hanhhuong-1.gif - 89.5 K
(Unicode fonts)

do Chùa Giác Hoàng tổ chức
từ 12/10/98 đến 2/11/98

Phái đoàn hành hương chúng tôi gồm 12 người, dưới sự hướng dẫn của Hoà Thượng Thích Thanh Ðạm, trụ trì Chùa Giác Hoàng Washington D.C. - USA

Khởi hành ngày 12/10/1998 từ Hoa Kỳ phái đoàn chúng tôi tới thành phố Thượng Hải vào lúc 6 giờ tối ngày 13/10/1998, chúng tôi ngủ tại khách sạn Galaxy và sáng sớm hôm sau thì được hướng dẫn đi thăm thị trấn Tô Châu bằng xe bus.

1. Cuộc viếng thăm thị trấn TôChâu (Suzhou)

Tô Châu (Suzhou) : Thị trấn Tô Châu cách thành phố Thượng Hải chừng 60 cây số về hướng tây. Tại đây, chúng tôi được lần lượt hướng dẫn đi xem Ðồi Hổ Khâu (Tiger Hill), Chùa Hàn Sơn (Hàn Sơn Tự ), vườn nhà họ Lưu (Lưu Viên), cầu Ngô Kiều và cổng thành cổ Cô Tô.

Ðồi Hổ Khâu (Tiger Hill)

Theo truyền thuyết, vào thời Xuân Thu Chiến Quốc (năm 770-476 trước Công Nguyên) nơi đây là nước Ngô. Sau khi một ông vua nhà Ngô chôn cất vua cha tại ngọn đồi này thì ba ngày sau có con hổ trắng xuất hiện nên người ta gọi nơi đây là Ðồi Hổ Khâu.

Trong phạm vi đồi có một di tích mà người ta gọi là giếng rửa mắt. Giếng này có lịch sử là vào thời nhà Lương (năm 502 TL) có một vị sư trụ trì ở ngôi chùa gần đây, hàng ngày vị đó đi gánh nước từ sông lên chùa, một hôm vị đó đánh đổ thùng nước và thấy vết nuớc thấm sâu, vị đó liền đào giếng ở chỗ đó, và cứ tiếp tục đào sâu thì tìm thấy mạch nước rất trong và tốt, những người dân chúng quanh vùng dùng nuớc giếng rửa mắt thì sáng ra .

Ngay gần đó, còn có di tích vết thử kiếm của vua Hạp Lư. Vào thời Xuân Thu, vua nhà Ngô là Hạp Lư cho triệu người thợ rèn kiếm nổi tiếng là Can Tương và ra lệnh cho ông này rèn cho mình một thanh kiếm tốt, chém đá như bùn. Ông thợ Can Tương luyện kiếm, nấu sắt mãi không chảy. Về sau người vợ là Mạc Gia phải khấn cầu, cắt tóc và móng tay bỏ vào lò, đồng thời cả hai phải cắt ngón tay cho nhỏ máu của mình vào lò mới nấu chảy được sắt, và luyện được một cặp kiếm. Ông Can Tương biết tính tàn ác và đố kỵ của vua Hạp Lư, nếu dâng kiếm tốt thì thế nào cũng bị giết nên ông luyện ra một cặp kiếm, cây hùng (kiếm trống) mang tên là Can Tương và cây thư (kiếm mái) mang tên Mạc Gia. Ông dặn vợ cất cây kiếm thư đi, và nếu ông bị giết thì sẽ tặng cho người khác để trả thù cho ông. Sau đó ông mang thanh kiếm hùng đi dâng vua. Quả nhiên, Vua Hạp Lư thử kiếm chém xuống đá một nhát, chặt tảng đá ra làm hai, và khen là kiếm tốt, nhưng nhà vua sợ người thợ sẽ luyện kiếm tốt cho người khác hay là kẻ thù, nhà vua liền hô quân sĩ mang Can Tương đi chém đầu. Chỗ có tảng đá dài bị chặt đôi ra mà chúng tôi được xem ở đồi Hổ Khâu là nơi thử kiếm của Vua Hạp Lư ngày xưa.

