LỜI NÓI ĐẦU
Thích Tâm Thiện
I
Triết học Phật giáo là gì ? Đó là một câu hỏi lớn của những ai quan tâm đến Phật giáo như một tôn giáo vì hạnh phúc và lợi ích của con người. Triết lý ấy không phải là con đường của tri thức nhằm tìm kiếm cái nguyên nhân đầu tiên hay cái chết cuối cùng của vạn hữu trong vũ trụ vô biên này. Nó cũng không phải là một bản sao chép (mimesis) những ý niệm được mặc khải một cách thần bí bởi Thượng đế, bởi Brahman hay một đấng tạo hóa, siêu nhiên nào và được rao giảng bởi những kẻ được độc quyền rao giảng. Nó lại càng không phải là những bản thánh kinh đầy bí ẩn chỉ dùng để cắt nghĩa hay biện minh về những vấn nạn siêu hình.
Nhưng, trước hết, triết lý ấy chính là "Ngón tay chỉ mặt trăng", một thành ngữ nổi tiếng mà Đức Phật dùng để thí dụ cho những giáo huấn của Đức Phật một cách chính xác đến độ phi thường. Vì lẽ, ngón tay và mặt trăng được biểu thị như là chân lý công ước (conventional truth) và chân lý tuyệt đối (absolute truth), nó là hai mặt của một thực tại.
Trên bình diện kết cấu văn pháp, "ngón tay" - tức giáo huấn của Phật được dùng như một chủ từ, và "mặt trăng" hay chân lý cứu cánh được dùng như một túc từ, và "chỉ" là động từ diễn tả hành động của chủ từ (ngón tay). Như thế, ngón tay không thể dùng để chỉ hay diễn đạt về ngón tay chính nó, mà được dùng để chỉ đến một đối tượng khác nó, ở đây là "mặt trăng". Và nữa, ngón tay không thể mô tả hay diễn đạt chính xác về mặt trăng, mà nó chỉ đóng vai của sự chỉ dẫn, hướng tầm nhìn về mặt trăng. Từ sự phân tích này, ta thấy rõ rằng ngón tay không phải là mặt trăng ; chức năng của ngón tay là dùng để chỉ mặt trăng. Mặt trăng dầu không thể được mô tả hay diễn đạt bởi ngón tay ; nhưng không vì vậy mà mặt trăng không hiện hữu ; và cuối cùng, mặt trăng dầu có thực, nhưng nếu nó không được chỉ bởi ngón tay, thì mặt trăng không được biết đến. Đây là những nhận thức cơ bản để đi vào nghiên cứu triết học Phật giáo.
II
Vậy triết học Phật giáo là gì ?
Như "ngón tay chỉ mặt trăng", triết học Phật giáo là những giáo huấn dắt dẫn con người đi vào một đời sống hạnh phúc thật sự và soi sáng hạnh phúc ấy bằng những giá trị chân lý của cả hai mặt công ước và tuyệt đối trên cùng một thực tại hiện hữu.
Nó vốn thoát lý ngoài những luận thuyết của nhất nguyên (monolism) ; nhị nguyên (dualism) và đa nguyên (pluralism). Vì lẽ, ngay từ thuở bình minh, chính Đức Phật là người khước từ về một bản thể Đại ngã (Brahman) hay một linh hồn bất tử, nói theo ngôn ngữ của Upanishad, "Brahman, Ngài là nền tảng trên đó trời, đất và bầu khí quyển đan dệt vào nhau, và gió nữa, cùng với hơi thở của muôn loài. Phải biết rằng chỉ có Ngài "là Linh hồn duy nhất". (Munkada Upanishad 2.2.5). Nhưng Đức Phật cũng không chấp nhận triết lý của nhị nguyên , cho rằng giữa thế giới sum la vạn tượng này, mỗi hiện hữu được cấu thành bởi một bản sắc riêng biệt, độc lập của nó và xuất hiện như là mỗi thực thể (entity) đơn nhất... Trái lại, với đôi mắt tuệ giác siêu việt, Đức Phật đã soi sáng hiện hữu như là chính nó (To their appearances as they realy are), nghĩa là hiện hữu được giải minh dưới ánh sáng của chân lý Duyên khởi : "Khi A hiện hữu thì B hiện hữu, khi A không hiện hữu thì B không hiện hữu. Do A sinh khởi thì B sinh khởi, do A đoạn diệt thì B đoạn diệt". Nguyên lý ấy nói rằng : "Sự vật hiện hữu và mỗi cuối đặc tính cá biệt của nó là do nương tựa vào nhau mà có, còn bản thân của chúng - cái mà gọi tự tính (prakrti) thực chất là không có gì cả". (1) Nagarjuna, trong Màdhyamika, ghi rằng : "Như chư Pháp tự tính, bất tại ư duyên trung,
Dĩ vô tự tính cố, tha sanh diệc hậu vô".
Như thế, ánh sáng chân lý dắt dẫn chúng sinh đi vào một đời sống hạnh phúc thật sự của Phật giáo chính là trí tuệ vô ngã. Ánh sáng ấy, theo lời Phật dạy, phải được trực nhận (sanditthika), phải tự mình thể nghiệm lấy (ehipassiko), phải tự mình chứng ngộ cho chính mình (paccattam veditabbo vinnuhi) và mỗi người "hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi".
