trong vài ba môn đồ VV sống tại Thiền Viện 00 vẫn còn hoạnh hoẹ :
- "Thiền Viện này có điển của Ðức Thầy coi giữ, ngoài cổng có Long Thần, Hộ Pháp canh, có chuyện là cảnh sát nó chạy tới liền hà, chớ đừng có tưởng !"
Sau khi Trường thất sủng thảm thương, một số đông môn đồ tỉnh cơn mê ma quái, từ bỏ đạo này vĩnh viễn. Trường hiện nay vẫn còn ở với người nữ đệ tử từ dạo ấy. Thiền viện tại Olympia vẫn còn giữ tên "Nhẫn Hòa".
Trong một kỳ báo VV sau này, các môn đồ thâm niên giải thích "biến cố Cha Trường" một cách đầy hiểu biết : Thượng Ðế chuyển điển tạm thời xuống bạn Trần Văn Trường để giải quyết... những bất hoà của ban chấp hành.
Thêm một lần nữa, "Thượng Ðế" lại được dùng vào những công tác rất ư tạp nhạp của một dúm người. Ðây là một chứng bệnh thông thường, nguyên nhân phát xuất từ cái TÔI, cái TA cực kỳ quan trọng, cực kỳ đặc biệt, cái TA có "sứ mạng thiêng liêng", có nhiệm vụ "cứu đời", đến nỗi "Thượng Ðế" phải bỏ kệ nhiều tỉ người đang khốn đốn, lầm than, nghèo đói trơ xương, bệnh hoạn không thuốc men, v.v., để đến lo cho RIÊNG MÌNH !!!!!
Năm 1998, kẻ bị 50 ngàn đồng hương tại Little Saigon, California, Hoa Kỳ, biểu tình mắng nhiếc, nguyền rủa, chính là kẻ đã từng một thời làm "Cha Trời" từ trò "điển giáng" mà ra vậy.Xin đón xem phần cuối cùng :
Luyện Xuất Hồn Ðể Tự Chữa Bệnh và Chữa Bệnh Cho Người KhácMọi ý kiến, chia xẻ kinh nghiệm, xin gởi cho :
Bố Cáo Quan Trọng
Tôi đã được fortunecity.com thông báo là Web page "Những Sự Thật về Ðạo Xuất Hồn" đăng trên fortunecity.com phải bị ngưng vì "vi phạm tác quyền của Vovi Association, Canada".
Tôi đã trình bày với fortunecity.com rằng bản tường trình của tôi nhắm mục đích đưa ra những sự thật về LSH và tổ chức này, cũng như những điều phi lý, không chứng minh được, hoặc hoàn toàn bịa đặt. Tôi liệt kê vắn tắt nhiều điều tiêu biểu để chứng minh.
Tôi cũng báo cho fortunecity.com biết tôi đã tiếp xúc với luật sư và được luật sư cho biết như sau :
Ðiều luật năm 1978 của luật pháp Hoa Kỳ về bản quyền và tác quyền cho phép việc trích dẫn, sao chép những đoạn văn trong các tác phẩm có tác quyền nếu người trích dẫn hoặc sao chép nhắm các mục đích sau đây:
1. Ðể học hỏi
2. Ðể nghiên cứu, sưu khảo
3. Ðể phê bình
3. Ðể bình luận
4. Ðể thông tin, tường trìnhCác nhà giáo được quyền sao chép thành nhiều bản để dùng trong lớp học.
Việc sao chép chỉ bị xem là bất hợp pháp nếu được dùng vào mục đích thương mại, thí dụ như in lại toàn tác phẩm để bán lấy tiền.("The 1978 copyright law permits copying parts of a copyrighted work for such purposes as scholarship, research, criticism, comment, or news reporting. Teachers are also permitted to make multiple copies of a work for classroom use. However, copying for commercial purposes, such as making reprints for resale, is illegal.")
Do đó, fortunecity.com đã đồng ý với lời yêu cầu của tôi, và cho phép tôi đăng lại bản tường trình "Những Sự Thật về Ðạo Xuất Hồn" trên fortunecity.com.
Bản tường trình "Những Sự Thật về Ðạo Xuất Hồn" của tôi hoàn toàn hợp pháp và hợp hiến Hoa Kỳ.
Là công dân Hoa Kỳ, chúng ta được luật pháp Hoa Kỳ bảo đảm quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận.
Nếu độc giả hoặc những ai phổ biến bản tường trình này bị bất cứ ai hăm dọa trực tiếp hay gián tiếp bằng bất cứ phương cách nào, xin độc giả lấy đủ các chi tiết tên họ, địa chỉ của người hăm doạ, ngày, giờ xảy ra sự hăm doạ, và báo ngay cho Police Department tại địa phương và FBI.
Nếu người hăm dọa thực hiện lén lút như gọi qua điện thoại công cộng, gởi thư nặc danh, nhắn người khác nói bóng gió, v.v., xin độc giả cũng báo cáo cho Police Department và FBI.
Khi chúng ta báo cáo các hành vi hăm dọa, phạm pháp, các tội ác, v.v., luật pháp Hoa Kỳ cho phép chúng ta được quyền:- Cho biết tên họ, địa chỉ, và số điện thoại của mình để nhân viên công lực có thể tiếp xúc và thâu thập thêm chi tiết
- Hoặc báo cáo với tính cách nặc danh.Ðịa chỉ, điện thọai và web site của FBI:
Federal Bureau of Investigation
J. Edgar Hoover Building
935 Pennsylvania Avenue, N.W.
Washington, D.C. 20535-0001
(202) 324-3000
http://www.fbi.gov
Ngày 20 tháng 7 năm 2000
Thư độc giả và hồi đáp
Ðộc giả NTD viết :
...
Về phần xét đoán hành động của ông LSH thì qua cặp mắt phàm khó có thể hiểu được dụng ý của ông LSH vì theo sự tra khảo riêng các tài liệu về những vị thiền sư, thí dụ các thiền sư tại Tây Tạng, thường có những hành động kỳ quái khó hiểu trong lúc các ngài còn đang sống. Có một lần tôi nghe nói "Phật Tế Công trong lúc đương thời còn ăn thịt chó, vậy mà ngày nay người ta vẫn còn thờ ngài"!!