Tiến sâu vào trong, người ta thấy gần nơi cái ao nhỏ có di tích Thiên Nhân Thạch (người ta gọi là tảng đá gật đầu). Tục truyền rằng ngày xưa có một vị sư đệ tử của nhà sư La Thập, giảng kinh rất giỏi. Một hôm vị đó giảng kinh Niết Bàn ở đồi Hổ Khâu này, giảng xong vị đó hỏi cử tọa lời mình giảng có phù hợp với ý Phật dạy không, thì lạ thay ngay cả mấy hòn đá chung quanh cũng gật đầu. Tại nước ta, trong chuyện Quan Âm Thị Kính đã có câu như sau:

Nhấp nhô đá cũng xếp quanh gật đầu

Ðó là từ điển tích "đá gật đầu" ở đồi Hổ Khâu này.

Phía sau Hổ Khâu có một cái tháp làm từ thời nhà Bắc Ngụy (sau nhà Hán). Tháp bị nghiêng đi một góc độ.

Kế đó phái đoàn lại được dẫn xem Khu vườn nhà họ Lưu (Lưu Viên).

Lưu Viên

Nơi đây là một khu vườn lớn của một vị phú hộ họ Lưu thời nhà Minh, ông xây cất khu vườn rất công phu, có những nhà nghỉ ngơi tiếp khách riêng từng mùa trong năm, khu nghỉ mùa đông, khu nghỉ mùa hạ. Trong khu vườn có rất nhiều giả sơn, và hồ sen lớn, cầu nhỏ bắc qua hồ. Trong các nhà nghỉ còn trưng bầy các bàn ghế cổ làm bằng gỗ quý, trên tường có treo những tranh cổ và những liễn đề thơ giá trị.

Sau khi bữa ăn trưa, chúng tôi được hướng dẫn đi xem ngay bên cạnh tiệm ăn, một xưởng thêu. Viên giám đốc giảng cho chúng tôi những kỹ thuật thêu rất công phu của xưởng này. Một người thợ phải có kinh nghiệm hàng 15 năm mới có thể thêu những bức thêu đẹp. Họ thêu bằng những sợi chỉ nhỏ đủ mầu, kể cả dùng tóc để thêu những thân con ngựa. Ngoài ra, chúng tôi còn được xem những tác phẩm tuyệt nghệ về ngành thêu, như những bức thêu tranh nổi, nhìn vào tranh con mèo mà thêu nổi lên như con mèo thật, hoặc những tấm vải thêu đặt trên khung quay, tấm vải này được thêu hai mặt, nghĩa là mặt trước thêu một đề tài, mặt sau thêu đề tài khác, cùng vào một miếng vải. Những bức thêu tuyệt tác này rất đắt cỡ từ 3 đến 5 ngàn dollars.

Kế đó chúng tôi được đưa đi thăm Hàn Sơn Tự, cách thị trấn Tô Châu chừng 6, 7 cây số.

Hàn Sơn Tự

Ngôi chùa này nằm bên bờ con sông đào, rất có thể là một nhánh của Ðại Vận Hà. Phía trước cửa chùa có một cây cầu đá bắc qua sông, nhưng đó không phải là Phong Kiều. Toàn bộ kiến trúc của chùa tương đối mới, người hướng dẫn cho biết ngôi chùa cũ đã bị phá hủy rất nhiều trong cuộc Cách Mạng Văn Hoá. Ngôi chánh điện cũng kiến tạo bình thường như các ngôi chùa lớn ở Trung Hoa, không có vẻ gì đặc biệt cả.