III
Một kinh nghiệm nội chứng của Phật được Kinh Brahmajàla (Pham Võng) ghi lại như sau : "Nầy các Tỳ kheo, Như Lai biết những kiến giải như vậy, những chấp thủ như vậy, sẽ đưa đến những cảnh giới như vậy, sẽ tạo thành những duyên nghiệp như vậy. Đó là điều Như Lai biết, và còn biết nhiều hơn thế nữa, nhưng Như Lai không chấp. Vì Như Lai không chấp vào cái biết ấy nên tâm được tịch tịnh. Như Lai biết "như thực", tướng sanh diệt của cảm giác (thọ), hương vị và độc vị của chúng ; nhân cái biết ấy, Như Lai được giải thoát hoàn toàn, rũ sạch hết mọi tập khí cảm nhiễm" (đoạn 36).
Điều này cho thấy rằng, kinh nghiệm giải thoát giác ngộ của Phật và Phật giáo không gì khác hơn là một sự thể nghiệm (ehipcasiko) đúng như thật về hiện hữu ; rồi từ đó buông bỏ một chấp thủ, sống xả ly, vô niệm, tỉnh giác.
Từ những chi tiết này, rõ ràng triết lý trong giáo huấn của Phật là một triết lý sống bao gồm cả hai mặt nhận thức và hành động. Nếu không như thế thì giáo huấn của Phật dù cao thượng đến đâu cũng chỉ là những viên gạch vụn của ngôn ngữ, khái niệm héo hắt và rổng toác. Như thế, bao lâu con người còn khát vọng tìm kiếm một ân sủng nào bên ngoài mình hay từ đâu đến, thì khi đó khổ đau vẫn cứ bám chặt canh cánh trong thân phận của kẻ ấy. Vì, như đã đề cập, cảnh giới thực tại - giải thoát là cảnh giới bất khả thuyết bởi ngôn ngữ, bất khả tri bởi tri thức thường nghiệm. Bởi lẽ ngôn ngữ, khái niệm tự thân nó là tỉnh chỉ, là hữu hạn. Do đó, không thể lấy cái tỉnh chỉ, cái hữu hạn để diễn đạt cái sống động, vô biên, thực tại - giải thoát. Tuy nhiên, nếu không có ngôn ngữ, khái niệm thủ vai như những dấu hiệu, biểu tượng, chỉ dẫn... thì cuộc đối thoại giữa Phật và chúng sinh, giữa phàm phu và thánh trí chẳng khác gì "dã tràng xe cát". Do vậy, viện đến ngôn ngữ, khái niệm, luận lý v.v... là một trong những phương pháp triết học Phật giáo ; nhưng cái đích đến của nó không phải những gì được diễn tả bởi ngôn ngữ, mà chính là những gì nằm đằng sau ngôn ngữ, cảnh giới thực tại.
"Phố mùa Đông
Vẫn ấm như Hè
Bánh mì tròn nóng hổi
Ăn sáng, tiệm Charlie". (2)
IV
La Fontaine, (3) trong chuyện thơ ngụ ngôn về "Người đánh xe bị sa lầy" (Le chartier embourbé), kể rằng : Trong vùng Hạ - Bretagne, gọi là Quimpercorention, một bác đánh xe chở đầy rơm rạ bị sa vào vũng lầy mà không ai giúp đỡ. Hoảng hốt, bác giơ tay múa chân nguyền rủa ; bác nguyền rủa cái ổ gà, cái lũ ngựa, cái xe, rồi nguyền rủa luôn cả chính mình. Sau cùng, bác đành cầu xin thần Hercule giúp đỡ :
- Hỡi thần linh Hercule ! Xin hãy phò hộ cho tôi, làm cho chiếc xe ba gác của tôi bay lên khỏi vũng bùn lầy này.
Bỗng dưng trên không, thần Hercule vô hình cất giọng :
- Người hãy cố gắng hết sức mình đi đã, rồi tớ sẽ giúp sau.
- Hãy nhìn xem, vì duyên cớ nào mà xe bị nghẽn bánh. Xung quanh bánh xe, kìa ! Một lớp bùn đang bám chặt đến tận trục, hãy gạt sạch nó đi. Hãy lấy cái búa chim đập vỡ cục đá đang chận nghẽn bánh xe. Hãy lấy đá san bằng cái ổ gà to tướng kia. Sau khi bác đánh xe làm xong nhũng điều chỉ dẫn, thần Hercule hỏi : - Người đã làm như tớ nói chưa ?
- Hỡi thần Hercule rồi ạ !
- Người hãy cầm chiếc roi !
- Tôi đ ã cầm roi trong tay. Ồ ! Cái gì thế này ? Chiếc xe ba gác của tôi chạy được rồi. Hoan hô thần Hercule ! Tạ ơn thần Hercule ! ***
Xe bị sa vào lầy ; nguyên nhân vì sao xe bị sa vào lầy ; chiếc xe đã chạy thong dong (sau khi) gạt đi những lớp bùn lầy đang bám chặt vào bánh xe. Đó là nội dung của tập của tập sách này.
Saigon, mùa Thu 1997
TK. Thích Tâm Thiện
(1) Nagarjuna, Màdhyamika-sàstra - Trích dẫn của T.R.V. Murti, trong "Triết học Phật giáo", tr. 138.
(2) Thơ Haiku của Diane Keaton, đọc theo điệu Waltz.
(3) La Fontaine (1621-1695), nhà thơ ngụ ngôn nổi tiếng của nền văn học cổ điển Pháp.