Phạm Bá trả lời :
1. Theo bà thì LSH có "dụng ý" gì trong những việc tỉ dụ như:
- Tự xưng là Phật đã thành đạo trước Phật Thích Ca 2500 năm
- Cấm đệ tử treo hình, thờ tượng Phật Thích Ca, và chỉ được treo hình LSH
- Cấm đệ tử đọc kinh điển Phật giáo
- Miệt thị tăng lữ Phật giáo
- Ði các sòng bài casino quốc tế thường xuyên
- Ðem theo bàn roulette và rủ đệ tử cùng luyện ngón này tại bất cứ nơi nào
- Sống sót nhờ y khoa Tây phương nhưng nhất định là nhờ điển, nhờ Thượng Ðế "gia hạn", và khinh thị y khoa là "chưa tới đâu".
v.v. và v.v.
LSH có dụng ý "mầu nhiệm" gì trong những hành vi đó, trong khi rất nhiều người phàm tục chúng ta cũng không hề bị nhiễm những thói xấu quá nặng như vậy ???2. Bà dùng chữ "tra khảo", nhưng ý bà muốn nói "tham khảo", có đúng vậy không ? "Tra khảo" có nghĩa tra tấn cho người ta phải nói ra điều mình đang tìm kiếm, hoàn toàn khác với "tham khảo". Ðây chỉ là sự lầm lẫn bình thường của bà, hay trước kia bà dùng chữ "tham khảo" nhưng sau khi tu theo đạo Vô Vi một thời gian thì bà thích dùng chữ "tra khảo" hơn ? Chính tổ sư đạo này là cụ ÐTH, cho đến LSH, và các môn đồ Vô Vi đều bị bệnh dùng sai chữ này vì tu luyện xuất hồn.
Một môn đồ Vô Vi gởi email phát biểu sự tức tối, và miệt thị tôi là "ngu quá, ngôn ngữ chỉ là do người đời đặt ra mà thôi." Vậy là cụ ÐTH và LSH muốn nói ngôn ngữ loài người ra sao tuỳ ý ??? Dĩ nhiên tôi cũng hoàn toàn không hiểu nổi đạo lý quá mức mầu nhiệm và huyền bí này. Nếu LSH đi riễu qua, riễu lại trước toà Bạch Ốc, la ông ổng lên rằng "Clinton là con quỉ đội lốt người, hãy giết nó" thì sẽ có hai sự việc "nhiệm mầu" xảy ra: một là FBI bắt LSH về điều tra rồi giải về nhà thương điên bên Canada; hai là họ bỏ tù LSH ngay tại Hoa Kỳ, chung với các tội phạm khủng bố và hăm dọa giết nguyên thủ quốc gia. Bà hãy đề nghị LSH thử làm vậy xem sao.3. Bà chỉ "nghe nói" về chuyện "Phật Tế Công", còn tôi thì đã đọc quyển sách mỏng đó từ 50 năm trước. Tôi không nhớ Hòa Thượng Tế Công có ăn thịt chó hay không, hay bà lầm lẫn với Lỗ Trí Thâm là một người giỏi võ nghệ, thích mặc áo nhà sư, nhưng thực sự không phải là nhà sư.
- Hoà Thượng Tế Công không hề tự xưng là Bồ Tát, hay Phật Sống, huống là Phật "đã thành đạo trước Phật Thích Ca 2500 năm như LSH đã tự xưng. "Phật Sống Tế Công" chỉ là danh từ do những người đúc kết những hành vi của Hoà Thượng khi sinh thời, viết thành truyện, và phong tặng.
- Dù cho HT Tế Công hay Lỗ Trí Thâm hay ai đó ăn thịt chó, điều này có nghĩa các nhà sư ngày nay cũng phải ăn thịt chó hay sao ????? Và chúng ta cũng phải kính trọng họ hay sao ?????
- HT Tế Công không hề lăng mạ kinh điển nhà Phật và tăng lữ, trái lại HT thường quyên tải và chính HT gồng gánh gạo về cúng vào chùa Kim Sơn.
- HT Tế Công không hề nói phét hồn vía và khuyên dụ mọi người tu theo pháp tu của HT thì sẽ hết mọi chứng bệnh kể cả các bệnh nan y. Trái lại HT dùng thần thông để chữa bệnh cho dân chúng quanh nơi HT sống. HT cũng không hề phải uống nước tiểu để tự chữa bệnh như LSH đã làm.
- HT Tế Công không hề vào các ổ sóc dĩa, mạt chược để "học bài" và nghiên cứu "kế hoạch xâm chiếm địa cầu của thế giới bên kia". Trái lại, HT Tế Công ngồi tọa thiền đêm đêm trên gác chuông cao. Có lần HT ngủ gật, té xuống, người ta tưởng HT phải chết dập thây nhưng HT đáp là là xuống mặt đất, cười khà khà rồi leo lên gác chuông ngồi thiền tiếp.4. Tôi đã đi nhiều nơi nhưng không hề thấy nơi nào thờ "Phật Sống Tế Công" như bà viết, nên nếu có thì chắc là cũng không phổ thông, hoặc chỉ có tại điạ phương chùa Kim Sơn bên Trung Hoa mà thôi.
Ðộc giả TTL viết :
...11 giờ đêm, tôi theo một đệ tử của Phật Tám lên hotel nơi ngài ngự, được một lúc thì tôi nghe ngài rủ một người chơi roulette với ngài. Ðúng là cái mâm roulette ông Phạm Bá đã tả.
Còn một điều nữa : người "đệ tử" tôi nói trong thơ này chính là con gái tôi. Nó đã lớn khôn, ăn học nên người, làm ra tiền nhiều hơn tôi, nhưng thực là nó đã uổng phí công cha, áo mẹ, và mười mấy năm đèn sách của nó..…….
Phạm Bá trả lời :
Tôi đọc thư ông mà lòng thấy buồn quá !!!