Tại sao ngôi chùa lại có tên Hàn Sơn? Theo "Cao Tăng Truyện", thời Trinh Quán (790 TL) nhà Ðường, có sư Phong Can ở Chùa Quốc Thanh đi vân du vừa gặp lúc ngài Lư Khâu Dẫn đến trấn trị Ðài Sơn. Lư Khâu Dẫn hỏi sư rằng: Ở đây có người hiền không? Sư trả lời: Có Hàn Sơn Văn Thù và Thập Ðắc Phổ Hiền, hình dáng như người nghèo, lại tựa như người cuồng. Khi Lư Khâu dẫn tới trị nhậm, vào chùa thấy hai người, bèn cúi đầu chào. Hai người nói: Phong Can nhiễu sự! Ðoạn dắt tay nhau đi mất. Khi tìm di vật của họ thì chỉ tìm đuợc những bài kệ của hai vị, sau Lư Khâu Dẫn sưu tập các bài kệ thành ra hai quyển Hàn Sơn thi tập và Phong Can Thập Ðắc thi tập . Tương truyền, hai vị Hàn Sơn và Thập Ðắc về sau tu tại ngôi chùa ở Phong Kiều cách huyện Ngô, tỉnh Giang Tô, nên người ta gọi chùa này là Chùa Hàn Sơn.

Ngày nay trong khuôn viên Chùa Hàn Sơn có riêng một ngôi điện thờ hai vị sư Hàn Sơn và Thập Ðắc. Theo lời của người hướng dẫn viên du lịch thì các cặp thanh niên nam nữ ở địa phương sắp lấy nhau thường đến đây lễ để cầu mong được ban những phước lành hầu có hạnh phúc bền lâu. Tầng trên của điện thờ là tàng kinh các (nơi chứa kinh sách), và tầng trên nữa thì có thờ Tôn Hành Giả (tức Tôn Ngộ Không).

Bên trái Chùa có một ngôi tháp cao, kiến trúc tương đối mới. Hằng năm vào đêm trừ tịch (30 Tết), dân chúng vùng Tô Châu thường đến khuôn viên Chùa, duới chân tháp chuông, làm lễ giao thừa, và nhà chùa sẽ thỉnh 108 tiếng chuông để cầu xin Phật Tổ ban cho bá tánh những phước lành. (Phải chăng phong tục đánh chuông chùa nửa đêm này có liên quan đến bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế ?)

Chùa Hàn Sơn này được nhiều người biết đến là nhờ vào bài đuờng thi tuyệt tác Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế. Bài thơ đó đã được truyền tụng cả ngàn năm, và hầu hết các học trò của Trung Hoa đều phải học thuộc lòng bài này. Bài thơ đó như sau :

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn Tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

Cụ Trần trọng Kim đã dịch bài thơ đóù theo thể lục bát như sau :

Quạ kêu trăng lặn sương rơi
Lửa chài, cây bãi, đối người nằm co
Con thuyền đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn.

Theo truyền thuyết thì nhà thơ Trương Kế chỉ là một thí sinh hỏng thi, khi đi về đến bến Phong Kiều, nhìn thấy cảnh đẹp Cô Tô, nửa đêm nằm trong khoang thuyền nên tức cảnh làm ra hai câu đầu, khi còn đang bí về các câu kế tiếp thì chợt nghe tiếng chuông Chùa Hàn Sơn nên bật ra ý thơ và làm ra hai câu kế tiếp. Bốn câu thơ trở nên một bài đường thi tuyệt tác truyền tụng cho đến ngày nay.

Nhưng người ta tự hỏi, thường thường thì các chùa chỉ có đánh chuông thu không vào lúc mặt trời lặn mà thôi, không hề có tục đánh chuông nửa đêm để làm mất giấc ngủ thiên hạ như vậy. Nhiều người muốn tìm hiểu tại sao chùa Hàn San lại đánh chuông nửa đêm. Vì vậy, người ta lại có một truyền thuyết khác khá vui về bài đường thi này.

