HIỆN QUÁN VÀ SUỐI NGUỒN TUỆ GIÁC
Thích Tâm Thiện
Chúng ta sẽ bắt đầu từ chánh kiến.
Chánh kiến (right view) là chi phần đầu tiên trong Bát thánh đạo (Ànyàstàngikamàrga) cũng là nội dung của Đạo đế (Màrgaànyasatya) trong Tứ thánh đế (Catvàrià ryasatyàni).
Đây là con đường duy nhất có thể đưa con người đi đến thoát ly sinh tử. Chánh kiến, nói đủ là chánh tri kiến tức cái nhìn đúng đắn, chính xác, chân thật về con người và cuộc đời của chính mình. Do nhìn như vậy mà con người có đủ sức mạnh để đi ra khỏi mọi giấc mộng u huyền sương lạc trong tâm thức. Chánh kiến nếu ở điểm nhìn ban đầu thì gọi là thiền quán, và nếu ở điểm kết thúc cao nhất thì gọi là giác ngộ. Do đó, cái nhìn ở đây mong nguồn mạch của Thánh đạo.
Sự thật cho thấy rằng, một sự thể bao giờ nó cũng xuất hiện một cách tùy thuộc vào đôi mắt của con người. Trên cùng một sự thể, nó sẽ là trần thế trong ánh mắt sai lạc mông lung của người còn tự ngã ; nhưng, qua đôi mắt của người đã thoát hiện tự ngã, sự thể ấy lại là chân như. Do đó, cái nhìn sẽ trở nên một vấn đề quan trọng bậc nhất đối với con người. Và tất nhiên, đời sống an lạc hay khổ đau là tùy thuộc vào cái nhìn mang ánh sáng của chánh kiến hay là tà kiến. Nếu một cái nhìn không được soi sáng bởi chánh kiến hay tuệ giác thì "bao giờ cái nhìn của bạn cũng bị giới hạn bởi cái bạn đang là" (Carl Jung).
Đây là lý do tại sao cái nhìn như thật (yàthabhutam) đứng đầu trong Bát thánh đạo. Một sự thể, nếu không được tri nhận một cách chính xác thì sẽ không nắm bắt nó được, cũng không hiểu biết đúng về nó được, đó là nói về thế giới sự vật hiện tượng. Nhưng khi tri nhận về một sinh thể như con người, thì tri kiến về nó không đơn giản như một vật thể mà nó còn đòi hỏi một sự năng động và sáng suốt của chủ thể nhằm nắm bắt và soi sáng những đối tượng không hình thể, như ý niệm. Vì rằng, với con người, giáo lý "chánh kiến" không những được Phật dạy để nắm bắt đúng đắn về những đối tượng mang hình hài cụ thể, như con chim, hòn đá, khe suối... mà còn giúp con người soi sáng chính cái thế giới ý niệm của nó. Nghĩa là tri nhận chính xác về dòng chảy của các hiện tượng tâm lý, ý thức, cảm thọ ngay nơi xác thân này. Và đây là nội dung của "Tứ niệm xứ quán" (The Four foundatious of mindfulness), tức quán sát về thân thể, về cảm thọ, về tâm lý và về hiện hữu (pháp) của chính mỗi con người.
Như thế về mặt nhân sinh quan, cái nhìn là quan điểm sống của con người về mặt giải thoát luận, cái nhìn chính là lộ trình tu tập thiền quán.
Đức Phật, trong kinh Pàtigamiya (Tiểu bộ), dạy rằng : "Này Bhaggva ! Như Lai không tuyên bố bất cứ ai đạt đến cảnh giới giải thoát thanh tịnh, thì thấy thế giới là bất tịnh ; điều mà Như Lai tuyên bố là bất luận khi nào, một người chứng đắc cảnh giới thanh tịnh, thì người ấy thấy rằng thế giới là thanh tịnh". (Discourse on Pàtika, Long Discours, p. 382).