Tôi xin cảm tạ tất cả các độc giả đã viết thư góp ý kiến. Xin lưu ý : tuy độc giả không yêu cầu dấu tên hoặc đừng đăng thư (ngoại trừ một môn đồ Vô Vi tu đã 20 năm), nhưng tôi cũng chỉ dùng ba chữ tắt, và trong ba chữ đó có một chữ là chữ tắt tên thực của độc giả. Xin quí độc giả khắp nơi hành sử quyền tự do tư tưởng và tự do ngôn luận của một công dân sống trong thể chế tự do để góp ý kiến và chia xẻ thêm các sự thật.
Kỳ V
TẨU HOẢ NHẬP MA
Nói vắn gọn, "tẩu hoả nhập ma" chỉ cho hai sự kiện :
1. Người luyện không biết cách khống chế--hoặc không thể khống chế--và làm chủ được luồng khí nóng (hoả hầu) chạy trong cơ thể, phát sanh do sự tu luyện một phương pháp nào đó có liên quan đến luồng khí lực này.
2. Hậu quả là người luyện bị các biến chuyển bất bình thường tác hại trên thể xác và tâm thần.
"Tẩu hoả nhập ma" gây cho người luyện nhiều hậu quả tai hại khác nhau, với những mức độ nghiêm trọng khác nhau. Tôi xin trình bày tiết mục này qua ba tiểu mục có liên hệ với nhau: (1) Người luyện hỏa hầu cần có những điều kiện gì để có thể luyện thành công? (2) Các kết quả tốt đẹp. (3) Các hậu quả tác hại.
Những điều kiện tiên quyết cho người luyện hỏa hầu
Ngay từ khi hơi nóng bắt đầu phát xuất từ vùng dưới rốn nơi các huyệt Ðan điền và Khí hải, người luyện hoả hầu hoặc các môn liên hệ đến hoả hầu phải biết khống chế và dẫn luồng khí nóng này vào đúng các kinh mạch lớn nhỏ, chánh, phụ, trước, sau, và dẫn đúng cách. Người luyện phải thông suốt phương cách làm chủ hoàn toàn luồng hoả hầu này trong tất cả các giai đoạn khai, phát, vận, và thâu. Nói đến việc luyện hoả hầu là nói đến công phu khắt khe, nghiêm túc, miên mật trong thời gian dài 5, 10 năm hoặc hơn nữa. Bí thuật luyện hoả hầu do đó chỉ được các bậc thầy truyền dạy cho một vài người, và phải hội đủ ít nhất là các yếu tố tiên quyết sau đây:
- Thân thể khoẻ mạnh, dẻo dai, sức chịu đựng bền bỉ.
- Trầm tĩnh, gan dạ, quyết tâm, bền chí.
- Không nôn nóng mau thành hoặc để có khả năng trả thù, hoặc chỉ để khoe khoang, để được người khác nể sợ, hoặc chỉ để thoát ra khỏi sự ở không, vô công rỗi nghề, nhàm chán.
- Không bị các điều kiện nội tâm sôi nổi hay ngấm ngầm chi phối.
- Không bị ngoại cảnh làm phân tâm. Chính vì điều kiện này nên người luyện thường ẩn cư các nơi xa vắng, tránh người lai vãng, và tránh các sinh họat xung động thường nhật được càng nhiều càng tốt. Nếu người luyện tự cao, tự thị rằng mình có thể "an nhiên bất động" bất cứ nơi nào, trước bất cứ tâm trạng gì, sự việc gì, v.v., đương sự sẽ chỉ rước họa vào thân.
- Ðiềm tĩnh, kinh nghiệm. Không dễ mừng, dễ giận, dễ lo sợ, dễ hoảng hốt.
- Phải có thầy là người đã luyện thành công, tinh thông, lão luyện, theo sát hướng dẫn mình từng bước.Có bao nhiêu môn đồ Vô Vi biết những điều sơ bản tôi đã trình bày trên đây ? Căn cứ vào những sách của đạo xuất hồn, tôi tin là chính LSH cũng không hề biết. Huống là những chi tiết quan yếu hơn của phương pháp luyện hỏa hầu ! Huống là việc luyện hỏa hầu, luyện xuất hồn hoàn toàn không có liên hệ gì đến đạo pháp và các pháp thiền định của nhà Phật !!! Tuy vậy, theo gương thầy, một môn đồ xuất hồn miệt thị tăng lữ Phật giáo là "Nhâm mạch, đốc mạch mà còn không biết thì tu cái gì ?!"
Vài kết quả của việc luyện hỏa hầu thành công
Những điều kiện tiên quyết kể trên đủ cho thấy sự nguy hiểm của việc luyện hỏa hầu và những môn liên hệ đến hỏa hầu. Nếu thành công, người luyện sẽ được những khả năng và ích lợi gì ? Dưới đây tôi xin kể ra sơ lược và tổng quan chứ không đi vào các chi tiết cặn kẽ.
Trước hết, khi luồng khí lực lưu chuyển qua nhâm mạch và đốc mạch không ngăn ngại, toàn bộ các hệ thống thần kinh của cơ thể hoạt động mạnh mẽ và hữu hiệu hơn. Thân thể thích ứng dễ dàng với những thay đổi về tâm sinh lý, thời tiết, thực phẩm, v.v., do đó gần như ít có việc đau ốm vặt.
Mỗi khi vận hành luồng khí nóng, các chấn động trên thần kinh hệ gây nên cảm giác tê tê, mát hoặc lạnh, dễ chịu.
Sau đó, khi đã thuần thục, người luyện có thể dẫn luồng khí nóng đến bất cứ kinh mạch, cơ phận nào của cơ thể để điều chỉnh sự xáo trộn hoặc hư tổn tại chỗ đó (tức là tự chữa bịnh).
Hành giả có thể thực hiện những khả năng mà người bình thường không làm được, như cho tăng hoặc giảm nhiệt độ của bàn tay khiến cho bàn tay ấm, nóng, mát, hoặc lạnh.
Hành giả có thể cho dao chém vào chỗ bắp thịt được vận khí làm cho dao dội ra, cho đến việc thực hiện được các tuyệt kỷ võ công. Chọn một bộ môn mình ưa thích để chuyên luyện, hành giả có thể đạt các khả năng phi thường sau vài mươi năm kiên trì luyện.