Một đêm trăng kia, sư cụ trụ trì chùa Hàn San cảm hứng nghĩ ra hai câu thơ :

Sơ tam sơ tứ nguyệt mông lung
Bán tự ngân câu bán tự cung.

Thao thức mãi trong phòng mà sư trụ trì cứ ngâm đi ngâm lại hai câu mà không nghĩ ra câu tiếp. Chú sa di theo hầu sư trụ trì cũng khá văn chương, chú quạt hầu thầy lâu quá, bèn xin phép ra ngoài đi tiểu. Ởû bên ngoài, ánh trăng chiếu xuống một vũng nước in rõ hình trăng tròn. Chú sa di đi tiểu xuống vũng nước làm hình ánh trăng tròn rung rinh bể ra làm nhiều mảnh. Tự nhiên, chú nảy ra ý của hai câu:

Nhất phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn
Bán trầm thủy để bán phù không.

Chú chạy vào thưa lên sư cụ trụ trì hai câu thơ của mình. Quả nhiên hai câu thơ của sư cụ ghép vào hai câu thơ của chú sa di thì thật là một bài thơ tuyệt tác. Ôâng Trần Trọng San đã dịch bài thơ như sau:

Mồng ba, mồng bốn, trăng mờ,
Nửa dường móc bạc nửa như cung trời
Một bình ngọc trắng chia hai
Nửa chìm đáy nước nửa cài từng không

Làm xong bài thơ này lúc nửa đêm, sư cụ lấy làm đắc ý, bảo chú tiểu lên tháp đánh chuông tạ ơn Phật. Tình cờ, cũng đêm đó trên thuyền ở bến Phong Kiều thi sĩ Trương Kế cũng không ngủ được vì không nghĩ được câu kế tiếp cho hai câu :" Nguyệt lạc ô đề….". Tự nhiên chuông chùa Hàn Sơn đổ đến, gợi hứng cho thi nhân hoàn tất bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc.

Chúng tôi đi vòng phía sau chùa thì gặp 1 gian thờ tổ, và một gian nhà ngang trong có trưng bầy các tấm bia đá (tấm bia nào cũng có khung kính bao bọc bên ngoài) đặc biệt có một tấm bia, với chữ khắc lớn cỡ 40cm, khắc nguyên bài thơ của Trương Kế với lạc khoản của Khang Hữu Vi vào cuối đời nhà Thanh. Còn các bia đá khác là những lời ca tụng cảnh chùa cũng như bài thơ của Trương Kế. Ðối diện với gian trưng bày các bia đá có 1 gian nhà ngang khác, trong có treo 3 cái chuông . Chúng tôi cũng không kịp hỏi người hướng dẫn về lịch sử những chuông này. Nhưng theo chỗ chúng tôi được biết thì vào cỡ 10 thế kỷ về trước có một vị tăng Nhật Bản đã đưa chuông của chùa Hàn Sơn về Nhật. Gần đây chính phủ Nhật mới trao chuông này lại cho chính phủ Trung Quốc. Phải chăng một trong các quả chuông này là chuông đã gợi hứng cho Trương Kế làm thơ vào khoảng 12 thế kỷ trước.

Tiếp đóù, chúng tôi được hướng dẫn đi xem Ngô Kiều và thành cổ Tô Châu.

Ngô Kiều là một chiếc cầu đá xây cất bắc qua một nhánh sông đào. Ðây chính là một trong những kênh đào đầu tiên của nước Trung Hoa, có từ thời Xuân Thu Chiến Quốc (thế kỷ thứ 5 trước Tây Lịch). Kênh đào này có từ thời các vua Ngô Hạp Lư và Phù Sai, là công trình của Ngũ Tử Tư, nối thông được sông Hoài và Trường Giang. Ngô Kiều có những bậc đá lên cao rồi xuống thấp, chỉ dành cho người bộ hành qua mà thôi. Sau này người ta đắp hai cái rãnh để cho mọi người có thể đẩy xe đạp qua cầu.