Tại đây, Đức Phật đã xác định sự quan trọng của cái nhìn trong đôi mắt của người đã giác ngộ. Và cái nhìn, từ bản chất, nó là tác năng diệu dụng của tâm thức. Cho nên, nói đến chánh kiến thì phải nói đến tâm thức. Chánh kiến chính là sự hiển lộ, trưng bày của tâm. Với tâm thức thanh tịnh, thì cái nhìn của tâm thức ấy là thanh tịnh. Do đó, một đối tượng khi được nhìn từ tâm thanh tịnh, thì đối tượng đó được hiển thị trong tính cách của Chân như. Ở đây nó hoàn toàn không bị chi phối bởi ý niệm phân biệt của chủ thể ; tức tâm thanh tịnh hay vô phân biệt. Một cái nhìn như thế được thiết lập trên chiều tuyệt đối.
Mặt khác, nếu một vật thể xuất hiện trong tầm nhìn của chánh kiến, nghĩa là nó được phản ánh một cách như thật bởi tác năng diệu dụng của tâm, thì vật thể ấy đương nhiên được giải kiến (deconstructed) một cách toàn thể từ tổng tướng đến tự tướng. Sự kiện này chỉ xảy ra khi nào tâm thức đã đạt đến một thể tính toàn tri (nhất thiết chủng trí hay Phật trí). Tương tự như cấu trúc của một nguyên tử, nó chỉ được nhận diện qua lăng kính hiển vi, chứ không thể được nhận diện qua đôi mắt thường.
Nhưng cần ghi nhận rằng, hiện hữu của một đối tượng được nhận thức dầu trên chiều tuyệt đối hay tương đối, cả hai đều tùy thuộc vào trạng thái tâm tịnh hay bất tịnh, đây là then chốt của vấn đề.
Từ đó, cho ta thấy rằng dầu tâm Phật hay tâm chúng sinh, thực chất cội nguồn của nó cũng là tâm, tương tự như bánh xe lăn trên con đường dài vô tận, nhưng điểm tiếp xúc của nó với mặt đường chỉ có một điểm và chỉ một mà thôi. Có lẽ đây là lý do Đại Huệ Thư, trong Thiền Học Đại Thành, ghi nhận rằng :
"Thà có thể phá giới như núi Tu Di, chứ không nên để một tà niệm nhỏ như hạt cải huân tập vào Tàng thức". (Bản Hán ngữ)
Như thế, để có một chánh kiến quả là một công việc không đơn giản, nó đòi hỏi công trình tư lự (mindfulness) về thân căn, tâm thức, và vạn hữu. Ở đây, chỉ có thông qua thiền định, con người mới khả dĩ thành tựu một chánh tri kiến như thật về hiện hữu.
Kinh Chánh Tri Kiến (Trung Bộ I), Đức Phật dạy rằng : "Khi một vị thánh đệ tử biết được bất thiện và biết được căn bản của bất thiện, biết được thiện và căn bản của thiện, này chư hiền, khi ấy vị thánh đệ tử có chánh kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này".
Ở đây, thiện được xem là quả và căn bản của nó là nhân. Cũng vậy, bất thiện là quả và căn bản của bất thiện là nhân. Như thế rõ ràng tu tập chánh kiến là con đường đi từ hiện tượng (quả) đến bản chất (nhân) ; đây là phương pháp trực kiến (nhìn thẳng) của Tứ đế. Tương tự như vậy đối với tâm thức, chánh kiến là tác năng hay quả của chánh tư duy (nhân) và ngược lại, chánh tư duy được xem là quả khi nó được sinh ra từ tác năng của chánh kiến (nhân) - nghĩa là, do nhìn đúng sự thật nên tư duy đúng hay ngược lại, do tư duy đúng, nên nhìn nhận sự thật đúng. Do đó, Chánh kiến và chánh tư duy được xem là cơ cấu để hình thành trí tuệ - tia sáng trực giác từ tâm thức. Chánh kiến và Chánh tư duy luôn luôn tựa vào nhau để phản ánh một hiện hữu bên trong hoặc bên ngoài của con người đúng như là chính nó.