Tâm linh hành giả biến chuyển dần với thời gian tùy theo các động lực tiềm tàng và tùy theo các luân xa khai mở. Sơ khởi, hành giả ít ăn, ít ngủ nhưng vẫn có nội lực sung mãn (ít khi là thật, đa số chỉ là ảo giác). Các giấc chiêm bao "điềm" đến thường xuyên hơn và có liên hệ với thực tại sắp đến; cảm nhận được một cách mạnh mẽ những điều họa phước sắp xảy đến cho mình (hầu hết phụ nữ chẳng hề luyện hỏa hầu nhưng cũng có các giấc chiêm bao và cảm nhận loại này, gần như là khả năng bẩm sinh), v.v. và v.v.Tuy nhiên, có những điều hiểu lầm rất phổ thông cần được khẳng định rõ ràng như dưới đây:
1) Nếu hành giả kiên trì khổ luyện suốt đời cho đến mức tối hậu và khai mở được "luân xa Hoa Sen Ngàn Cánh" trên đỉnh đầu, điều đó có nghĩa hành giả thành công mỸ mãn, toàn bộ hệ thống luân xa được đánh thức và vận hành bình thường, tốt đẹp. Tuy nhiên, điều đó hoàn toàn không có nghĩa hành giả đã "đắc đạo".
2) Dù cho hành giả hiến trọn đời mình để trui rèn cho thành một hay vài kết quả phi phàm, giá trị thực tế của những khả năng ấy cũng không đáng là bao so với quyết tâm và thời gian hành giả đã dâng hiến cho sự khổ công tu luyện:
- Dao chém không vào bắp thịt : luyện "gồng" thành công cũng được kết quả này, nhưng hành giả cũng vẫn phải chịu thua súng đạn.
Khoảng năm 1985-1990, các công ty làm áo giáp đã chế tạo được loại áo giáp nhẹ cân có khả năng phân tán sức va chạm vào cơ thể. Người mặc áo giáp có thể đứng cho một người cầm cây đánh banh baseball phạng thẳng cánh vào ba sườn mà không hề hấn gì. Loại áo giáp dành cho các lãnh tụ lớn và các nhân viên an ninh, công lực, có thể giảm thiểu được sức xuyên thủng của đạn bắn tầm gần xuống còn tương đương với một cú đấm thôi sơn và chỉ khiến nạn nhân té và bất tỉnh. Thay vì dành ra nhiều năm trường hoặc dâng hiến trọn đời để luyện cho dao chém không vào, người ta có thể mua loại áo giáp dành cho công chúng.
- Ði được trên nước : đi được bao lâu, bao xa, và đáng giá bao nhiêu so với tiền ngồi ghe, đò, phà ? Và khi đi trên nước sẽ vác được mấy ký đồ đạc trên vai ???
- "Vạn lý truyền thanh": ai dám bảo đảm việc "truyền thanh" này là chính xác và có thể thực hiện bất cứ lúc nào, với bất cứ ai, qua bất cứ địa thế nào ??? Theo nguyên tắc, môn này chỉ được dùng--sau khi đã được thử nghiệm nhiều lần--giữa thầy và trò, hoặc giữa đôi ba bậc thầy đều có trình độ tu luyện cao. Giả sử một ông thầy đang tu trên ngọn Ðông Sơn dùng pháp "vạn lý truyền thanh" bảo một đệ tử đang ở cách ông 5 ngày đường là "Hãy vác 30 kg gạo qua ngôi chùa trên núi Tây Sơn", nhưng người đệ tử lại lội bộ 5 ngày đường với bao gạo 30 kg ấy trên vai về gặp ông thầy. Lỗi tại người "truyền thanh" không truyền được rõ ràng 100%, hay lỗi tại người "nhận thanh" đang bị nhức đầu ? Ông thầy có nỡ mắng đệ tử đã nghe lầm "message" của mình, và bắt đệ tử phải vác 30 kg gạo ấy lội bộ 10 ngày đường trở qua Tây Sơn ?
Giả dụ này cho thấy sự bất chính xác, tai hại, nguy hiểm, và khôi hài của khả năng "vạn lý truyền thanh" nếu quả thực có người luyện được.
Ngày nay, với hệ thống điện thoại viễn liên qua vệ tinh tiếp vận, 5, 10 người cho đến hằng trăm ngàn, hằng triệu người cư ngụ khắp địa cầu có thể hội đàm cùng một lúc một cách dễ dàng, chính xác, không ngờ vực, bất cứ giờ giấc nào, và phí tổn không bao nhiêu.
- Phân thân : "khả năng xuất hiện hai nơi hoặc nhiều nơi cùng một lúc" này cũng chỉ nghe thấy, nghe kể, có ghi trong sách, và cũng như các khả năng phi phàm khác, cực kỳ hiếm hoi. Ða số không hề kiểm chứng được, và kẻ tự khoác lác mình làm được--hoặc các đệ tử kháo là thầy làm được--không hề dám ra mặt biểu diễn để chứng minh khả năng ấy.
(Cho đến nay, cuối tháng 7 năm 2000, vẫn chưa hề có một ai ra mặt thực hiện thành công các khả năng phi thường như khinh thân, nhìn xuyên qua tường, chữa bệnh bằng khí công, chữa bệnh cách không, v.v. để lãnh tiền thưởng của ông James Randy và hiệp hội chống các trò bịp bợm.)
Cũng với hệ thống vệ tinh viễn thông tối tân ngày nay, người ta có thể xuất hiện tại bao nhiêu địa điểm tùy ý muốn, và tùy túi tiền của đương sự. Những ai muốn nhìn thấy đương sự, nghe rõ ràng và chính xác từng lời nói của đương sự, chỉ cần có tiền mua cái máy Television đen trắng đáng giá 30 USD là đủ.