Cách Ngô Kiều, cỡ 500m là một cửa thành cổ Cô Tô. Cô Tô vốn là thủ phủ của nước Ngô thời Xuân Thu (770-470 trước Tây Lịch). Vua nước Ngô là Phù Sai (con vua Hạp Lư) chiếm được nuớc Việt và bắt được vua Việt Câu Tiễn về giam lỏng. Trong thời gian bị giam cầm, Vua Việt Câu Tiễn chịu nhịn nhục, kể cả nịnh bợ vua Ngô bằng cách nếm phân để đoán bệnh, đồng thời nằm gai nếm mật để tự nhắc nhở khỏi quên thù xưa. Sau có người cận thần là Phạm Lãi bàn cách tiến dâng người đẹp Tây Thi, để cho vua Ngô ham mê tửu sắc mà quên viêc triều chính. Do đó, mà người ta gọi nàng Tây Thi là người đẹp Cô Tô. Về sau Vua Việt Câu Tiễn phục thù lấy lại được nước, giết được Vua Phù Sai và trả thù lại bằng cách lấy sọ của Vua Phù Sai làm cái bô đi tiểu.

Thành Cô Tô có tất cả 16 cửa thành, quãng cổng thành chúng tôi được xem là cái cổng thành duy nhất còn lại, một cổng thành được xây cất hàng 2400 năm về trước . Trước cổng thành có cái hào sâu nối vào sông đào và có cổng để mang thuyền vào trong thành được .

Chiều lúc 5 giờ , chúng tôi lên xe bus để trở về Thượng Hải. Sáng hôm sau, phái đoàn lấy máy bay đi Hoàng Sơn, để thăm viếng các Chùa ở Cửu Hoa Sơn và phong cảnh Hoàng Sơn. Như vậy chúng tôi đã không được xem thành phố Thượng Hải nhiều.

2. Cuộc hành hương tại Cửu Hoa Sơn
và viếng thăm Hoàng Sơn.

Trung Quốc có bốn cảnh núi lớn tại đó có rất nhiều Chùa đẹp, người Trung Quốc thường gọi là Tứ Ðại Phật Sơn.

- Thứ nhất là Ngũ Ðài Sơn (Wutai Shan) thuộc tỉnh Sơn Tây (Shanxi), nơi Văn Thù Bồ Tát hóa thân.

- Thứ hai là Cửu Hoa Sơn (Jiuhua Shan) thuộc tỉnh An Huy (Anhui), nơi Ðịa Tạng Vương Bồ Tát hóa thân.

- Thứ ba là Nga Mi Sơn thuộc tỉnh Tứ Xuyên (Sichuan), nơi tu luyện của Phổ Hiền Bồ Tát.

- Thứ tư là Phổ Ðà Sơn thuộc tỉnh Triết Giang (Zhejiang), là nơi Bồ Tát Quán Thế Aâm thị hiện.

Trước khi tìm hiểu những danh lam Phật tích tại Trung Hoa, chúng ta nên tìm hiểu sơ qua về lịch sử Phật Giáo Trung Quốc. (tham khảo các quyển Sử Trung Quốc và Lịch sử triết học Trung Quốc của Nguyễn Hiến Lê)

Thật là khó biết được chắc chắn Phật giáo vào Trung Hoa từ bao giờ. Trong cuốn Lịch sử Phật Giáo Trung Quốc của Hoà Thượng Thích Thanh Kiểm có chép lại bảy thuyết, nhưng chỉ có thuyết sau đây là đáng tin cậy .