Như vậy, sự khổ đau hay hạnh phúc, Niết bàn hay trần thế, tất cả đều tùy thuộc vào điểm nhìn của con người mà thôi; tất nhiên, bản thân của mỗi cái nhìn đều không thể đồng đẳng. Tỉ dụ, một người đứng trên đỉnh núi nhìn ra biển khơi thì khác với người đứng dưới chân núi để nhìn. Điều này tùy thuộc vào trạng thái tâm thức hay địa vị thăng chứng của mỗi con người. Đẳng cấp của nó là ở chỗ tâm cấu nhiễm hay không cấu nhiễm. Tuy nhiên, trên bình diện thường thức, sự khổ đau của con người được qui chiếu vào những mâu thuẫn nội tại trong cái nhìn của chính nó, đồng thời là sự vẩn đục của tâm. Do đó, một hiện hữu khi được soi sáng bởi cái nhìn như thế ắt hẳn là bị méo mó, không đúng như thật. Và khi sự hữu bị thiên lệch, sự thiên lệch đó sẽ phản ánh trở lại trong tâm thức của con người và tạo ra những mâu thuẫn nội tại.
Tỉ dụ, trong khi thực chất của đời sống này là trôi chảy liên tục, nghĩa là nó vô thường, nhưng với tầm nhìn của đôi mắt trần, nó là thường. Tương tự như thế, con người vốn vô ngã, nhưng qua đôi mắt được khuôn định bởi cái khí chất (tập khí - hành nghiệp) bẩm sinh nó là hữu ngã. Một cái nhìn bất toàn, phiến diện, trên một sự thể cũng bất toàn, phiến diện tất yếu sẽ đưa đến một hệ quả khổ đau. Đây là sự nguy hiểm của tà kiến.
La Fontaine, trong câu chuyện ngụ ngôn : "Đôi tai của thỏ rừng" (Les oreilles du lièvre), kể rằng : Một con thú có sừng vô tình làm cho con sư tử bị thương. Sư tử nổi giận lôi đình, truyền lệnh đuổi tất cả những con thú có sừng ra khỏi lãnh địa của nó. Lập tức, dê cái, cừu đực, bò tót, hươu, nai,... đều phải di chuyển vào cánh rừng nhỏ khác. Một con thỏ, trong lúc hóng mát bên bờ sông, bất chợt nhìn thấy đôi tai của mình hiện dưới dòng nước ; nó giật mình hoảng sợ và vội chạy cầu cứu. Lúc ấy, thỏ con thầm nghĩ rằng cái bóng dưới dòng nước chính là "đôi sừng" của mình !
Câu chuyện này cho thấy, khổ đau không phải từ bên ngoài đưa đến mà chính từ tri giác sai lầm về sự hữu hay về chính con người của mình. Do đó, trong tất cả giáo lý của Phật, bất luận khi nào, ở đâu, đối tượng nào, Đức Phật cũng nhấn mạnh đến năng lực của trí tuệ quan sát như là điều kiện đầu tiên để đi vào Phật đạo. Vì thế, một niềm tin hay một nền tín ngưỡng, nếu không được thanh lọc và quan sát bởi chánh tri kiến, chúng sẽ trở thành một niềm tin mù quáng, một nền tín ngưỡng cuồng si. Tất nhiên, với một niềm tin hay một nền tín ngưỡng như thế, sẽ không giúp ích gì trong việc tìm kiếm chân lý và hạnh phúc của con người. Trái lại, nó sẽ dắt dẫn con người đi vào thế giới mộng mị, hoang đường, chẳng khác nào chú thỏ con khổ đau, cầu cứu, van xin chỉ vì tri giác sai lầm về đôi tai của mình.