Giá trị thực tế của những khả năng siêu phàm có được do việc luyện hỏa hầu (hoặc các môn "thần thông") sau khi trui rèn mãn kiếp cũng chỉ đến mức độ giới hạn, bấp bênh, và khôi hài là thế. Một thực tế đáng thương khác là thỉnh thoảng trên thế giới có một người nào đó luyện được một khả năng xoàng xoàng, chẳng đáng gì so với các mức độ kể trên, cũng đã được vô số người ngây thơ tôn làm "chơn sư", và dốc lòng thờ phụng, tôn kính, dâng cúng. Họ ngưỡng vọng "chơn sư" hoặc con người "siêu phàm" ấy sẽ ban ơn cứu rỗi cho họ, cho việc làm ăn, hạnh phúc gia đình của họ trong hiện tại, và sẽ nắm tay họ đưa họ bay "về trời" khi họ lìa đời.
Trên đây là sơ lược các kết quả tốt đẹp có thể có được của việc luyện hỏa hầu thành công. Nếu như hành giả luyện sai, luyện ẩu, luyện càn, liều mạng luyện theo ý mình nghĩ tưởng thì sao ?
Những hậu quả tác hại của "tẩu hoả nhập ma"
1) Dâm sự quá độ và di tinh là hậu quả thường thấy nhất và rõ rệt nhất của "tẩu hỏa nhập ma". Các thần kinh và cơ phận chịu ảnh hưởng của vùng đan điền bị kích phấn mạnh mẽ vì hành giả không khống chế được luồng khí nóng, và không vận chuyển nó vào được các kinh mạch. Các chức năng bình thường trở nên bất thường, xáo trộn, thái quá. Hành giả có thể may mắn chỉ bị thương tổn nhẹ như đòi hỏi sinh lý liên tục dẫu mình biết là nguy hiểm, và không muốn. Nặng hơn, hành giả bị di tinh liên miên ngày tháng. Cơ thể nóng bức, khó chịu, có trường hợp nóng quá hành giả phải ngâm mình dưới nước mát suốt ngày mà vẫn mê sảng.
Nhẹ hay nặng chỉ là vấn đề thời gian chậm hay mau khiến hành giả đi đến tình trạng kiệt sức. Một hành giả khởi sự có sức khoẻ mạnh mẽ, bền bỉ hơn người, sau một hai tháng "tẩu hỏa nhập ma" chỉ còn là cái xác dật dờ không sinh lực, và thầy thuốc Tây Y lẫn Ðông Y đều phải bó tay.
2) Tùy kinh mạch bị tẩu hoả, và tuỳ luân xa bị kích phấn, hành giả có thể sanh tâm vô cùng thương cảm, hoặc tưởng mình là một vị thần, thánh, hoặc là người từ cõi xa xăm vô tận được một quyền năng tối thượng nào đó gởi xuống cõi này. Hành giả có thể tự tin mãnh liệt là mình có sứ mạng cứu vớt tất cả mọi người hoặc chỉ một số những người nơi địa phương hành giả đang sinh sống, hoặc cứu vớt cả nhân loại khỏi một tai ương khủng khiếp nào đó sắp xảy ra trong tương lai 5, 10 năm sắp đến.
Hành giả bị những ý tưởng hão huyền đó thôi thúc, bức bách, mà không khống chế được chúng. Khổ thay, bản thân hành giả lại không có uy tín, kiến thức, khả năng gì ra trò để có thể dùng làm phương tiện thực hiện những "sứ mạng" quá lớn lao kia. Hành giả đâm ra bịa đặt, nói bóng gió, nói xa gần, nói phét, để mong được người nghe nể phục mình, và rồi họ sẽ tôn kính mình. Hành giả muốn chứng tỏ mình tuy là một con người trần tục như bất cứ ai nhưng rất "phi phàm". (Thực tế đáng thương cho thấy đa số lại là những kẻ chẳng bằng ai trong xã hội !)
Trong trường hợp này, hành giả vì thế hóa quẫn trí dần và thành nạn nhân của những ảo tưởng của chính mình. Hành vi, ngôn ngữ của hành giả phi lý, không tưởng, hão huyền, nếu còn chút may mắn hành giả có thể chỉ bị người xung quanh cho là nửa điên, nửa khùng vì hành giả cũng có những lúc tỉnh trí, nói năng và suy luận có vẻ bình thường.
3) Nếu thần kinh óc bị kích động cùng cực, hành giả có thể bị các luồng tư tưởng của chính mình trong chính đời hiện tại hoặc các đời quá khứ lôi cuốn mãnh liệt. Hành giả tin chắc bẩm rằng mình chính là nhân vật thượng vị, tôn quí, thiêng liêng mà mình hằng ngầm ước muốn tự trong tận đáy lòng. Những "đại vương", "giáo chủ", "thần", "thánh", "tiên", "Phật", "sứ giả nhà trời", v.v., do đây bỗng xuất hiện, với hành vi và tư cách khác biệt một trời một vực với các giáo chủ, tiên, và Phật thực sự.
4) Hành giả quen dần với các xúc cảm mạnh mẽ hoặc tế nhị gây ra bởi những xung động của luồng khí nóng và của các luân xa. Hành giả chìm đắm dần trong thế giới của tư tưởng giao động, đồng thời trở thành cực kỳ chủ quan.
Hành giả cũng có thể cảm thấy nhàm chán, xấu hổ khi một "linh hồn cao thượng" như mình phải thực hiện những phần vụ thông thường của con người như ăn uống, vận trang phục, làm việc để mưu sinh. Hành giả cũng có thể cảm thấy mình bị giam hãm trong thân xác quá giới hạn, eo hẹp và thấp hèn này. Hành giả do đó có những khi tha thiết muốn tự kết liễu mạng sống, muốn "bỏ xác" để được tự do.
5) Hành giả cũng có thể bị nội thương ngấm ngầm do sự mất quân bình lớn lao giữa các cơ năng trong cơ thể sau nhiều năm tháng luyện sai, và nhất là việc luyện nín thở cho được lâu.
Khi một cơ quan đã bị tổn thương nặng, sức ép nhất thời của một buổi công phu có thể khiến hành giả thổ huyết, hoặc tả huyết. Lượng huyết vỡ bung ra từ chính cơ quan đã bị thương tổn âm ỉ bấy lâu.