Dưới đời Hán Minh Ðế Lưu Trang , nhà vua nằm mơ thấy một người từ phương Tây ánh sáng tỏa ra rực rỡ chiếu xuống cung điện nhà vua. Tỉnh dậy nhà vua kể lại giấc mộng cho các triều thần nghe, Thái Học văn nhân Phó Nghị giảng :" Thời Chu Chiêu Vương, Phật xuất thế ở phương Tây, mình tỏa ra ánh sáng. Có lẽ bệ hạ mơ thấy Phật". Nhà vua liền sai một đoàn sứ bộ gồm Trung Lang Tướng Thái Âm, Tiến sĩ Trần Cảnh, Vương Tuân cả thảy 18 người sang phương Tây thỉnh kinh. Khi đến nước Nguyệt Chi gần Tây Trúc gặp hai vị tăng là Ca Diếp Ma Ðằng và Trúc Pháp Lan đang hoằng dương Phật pháp. Phái đoàn bèn mời hai vị đó tới Trung Quốc. Hai vị chọn một con ngựa trắng để chở kinh Phật và tượng Phật để sang Ðông Thổ. Năm Vĩnh Bình thứ 10 (năm 67 TL) họ đến Lạc Dương. Hán Minh Ðế mừng rỡ sai dựng chùa Bạch Mã để thờ Phật và dịch kinh điển. Sau đó, hai vị này thấy phong cảnh Ngũ Ðài Sơn giống như cảnh núi Linh Thứu nên hai vị đó lập chùa ở núi này để dịch thuật kinh.

Hai vị đó đã phiên dịch được bộ kinh đầu tiên, kinh "Tứ Thập Nhị Chương". Riêng Trúc Pháp Lan dịch thêm được 5 bộ kinh nữa.

Sang thời Hán Hằng Ðế (148 TL). có một vị Thái Tử xứ An Tức (Parthia) là ngài An Thế Cao tới Lạc Dương, cùng với Nghiêm Phật Ðiêu dịch ra chữ Hán được 39 bộ kinh, tổng cộng 176 quyển .

Chúng ta cần ghi nhận là thời xưa muốn ghi chép, thì phải viết xuống thanh tre, vải lụa, hay thêu trên vải lụa. Mãi tới thời Hán Hòa Ðế (105 Tây Lịch), mới phát minh ra giấy. Ðó là công của vị hoạn quan tên là Thái Luân , phát minh ra giấy bằng lối dùng vỏ cây, giẻ rách và lưới cũ. Sau thời kỳ này thì mới phát minh ra mực (bằng khói đèn) thời Ngụy, Tấn (220-265 TL), tiếp đó sang thời nhà Tùy (581-617 TL) người ta làm ra bản in . Nhờ những phát minh kể trên người ta bắt đầu in kinh sách. Mãi đến cuối đời Ðuờng (618-907 TL), mới có việc in những loại sách thường thức.

Có điều đáng để ý là đạo Phật khi mới vào Trung Quốc thì các tín đồ Ðạo giáo (đạo Lão đã phát triển trước thời đó, nhưng không có tổ chức với hệ thống quy củ) đều thấy ngay nó hợp với họ; mà các vị tăng cũng thấy các tín đồ Ðạo giáo như là anh em của mình, còn các kẻ sĩ đạo Khổng thì xa với họ. Thực ra, Phật giáo và Ðạo giáo khác hẳn nhau : Phật giáo không nhận cái Ngã (ta) là thực, Ðạo thì trái lại; Phật tìm sự giải thoát ở Niết Bàn, Ðạo tìm sự trường sinh; nhưng cả hai tôn giáo đó có những điển giống nhau: thờ tự, trầm tư, luyện hơi thở, kiêng một số thức ăn v..v… Nhất là có truyện Lão Tử về già qua phương Tây, mà đạo Phật cũng ở phương Tây, cho nên tín đồ Ðạo giáo cho rằng Phật với Lão là một . Trong việc dịch kinh Phật, các vị tăng đã dùng ngay một số từ ngữ trong Ðạo Ðức Kinh mà lý giải Phậât giáo, do đó việc dịch kinh vào thời Hán không được chính xác.