Vì thế, đã xây dựng một chánh kiến theo tinh thần Phật dạy, chúng ta cần thiết đi vào các đối tượng căn bản của cái nhìn, hay còn gọi là đối tượng của hiện quán, đó là thân thể, cảm thọ, tâm thức và hiện hữu. Đối tượng hiện quán này cũng được gọi là tứ niệm xứ quán (The four foundations of mindfulness).
Tuy nhiên, trước khi đi vào khảo sát các đối tượng hiện quán, chúng ta cần biết hiện quán là gì ?
Hiện quán, nếu hiểu theo cách chiết tự : Hiện là hiện tại và Quán là quan sát, trầm tư, theo dõi một đối tượng nào đó. Các danh từ dùng để gọi phương pháp hiện quán (hay quán hiện) thường được kinh điển đề cập đến như thiền định (samadhi) ; sổ tức quán (ànàpànasati) hay là quán hơi thở ; chỉ quán (samatha) ; trực quán (vipásyanà) hay còn gọi là minh sát tuệ (vipassanà) ; quán tưởng (bhàvana) ; niệm pháp (dharmànussati) v.v...
Như vậy hiện quán là một thể cách thiền định hướng vào các đối tượng của hiện hữu đang là.
Tại sao hiện hữu (dharma) hay pháp trong hiện quán phải là hiện hữu đang là - tức đang trôi chảy trong tri giác của con người hay hiện hữu đó đang là đối tượng (niệm xứ) của tri giác con người. Vì rằng, đối tượng của hiện quán hoặc là một sự thể hay một diễn biến tâm lý được hoài niệm bởi ký ức trong quá khứ, hoặc là những sự thể hay những ước đoán, dự tính của tương lai, thì sự hiện quán đó sẽ đưa chúng ta đi vào miền vĩnh tịch của hư vô không tận. Nó hoặc sẽ nối kết với kinh nghiệm của tri giác để vẽ lại quá khứ viễn vông, hoặc là tựa vào xung lực khát vọng của tự ngã (cái tôi thích, tôi yêu) để kiến lập những lâu đài mộng tưởng. Cả hai đều đưa con người đi đến sự rối ren, bức bách cho tâm lý tự ngã, vốn đeo mang canh cánh trong nó một niềm khát vọng vô bờ.
Mặt khác, càng trầm tư (mindfulness) hay suy tư về kinh nghiệm của quá khứ hoặc ước vọng của tương lai thì con người càng xa rời thực tại - dòng chảy của đương niệm hiện tiền và vĩnh cửu. Một hiện hữu (cho dù đó là hiện hữu của ý niệm) như thế nếu không được soi sáng trong cái khoảnh khắc (sát na) hiện tiền (hay hiện tại), thì mọi cơ đồ của tư duy - hiện quán hóa ra lâu đài xây trên bãi cát, nó là hư ảo. Tỉ dụ như một sự thể (đối tượng) được quan sát bởi những quan sát viên trong phòng thí nghiệm, kết quả quan sát sẽ trở nên rỗng tuếch, vô ích nếu người quan sát chỉ tập chú vào cái quá khứ của nó hoặc cái vị lai của nó. Vì quá khứ thì đã qua, tương lai thì chưa đến ; chỉ có hiện tại, bây giờ và ở đây, sự thể đang nở nụ trưng bày như là chính nó.
Hơn thế nữa, sự thật của hạnh phúc hay khổ đau, chân lý hay mộng mị của con người bao giờ cũng xuất hiện ngay nơi tri giác - hiện hữu. Chính cái tri giác hiện hữu mà con người cảm thọ khổ đau hay hạnh phúc. Nếu không như thế, nghĩa là không có chất sống - tức tri giác về, khổ đau hay hạnh phúc ngay trong hiện tại, thì mọi giá trị đều trở nên khô héo như một xác chết, trong khi thế giới vạn hữu bao la mênh mông này thì sống động giao hòa như Xuân, Hạ, Thu, Đông bốn mùa hoa lá, chim chóc thay đổi với biết bao lần sinh, bao lần tử.