Ngoài những tác hại liệt kể sơ lược trên đây, "tẩu hỏa nhập ma" cũng còn đưa đến hậu quả trầm trọng thông thường nhất là bệnh tâm thần nhẹ lúc đầu, và có thể đưa đến thực sự điên 100%.
Cần biết những người bị bệnh tâm thần không hẳn lúc nào cũng đều nói nhảm, lý luận nhảm. Họ có thể rất bình thường như mọi người, và lý sự rất xác thực, cho đến khi họ cảm thấy người nghe có thể như tin và trọng họ, có thể nghe những "kiến thức bí mật" của họ mà không bài bác thẳng thừng, lúc đó họ mới thố lộ. Và lúc đó người nghe mới được biết đương sự "chính là người đã làm Liên Bang Xô Viết sụp đổ", hoặc đương sự "mới đàm đạo với chúa Jê Su đêm qua", hoặc đương sự "chính là bạn đồng tu với Quan Thế Âm Bồ Tát".
Việc luyện hoả hầu và các môn tu luyện có liên hệ đến luồng khí lực này càng ngày càng sản xuất nhiều nạn nhân hơn là bậc thầy thực sự. Một vài người rải rác trên thế giới luyện thành công nhưng không hề huênh hoang, và cũng chẳng màng việc thâu nhận đệ tử, huống là tổ chức các buổi diễn thuyết miễn phí cho công chúng vào nghe, để sau đó ai muốn học thì gặp riêng, "sẽ cho biết giá cả sau" như thường thấy.
Ðời sống càng tiến nhanh theo chiều văn minh cơ khí, xã hội tiêu thụ, và nếp sống thành thị sô bồ từ mờ sáng đến quá nửa đêm, con người càng đa mang đủ loại ham muốn lớn, nhỏ, hiển lộ hay ngấm ngầm. Các điều kiện thiết yếu phải có của người muốn luyện vì thế khó được hội đủ. Lại thêm vô phước gặp các bậc thầy nửa mùa hoặc bịp bợm, họa tai do đó nắm chắc trong tay.
Tổ sư môn luyện xuất hồn đã bị tẩu hoả nhập ma ?
Theo quyển Kinh A-Di-Ðà Sớ Giải Và Phật Học Vấn Ðáp do cụ Ðỗ Thuần Hậu--tức tổ sư đạo xuất hồn--viết xong tại Ða Kao, Tân Ðịnh, ngày 1 tháng 8 năm 1966, thân thế cụ như sau :
Thuở thiếu thời cụ bị mẹ ghẻ hành hạ cùng cực. Cha cụ thương xót tình cảnh của con, cho cụ xa gia đình để học và làm việc. Rồi cụ lập gia đình, làm nhiều nghề khác nhau. Rồi cụ chán ngán thế thái nhân tình, muốn đi tu. Sau một thời gian trải qua nhiều cảnh chùa, cụ quy y, thọ giáo nơi "ông Cao Minh Thiền Sư," và cụ "ở nhà làm lấy ăn để tu". Nhưng rồi cụ tự nghĩ rằng cách tu "vô vi xuất chưởng Anh Nhi" của thầy cụ "thì cũng được, nhưng đàn ông không máy sinh dục đựng con, làm sao làm được. Nhưng tôi cũng mượn phần ấy, rồi nhờ sự nghiên cứu Thiêng Liêng, để cứu xét." (Trang 189-190)
Nhìn chung:
1. Cụ trải qua một quãng đời phải chịu đựng lắm nỗi thương đau, rồi cụ thức tỉnh, tầm sư để tu hành.
2. Cụ được thầy dạy cách luyện, nhưng cụ không hiểu nghĩa từ ngữ Tiên đạo "Anh Nhi", và do đó cho rằng cách luyện của thầy không hữu lý.
3. Cụ bèn lấy một phần cách luyện của thầy, sửa đổi đi, thêm thắt vào.
4. Cụ ở nhà làm ăn.
5. Ðồng thời tự tu luyện theo cách mình đã biến chế, và hoàn toàn không có thầy hay người đi trước hướng dẫn.
6. Và cái gọi là "Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Phật Pháp" ra đời.Ngoài từ ngữ "Anh Nhi" mà cụ không hiểu nên bất đồng ý, cụ không hề cho biết rõ chi tiết pháp luyện của thầy cụ ra sao và cụ đã mượn phần nào, rồi sau đó thêm vào những phần nào. Duy có một điều rất chắc chắn : cụ bỏ hẳn kiểu ngồi kiết già, và chủ trương "ngồi như thường để cho thong thả..." (Trang 173) Từ nguyên lai này, LSH và môn đồ xuất hồn cho đến nay chỉ ngồi xếp bằng mà thôi.
Kiết già là thế ngồi vững ổn nhất với nhiều lợi ích quan yếu thực tế và bí mật. Do đó những người tu luyện hay tu hành theo các pháp môn của Ðông Phương--kể cả người Âu MỸ suốt đời chẳng mấy khi ngồi xếp bằng--đều cố gắng chịu đựng sự đau đớn cùng tột của cách ngồi kiết già cho đến khi nào ngồi được an ổn, không còn thấy khổ sở và phân tâm. Từ khi bắt đầu tập ngồi kiết già đến khi ngồi được thoải mái một hai giờ đồng hồ, nhiều người phải trải qua 3 năm, 5 năm, hoặc hơn nữa là thường.
Căn cứ vào các sự kiện cụ ÐTH:
- Tự ý sửa đổi cách tu luyện của thầy cụ
- Tự bỏ hẳn thế ngồi kiết già
- Tự luyện tại gia không người hướng dẫn
- Không hề biết phương cách khai, phát, vận, thâu luồng hỏa hầu
- Thay vì vậy, đút chặt hai ngón tay cái vào hai lỗ tai, thầm niệm "tung lên bộ đầu", với chủ ý sẽ thoát ra xương sọ và "xuất hồn". (Phải chăng việc "tung lên bộ đầu" này là nguyên nhân chính yếu khiến thần kinh óc bị kích phấn, khiến người luyện bị vọng tưởng bức bách, và lý trí băng hoại dần ?)Ðồng thời, căn cứ vào cách đương sự nhận hiểu kinh điển nhà Phật cũng như cách diễn tả mọi sự việc sau khi "luyện xuất hồn thành công", chúng ta có thể đặt câu hỏi : Phải chăng cụ ÐTH, tổ sư đạo xuất hồn, đã bị tẩu hoả nhập ma ???