Tới thời Ðông Tấn (đầu thế kỷ thứ 5) Pháp Hiển Ðại Sư qua Tây Trúc thỉnh kinh về dịch và từ đó mới có phong trào nghiên cứu đạo Phật, bỏ hẳn những bản dịch cũ đi mà dịch lại kinh cho đúng nghĩa hơn, chú thích rõ hơn.

Mãi tới đời Tùy (603 TL), nhất là đời Ðuờng (720 TL), mới có phong trào sáng tạo riêng Phật Giáo Trung Hoa, nhờ nhiều triều vua khuyến khích và nhờ nhiều vị cao tăng xuất hiện. Kết quả là Phật giáo Trung Hoa đời Ðường thịnh hơn ở Ấn Ðộ, và có nhiều nét đặc biệt (Ðại Thừa phát đạt hơn Tiểu Thừa, Thiền học phát triển) và truyền bá khắp cả Ðông Á. Ðó là một cống hiến của Trung Hoa cho tư tưởng Phật Giáo Ấn Ðộ.

Ðời Ðuờng lại có các vị cao tăng như Huyền Trang Ðại Sư và Nghĩa Tịnh đã qua Tây Trúc để thỉnh kinh đem về dịch. Ngài Huyền Trang (602-664 TL) đã sang Ấn Ðộ 10 năm và thỉnh về bằng đường bộ 657 bộ kinh . Trong 18 năm Ngài Huyền Trang đã tổ chức một ban dịch thuật, gồm những vị cao tăng thông cả Hoa Ngữ lẫn Phạn ngữ hợp tác. Công việc dịch thuật có phương pháp qui củ và kỹ lưỡng. Tới năm 663 Tây Lịch, Ngài đã dịch được 73 bộ, cộng là 1330 quyển. Ấy là chưa kể những quyển kinh Ngài cho dịch từ chữ Hán sang chữ Phạn.

Kế tiếp đó, Ngài Nghĩa Tịnh (631-713 TL) sống thời vua Cao Tôn và Võ Tắc Thiên. Ngài đã dùng đường biển qua Tây Trúc, sống ở đây 20 năm. Năm 695 TL, Ngài thỉnh về 400 bộ kinh nữa. Khi về tới Lạc Dương, Võ Tắc Thiên, rất mộ đạo, đi đón và giúp Ngài phương tiện dịch kinh. Nhưng Ngài không dịch được nhiều như Ngài Huyền Trang.

Công việc dịch kinh của hai Ngài chẳng những làm cho đạo Phật phát triển mạnh ở Ðông Á mà còn ảnh hưởng lớn đến ngôn ngữ và văn học Trung Hoa.

Ông Lương Khải Siêu đã viết về công nghiệp của Ngài như sau : " Dụng ngữ của Trung Quốc giàu thêm được trên 3 vạn ruỡi tiếng. Số đó căn cứ theo số danh từ trong quyển Phật Giáo Ðại Tự Ðiển. Có những tiếng dịch theo âm tiếng Phạn như: Niết Bàn, Sát Na, Phù đồ,v..v.., có tiếng thì dịch theo nghĩa như : chân như, vô minh, chúng sinh v..v..Mà thêm được 35 ngàn tiếng tức là thêm 35 ngàn quan niệm."

Nhờ dịch thuật kinh điển mà văn bạch thoại thời Ðường phát triển, vì lẽ khi dịch kinh người ta lựa những tiếng bình dị cho dễ hiểu. Do đó, dùng bạch thoại xen với cổ văn, lại thêm vì là kinh để tụng, cho nên phải chú trọng đến âm vận, và thứ văn đó gọi là biền văn. Do ảnh hưởng của Phạn ngữ, biền văn đã không dùng hư từ và đối ngẫu .