Vả lại, một người đang khát khao đi tìm kiếm chân lý và hạnh phúc, trong nội tâm của anh ta bao giờ cũng ấp ủ một khát vọng được sống với hạnh phúc và chân lý, chứ không phải chỉ để hồi tưởng về, hay vọng tưởng đến một thứ không hiện hữu của hạnh phúc và chân lý. Tất nhiên, "sống" bao giờ cũng là hiện tại, dù là hiện tại đơn thuần hay hiện tại tuyệt đối.
Và cuối cùng, hiện quán là phương pháp giúp soi sáng như thật về bản chất của hiện hữu. Đó là cái nhìn trí tuệ và thực nghiệm của tự thân mỗi con người. Bao lâu con người chưa thực sự đối diện với sự hiện hữu của chính mình và chưa thông đạt về cơ cấu nội tại của nó, thì khi ấy, cảnh giới thực tại vẫn là cõi lý tưởng nghìn năm mà con người tìm kiếm. Cho đến khi nào mọi cơ cấu của tự ngã đã vỡ tung, mọi ý niệm phân biệt đều buông xả, đó là lúc cánh cửa của thế giới thực tại không bản ngã mở ra, cứu cánh Niết bàn.
Đức Phật dạy : "Khéo tu tập Bát thánh đạo, làm sung mãn Bát thánh đạo, thời Tứ niệm được tu tập đến viên mãn..." (1) "... Đây là con đường duy nhất khiến chúng sinh được thanh tịnh, giúp vượt qua sầu bi, chấm dứt ưu phiền và khổ đau, chứng đạt chân lý, chứng ngộ Niết bàn. Đó là Tứ niệm xứ". (2) Và "Này các tỳ kheo, khi nào các ông được giới khéo thanh tịnh và chánh tri kiến, các ông hãy y cứ trên dưới, tu tập Tứ niệm xứ theo ba cách : nhiệt tâm, chánh niệm tỉnh giác và nhiếp phục tham ưu ở đời" (3)
Như thế, hiện quán quả thực là một con đường tu tập độc nhất của Phật giáo dù nó được biểu hiện ở bất luận hình thức nào. Tất nhiên, mức độ hiện quán sẽ tùy theo sự nhiệt thành, chánh niệm tỉnh giác và nhiếp phục tham ưu ở đời của mỗi cá thể. Do đó, hiện quán của Phật và hiện quán của chúng sinh không thể giống nhau. Vì hiện quán của chúng sinh được khởi đầu sự tổng tướng đến biệt tướng rồi đến tự tướng. Nói cụ thể là khởi tự từ thô đến tế hay từ thế giới sự vật hiện tượng cho đến mỗi sát na tâm. Tuy nhiên, trước khi thành đạo, chứng đắc giác ngộ tối thượng, Đức Phật cũng đã khởi sự như thế, nghĩa là Ngài cũng bắt đầu từ thân, tâm của mình. Và điều này được Ngài dạy rõ trong 16 đề mục quán tưởng, kinh Tứ Niệm Xứ (xem phần sau). Nói tóm lại hiện quán là quan sát những đối tượng trong thể cách của thiền định ngay nơi thân và tâm của mình (cũng như các pháp (hiện hữu) liên quan đến cuộc đời của mình.) Đây là ý nghĩa của quán thân nơi thân, quán tâm nơi tâm...
1- Hiện quán về thân
Hiện quán về thân thường được biểu hiện nhiều cách khác nhau : hoặc tọa thiền, hoặc đi , đứng, nằm, ngồi v.v... Tuy nhiên, điều căn bản không phải ở cử điệu, thao tác của thân thể vật lý mà ở chính sự chú tâm của người hành thiền. Đi vào hiện quán, trước hết bạn phải điều hòa thân và tâm của mình, đừng để bị dao động mạnh. Rồi sau đó hoặc theo dõi hơi thở vào, hơi thở ra..., hoặc tập trung vào một đối tượng bất kỳ ngay nơi thân của mình để tâm không còn loạn động và bắt đầu trầm tư về thân hành của mình. Điều quan trọng nhất là phải ý thức được và kiểm soát được sự trôi chảy của tâm lý trong lúc hành thiền ; điều này được Đức Phật gọi là chánh niệm, tỉnh giác.