Thực tế cho thấy :
1) Cụ không thể tập trung tâm trí vào một đề mục nhất định.
Các câu hỏi hoặc do ai đó đưa ra, hoặc do cụ tự đặt, được cụ trả lời rông dài, ngoài đề, linh tinh, bắt cái nọ, quàng cái kia. Tâm trạng võ đoán của cụ trong các cách diễn giảng là một trong những đặc tính cũng thấy trong những người đi theo con đường của cụ. Những khi vấn đáp, rất thường khi một câu hỏi đơn giản đã được cụ trả lời tràng giang, rốt cuộc vẫn không đáp được gì ! Cụ phát ngôn bất cứ từ ngữ, ý niệm, vấn đề nào bỗng nhiên nhảy ra trong tư tưởng cụ, bất kể chủ từ, động từ, túc từ, mệnh đề chánh, mệnh đề phụ, v.v. Ðây là tình trạng hành giả hoàn toàn không kiểm soát được vọng tưởng, bị chúng lôi sồng sộc như lá vàng bị cuồng phong cuốn, như ghe nhỏ bị nước lũ trôi, như ngựa hoang phóng cuồng không yên cương.
Chính LSH và các môn đồ Vô Vi ngày nay cũng hứng chịu cùng hậu quả này và tất cả các hậu quả khác, hoàn toàn không khác một mảy may.
2) Cụ không thể chế ngự được loạn tưởng.
Hệ thần kinh não bị kích phấn liên tục, vọng tưởng nổi lên như sóng cồn, lớp lớp, trùng trùng. Cách luyện lại không tạo cho người luyện khả năng khống chế chúng. Tình trạng rối loạn trầm trọng đến nỗi đương sự không còn phân định được nghĩa lý của các ngôn tự thông dụng nhất. Ðủ loại từ ngữ nửa nọ, nửa kia từ đó ra đời. Sau đây là vài thí dụ của loại "ngôn ngữ Vô Vi" này :
- "Lọc" được cụ gọi là "lừa lọc", tỉ dụ như trong câu : "... nhờ sự tu hành hồn của bạn trực tiếp cùng gián tiếp lừa lọc khí trược hườn thanh."
- "Cơ thể" con người được cụ gọi là "bản thể". Chữ này và tất cả các chữ khác cùng loại được môn đồ Vô Vi dùng phổ thông hằng ngày.
- "Trung tâm" được cụ gọi là "trung tim", tỉ dụ như trong câu: "trung tim bộ đầu" (có nghĩa giữa đỉnh đầu), "trung tim chân mày" (có nghĩa chính giữa hai lông mày).
- "Quyết định" được cụ gọi là "quyết liệt", v.v, và v.v.
4) Khả năng tập trung tư tưởng bị phá tan nên đương sự bị tất cả mọi vọng tưởng khống chế.
Do thần kinh hệ bị dồn ép và kích phấn liên tục bởi xung động của các luồng khí lực châu lưu trong cơ thể bị dồn hết lên đầu, đương sự rơi vào và chìm trong trạng thái dật dờ như cây nhỏ bị cơn mưa lũ cuốn bung gốc. Nước cuốn chiều nào, cây ngả chiều đó. Ðương sự tự tìm lối thoát trong sự phục tòng và thoả mãn từng tư tưởng bất kỳ xuất hiện, và xuất hiện liên miên không ngừng. Từ đó có muôn ngàn cách giải thích quái gở như sau :
- Trang 163, cụ phán "Ngũ Uẩn là: 2 mắt, 2 lỗ tai, cùng mũi miệng". (Ðúng ra, cộng lại phải thành 7 cái.) "Ngũ uẩn" là một danh từ Phật học sơ đẳng, có nghĩa sắc, thọ, tưởng, hành, và thức uẩn, nhưng cụ ÐTH không chịu được như vậy. Cụ không hiểu những chữ đó, nên vọng tâm sẽ không dừng được ở đó. Sự hôn ám của lý trí đã dồn ép đương sự phải chấp nhận mũi và miệng là một để có được tổng số 5, ngõ hầu giải nghĩa chữ "Ngũ Uẩn" cho xong để còn giải quyết nghi vấn kế tiếp nào đó, cũng với cùng một phương cách tương tự, và cứ thế liên tục không ngừng.
- Văn Thù Sư Lợi (phiên âm danh từ riêng "Manjusri") được cụ ÐTH giảng : "VĂN là phải nghe lời chìu lụy Chủ Nhơn Ông Trưởng Lão, THÙ là thù hiềm tánh hay mê trần oán ghét, SƯ: tôi là Vía phụ trợ gọi là Vợ, Ðiển âm, ưa mưu sự gọi là làm Sư đốc xúi cho ham trần, làm hại cho Chồng là CHỦ NHƠN ÔNG hay là TRƯỞNG LÃO XÁ LỢI PHẬT" (Trang 64)
Ngoài cách giải nghĩa bốn chữ "Văn Thù Sư Lợi" như thế, cụ đổi Xá-Lợi-Phất (cũng phiên âm một danh từ riêng của Ấn Ðộ) thành... Xá Lợi Phật. Chỉ vì tâm trí không còn khả năng phân định, nên khi ý niệm về chữ "Xá Lợi Phật" nhảy ra trong đầu kế tiếp theo chữ "Xá Lợi Phất", đương sự liền xáp hai vô làm một cho yên bề loạn tưởng. Môn đồ Vô Vi do đây có chữ Xá Lợi Phật đồng nghĩa với... Xá Lợi Phất.
(Xá Lợi tức Ngọc Xá Lợi, di tích của báo thân các vị đắc đạo sau khi trà tì; Xá Lợi Phật là ngọc Xá Lợi di tích của Báo Thân Phật sau khi trà tì. Xá Lợi Phất là tên của đệ tử thứ nhất trong mười đại đệ tử của đức Phật. Xá Lợi Phất còn chỉ cho Trí Tuệ.)
- "Bồ có nghĩa là bồ bịch dựa nương; Ðề là thuyết đề mục để tu hành luyện đạo." (Trang 39.) Ðó là cách hiểu chữ Bồ Ðề (Bodhi) của đương sự. Chỗ khác, trang 89, đương sự lại phán : "Bồ Ðề chỉ là hột điển lửa mà thôi" (khi đương sự ngồi luyện thấy ánh sáng như hột lửa từ trán bay ra trước), và Mô Ni Châu, Xá Lợi cũng được đương sự cho nghĩa "cục lửa tròn" ấy.
4) Trí nhớ lu mờ, đương sự nói trước quên sau.
Cũng vì bị vọng tưởng cuồng loạn miên man khống chế, mỗi khi mở miệng đương sự liền nói lấy nói để, liên tục không ngừng. Rất nhiều sự kiện đương sự nói rồi quên, chỉ trong chốc lát hoặc ít ngày sau nói lại đã khác hẳn.
Ðiển hình nơi trang 182, cụ phán: "Trong kinh nhà Phật nói: Ta vốn là ta, gọi là căn bản, căn bản gọi là khí điển. Hồn của ta trên Trời sa xuống từ lúc Mẹ ta có thai-noãn trong 6 tháng, làm chủ-bản gọi là trí, ý, hồn, tánh, tình là Vía." ("Kinh nhà Phật" cụ nói đây là loại kinh chỉ có trong trí tưởng tượng của riêng cụ. LSH và các môn đồ đạo này cũng dẫn chứng càn bừa y như vậy.)
Tuy nhiên, chỉ được 10 trang giấy sau, nơi trang 193 cụ lại phán rằng thai-noãn "...đúng 100 ngày thì có thần hồn sa xuống trần gian" thay vì 6 tháng tức 180 ngày vừa nói trên.
5) Không còn lý trí độc lập nữa, thay vào đó là lý trí nô lệ.
Ðương sự hoá thành một kẻ nô lệ cho khái niệm "điển", bị ám ảnh bởi "điển". Bất kỳ ngôn từ, dữ kiện nào, sự việc gì cũng được đương sự qui về "điển" và môn luyện xuất hồn một cách hoàn toàn phi lý.
- Trang 96, cụ giảng nghĩa Nam Mô A Di Ðà Phật một cách quái dị như sau :
- Nam Mô là lửa Ðiển Tinh
- A Di là lửa Ðiển Khí
- Ðà Phật là lửa Ðiển Thần
- Phật là tông chỉ huyền bí của nó.
(Bỗng nhiên đương sự tự thêm vào một chữ "Phật" ở dòng cuối cùng và không giải thích lý do.)- Trang 22, cụ giải thích "Thích Ca Mâu Ni" (phiên âm danh từ riêng "Sakyamuni") nguyên văn như sau:
- Thích: Là giải ra cho Ðức Di-Ðà hiểu
- Ca: Là ca tụng tuyên truyền cho chúng sanh để tu
- Mâu: Là tượng trưng Pháp Lý để tu trong mình [???]
- Ni: Là ngày hôm nay có Khoa Học Huyền Bí Pháp Lý...Hiển nhiên, đương sự đã luyện xuất hồn thành công, và hiểu "Thích tức là giải thích ra, Ca tức là ca tụng, Ni tức là nay" !!!
Tôi trích dẫn các thí dụ trên từ hằng ngàn cách giải nghĩa tương tự của cụ ÐTH, tổ sư đạo xuất hồn tức đạo Vô Vi. Thế mà tổ sư, LSH và các môn đồ lớn bé cứ nằng nặc bảo nhau "cứ cắm đầu thực hành đi rồi sẽ thấy, đừng hỏi, đừng thắc mắc", vậy là nghĩa lý gì ??? Có mắt sáng không chịu nhìn thì có khác chi người mù ? Có miệng không hỏi thì khác gì người câm ? Có đầu óc và lý trí mà không muốn suy xét, không chịu cân nhắc thì có khác gì với kẻ si độn, ngu ngốc, điên khùng ?
Sự thể tương tự như một sự kiện thực tế hằng ngày : mình vào quán nước, quán nhạc, vào bàn tiệc, khi một người ngồi bên đưa cho một điếu thuốc vấn mời mình hút, nếu mình còn lý trí, chưa ghiền và cũng không muốn ghiền cần sa, ma túy, thì mình phải hỏi "Cái gì đây? Bốc-lăn-xe, Ông Già, Gò Vấp, hay Xì Ke ???" Trong những trường hợp quả đó là điếu xì-ke, đương sự lè nhè, nhừa nhựa, nháy mắt: "Cứ kéo đi rồi biết mà, đừng hỏi !"
Ðó cũng là bước đầu tiên của tất cả những người luyện xuất hồn : "Cứ cắm đầu tu" bằng cách nằm phình bụng lên xuống, rồi ngồi xếp bằng đút chặt hai ngón tay cái vào hai lỗ tai, nhắm nghiền mắt, thầm nói "tung lên đầu", cho đến khi thấy cục ánh sáng xanh xanh, đỏ đỏ, thấy có cái gì đó chạy rần rần trong đầu, trong cơ thể, tức là có "ấn chứng", là "ngộ đạo". Ðừng hỏi, đừng thắc mắc, đừng suy luận, đừng dùng lý trí, cứ cắm đầu "tu" đi rồi sẽ biết ???
Tổng hợp tất cả các sự kiện cụ thể đã trình bày trên, phải chăng tổ sư đạo xuất hồn đã là nạn nhân của môn luyện xuất hồn do chính đương sự chế biến ra, và những người luyện theo cũng đã rơi theo vào cái hố sâu thẳm ấy ?
Ðương sự đã tự dò dẫm, chắp vá, sửa đổi, và tự luyện không có thầy. Những biến thái quái dị của tư tưởng và lý trí ấy phải chăng chẳng có gì khác hơn là một vài trong những hậu quả khốc hại của "Tẩu Hoả Nhập Ma" ?
Xin đón xem kỳ tới :
"Ðiển"Mọi đóng góp ý kiến, dữ kiện, kinh nghiệm, xin gởi cho :