Khi tư duy hay niệm về thân, bạn hãy từ từ phân tích từ các cấu trúc của nó, cho đến các hợp thể cấu thành, các thành tố đang lưu nhuận và sự vận hành của thân này, từ cụ thể đến từng chi tiết (chẳng hạn tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, cốt, tủy... từ các chất thể rắn như da, thịt gân, xương, cho đến thể lỏng như các loại nước trong thân, thể khí như hơi thở, hô hấp và nhiệt độ trong người). Cho đến khi nào, bạn nhận thấy được bản chất của thân là bất tịnh, là vô thường, là sinh diệt, là không có tự ngã..., khi đó bạn sẽ phát hiện được một giá trị mới về thân này và bản chất của nó. Tất nhiên giá trị đó không phải là để nhàm chán thân này, mà nhằm vào xây dựng một quan điểm, một thái độ sống giải thoát, thoát ly mọi ưu phiền khổ não... ngay trong cuộc đời của chính mình. Và kết quả đó sẽ do sự nhiệt thành, nỗ lực và tỉnh giác của bạn trả lời. Đây là bước đầu thực tập phép Hiện quán về thân nơi thân.
2- Hiện quán về thọ
Cũng tương tự như thân, ở đây chúng ta tập trung vào cảm thọ. Cảm thọ (hay cảm giác) chính là thức ăn của tâm thức con người, nó là nguyên động lực làm cho tâm vận hành theo nhiều cách khác nhau. Con người nếu không có cảm thọ, tức tri giác về vui, buồn, khổ, lạc v.v... thì sẽ trở thành kẻ vô tri, tương tự như gỗ đá.
Hiện quán về cảm thọ không có nghĩa là chạy trốn các cảm thọ sầu, bi, khổ, ưu, não, bất an, bất toại, bất hạnh v.v... nó là sự đối diện và quan sát cặn kẽ các loại cảm thọ của mình, biết được nguyên nhân (bên trong cũng như bên ngoài) của các loại cảm thọ ấy và sự vận hành, sinh diệt của nó. Thông thường, cảm thọ có ba loại : cảm thọ khổ đau (khổ thọ), cảm thọ an vui ( lạc thọ) và cảm thọ như vậy (khổ phi lạc). Thực tập như thế cho đến độ thuần thục, bạn sẽ biết rằng thực cảm thọ vui, buồn, khổ, lạc v.v... đều là hư vọng, vì nó không ngừng sinh diệt trong từng khoảnh khắc. Ở đây, bạn cần phải tiếp tục duy trì sự nhiệt thành chánh niệm, tỉnh giác và nhiếp phục tham ưu. Đây là phép hiện quán thứ hai về cảm thọ nơi thọ.
3- Hiện quán về tâm
Quán sát về tâm là sự ý thức và nhận biết rõ ràng các hoạt động của tâm lý trong lúc hành thiền. Bạn hãy, trước hết, tập chú theo dõi dòng luân lưu của tâm thức, đồng thời nhìn nhận một cách chính xác những gì đang đi qua hay hiển lộ trong tâm. Khi tâm tham, sân, si... nổi lên thì biết rõ nó là tham, sân, si... Khi không có tham, sân, si... hiện diện trong tâm thì biết rõ tâm không có tham, sân, si,... Cứ nỗ lực tập trung quan sát như thế đến một lúc nào đó, tâm bạn sẽ từ từ trở nên lắng đọng và thanh tịnh. Điều tối quan trọng là phải luôn luôn tri giác rõ ràng, chính xác về dòng trôi chảy tương tục của tâm thức. Khi an trú trong sự vận hành không dao động và cấu nhiễm của tâm, như thế là bạn đang đi vào chánh định. Nghĩa là tâm tập chú vào một đối tượng (bất kỳ) mà đối tượng đó thoát ly khỏi tham, sân và si thì gọi là chánh định, và ngược lại là tà định. Có một điều nên biết rằng, tâm thực chất của nó là vô ngã tính, do đó, đừng bao giờ chấp thủ về nó, mà chỉ cần giữ chánh niệm, tỉnh giác. Đây là bước thứ ba của pháp hiện quán về tâm nơi tâm
4- Hiện quán về pháp
Đó là sự quán sát tư duy về hiện hữu của thân này qua các cấu trúc của năm uẩn (thân vật lý, cảm thọ, niệm lự, tư duy, ý thức), 12 nhân duyên (vô minh, hành, thức, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, lão - tử, sầu, bi, khổ, ưu, não...) (4), hay bốn đế (khổ đau, an lạc, nguyên nhân của nó, sự thành tựu của nó, và con đường đưa đến sự thành tựu...) v.v... Hoặc suy niệm về các đối tượng hiện quán của bạn (như con người và thế giới sự vật hiện tượng...) qua các giai đoạn sinh thành, hoại diệt, thành, trụ, hoại, không... hay các ấn tượng kinh nghiệm trong tri giác của bạn về khổ đau, vô thường, vô ngã (ba pháp ấn)... hoặc là các đề mục trong 37 phần hộ đạo... Đây là bước thứ tư của phép hiện quán về pháp nơi pháp.
Do công năng thực tập thiền định như trên, bạn sẽ xây dựng cho chính bản thân mình một chánh kiến (right view) như thật về cuộc đời. Từ đó, nắm bắt được các giá trị đích thực về đời sống của con người và muôn loài. Bậc trí giả, theo tinh thần Phật giáo, không phải là người có nhiều kiến thức uyên bác, mà là người nắm bắt và soi sáng được các giá trị của hiện hữu. Tất nhiên, giá trị đó không những là giá trị tiềm tàng trong con người mà cho đến cả con vật và các loài vô tri như sỏi đá, suối nguồn... trong thế giới tương duyên mênh mông vô tận này. Nhưng điều quan trọng hơn hết là giá trị đó, cái giá trị hiện quán về một thực tại vĩnh cửu và không bản ngã chính là giá trị "chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách". Đây là giá trị của một sự chuyển y (àsrayaparàvritti), nó sẽ mở tung cánh cửa Niết bàn ngay tại mảnh đất trần thế gồ ghề, xám xịt này. Và tất nhiên, như đã đề cập, hiện quán là con đường độc nhất, khả dĩ đưa đến một sự chuyển y ngay trong Tàng thức thâm nguyên của con người. Nên nhớ rằng, không ai dù là Thượng đế, Thiên Chúa, Brahman, Alla.. cho đến Đức Phật, có thể tạo ra một sự chuyển y ngay nơi cơ cấu nội tại trong Tàng thức của bạn, mà chỉ có chính bạn, con người duy nhất có thể làm điều đó qua phép hiện quán.
5- Một số chướng ngại trên đường thực tập hiện quán
Ở đây chúng ta đề cập đến một số chướng ngại căn bản trong việc thực tập hiện quán. Những chướng ngại này thuật ngữ gọi là năm triền cái (những điều ràng buộc, gây trở ngại cho việc thiền định) : trạo cử, hôn trầm, dục, sân và nghi.
a) Trạo cử : Là sự tán loạn của tâm thức trong lúc hành thiền. Khi bạn muốn tập trung vào một đối tượng chuyên nhất, nhưng trong chốc lát, ý thức lại nhảy sang đối tượng khác, và cứ như thế mà tư lự đủ điều làm cho tâm không thể an định. Lúc như vậy, bạn cần tỉnh giác hoặc tập trung vào hơi thở theo dõi nhịp điệu ra vào nhẹ nhàng, hoặc chú tâm trở lại đối tượng hiện quán của mình. Điều quan yếu là cần thức tỉnh, biết được sự tán loạn của ý thức. Khi thức tỉnh, sự tán loạn sẽ không còn.
b) Hôn trầm : Thường được gọi là hôn trầm, thùy miên, tức là đi vào trạng thái buồn ngủ hay ngủ quên đi trong lúc hành thiền. Trong trường hợp như thế, bạn cần khởi niệm tư duy về chánh pháp, những điều đã được nghe, thấy... hoặc xoa bóp chân tay, hoặc đi dạo, hoặc rửa mặt... Ở đây, ý chí và sự nhiệt thành sẽ giúp vượt qua hôn trầm, thùy miên.
c) Dục vọng : Là tâm lý mong muốn trở thành hay đạt được một điều gì đó. Đối tượng làm sinh khởi dục vọng thường là sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp, hoặc là sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Khi dục vọng khởi lên, bạn cần đi vào quán tưởng về bất tịnh (như thây chết), về vô thường, vô ngã, khổ đau... cho đến khi nào bạn thật sự thấu đạt về khổ đau, vô thường, vô ngã thì dục vọng sẽ không còn.
d) Sân hận : Là tâm lý bực tức, bất an, khó chịu về một đối tượng nào đó. Khi lâm vào tình trạng như thế bạn hãy khởi niệm tư duy về các kinh nghiệm hiểu biết về tai ương, hỏa hoạn, chiến tranh, chết chóc... Tư duy về những cảnh trạng đau thương đó, tâm ý sẽ lắng dịu và lòng từ bi sẽ khởi dậy.
e) Hoài nghi : Là tâm lý nghi ngờ về chính mình hoặc những hiểu biết của mình, hoặc chính việc thực tập thiền của mình. Điều này xảy ra vì thường là thiếu hiểu biết về đạo lý mà bạn đang tôn thờ hoặc thực hiện. Do đó, để ổn định tâm lý trước khi thực tập thiền định, bạn cần trang bị cho mình những tri thức căn bản về thiền định. Ở mức độ cao hơn, hoài nghi xuất hiện khi bạn chưa diệt trừ dục vọng trong lúc thiền định, những ảo giác như lâng lâng, ánh sáng diệu kỳ, cảnh mây nước, hoa vòng bảy sắc v.v... sẽ là mảnh đất màu mỡ cho hoài nghi phát triển.
Năm điều chướng ngại trên là những bệnh chứng căn bản của thiền định. Nó đòi hỏi nơi bạn một sự nỗ lực và nhiệt thành cao nhất để thành tựu. Tuy nhiên, một phút tâm bạn lắng đọng là một phút bạn sống với thực tại và vượt ra bao nhiêu vòng trói buộc của dục vọng, khổ đau, ưu phiền... để phát triển tâm thức. Có một lời khuyên quan trọng là trước lúc thực tập thiền định, bạn cần học hỏi và trang bị một sự hiểu biết thấu đáo, chân chính, trong sáng về thiền định. Sự hiểu biết đó là điểm tựa duy nhất, khả dĩ cho niềm tin của bạn được kiên cố, vững bền. Một niềm tin mà không có sự hiểu biết chân chính sẽ là điều mù quáng và sẽ dễ dàng bị dao động bởi áp lực của những kẻ cuồng si. Và đôi khi, kẻ cuồng si đó không ai khác hơn là con người thiếu vắng sự hiểu biết của chính bạn.
Đức Phật, trong Nipata, dạy rằng : "Người đã tiêu diệt ảo kiến, phá tan lớp sương mù tối tăm dày đặc trong tâm thức sẽ không còn thênh thang đi mãi. Đối với người ấy, vấn đề nhân và quả không còn nữa".
(1) Tương Ưng V, bản dịch của HT. Thích Minh Châu, tr. 49-50.
(2) Tương Ưng V, sđd..., tr. 146.
(3) Sđd..., tr. 148.
(4) Xem các bài trước