Vào thời xa xưa, số người biết đọc biết viết rất ít, sự truyền bá đạo Phật lan tràn tới những nơi hẻo lánh cũng đã mang theo sự hiểu biết văn tự, truyền bá văn học tới đó. Ðôi khi, trong một vùng xa xôi, vị tăng của chùa là người duy nhất biết đọc biết viết. Nhiều người trong dân gian cho con cái vào chùa đi tu, cũng mong con sẽ học hỏi được chút kiến thức. Trong lịch sử Trung Hoa, Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương lúc còn nhỏ cũng đã vào chùa đi tu, nhờ đó mà có kiến thức sau làm quan rồi sáng lập ra triều đại nhà Minh (Tại nuớc ta cũng có Vua Lý Công Uẩn cũng là sa di lúc còn nhỏ). Cũng vì đó, dưới thời nhà Minh đạo Phật phát triển rất mạnh mẽ tại Trung Quốc.

Cửu Hoa Sơn (Jiuhuashan)

Theo khảo sát của ngành địa chất học, trước đây 200 triệu năm, Cửu Hoa Sơn vốn là biển cả. Cách nay 140 triệu năm, trái đất trải qua một cơn chuyển mình kịch liệt, bỗng nhiên mặt đất nổi lên giữa biển cả và biến thành lục địa. Những tảng nham thạch trên Thiên Ðài hiện nay chính là dấu tích còn lại từ thời xa xưa.

Cửu Hoa Sơn có tên cũ là Lăng Dương Sơn, gồm một dãy 9 ngọn núi cao diễm lệ, xa trông như chín anh em đứng kề vai nhau nên cũng được gọi là "Cửu Tử Sơn". Nhà thơ Lý Bạch từng ba lần đặt chân tới đây và đã đề thơ ca ngợi phong cảnh kỳ lạ này như sau:

Tích tại Cửu Giang Sơn
Dao vọng Cửu Hoa Sơn
Thiên hà quái lục thượng
Tú xuất cửu phù dung.

Từ đó, Cửu Tử Sơn được đổi tên thành Cửu Hoa Sơn.

Phong cảnh Cửu Hoa Sơn

Bên cạnh những Chùa cổ danh tiếng Cửu Hoa Sơn còn có những phong cảnh rất đẹp, trải rộng một khoảng diện tích trên 100km vuông ở phía nam tỉnh An Huy, giáp gần tới sông Trường Giang. Ngọn núi cao nhất là Thập Vương Ðỉnh (Xiwang) cao 1342m so với mặt biển, kế là ngọn Thất Hiền Ðỉnh (Qixian) cao 1337m, rồi tới ngọn Thiên Ðài Ðỉnh (Tiantai) cao 1306m. Ngoài ra còn hàng 30 ngọn núi khác cao ngoài 1000m. Trên một vài đỉnh núi có những tảng đá mang hình thù đặc biệt như Quán Âm thạch trên Quán Âm Ðỉnh, Mộc Ngư Thạch trên Thập Vương Ðỉnh, Hầu Tử Bái Quán Âm trên Nam Lạp Chúc Ðỉnh v...v... Các chùa nối liền nhau bằng những bậc đá, người ta ước lượng có trên 200 ngàn bậc đá tại đây. Trong núi còn có rất nhiều suối trong, có những suối mang truyền thuyết như Long Nữ Tuyền là nơi đức Kim Bồ Tát khát nước được Long Nữ hiện ra chỉ cho con suối, nên gọi là Long Nữ Tuyền, Kim Sa Tuyền là nơi nhà thơ Lý Bạch đã làm thơ và rửa nghiên mực ở đây. Phong cảnh mùa xuân ở Cửu Hoa Sơn đẹp tuyệt vời.

Lịch sử Phật giáo tại Cửu Hoa Sơn

Phật giáo bắt đầu có tại Cửu Hoa Sơn vào thời Nam Bắc Triều (420-589 TL) - Theo sử ghi lại thì vào đời Lương Vũ Ðế năm Thiên Giám thứ 2, đã có vị sư tên là Phục Hổ (Fuhu) đã tới núi này lập Chùa Phục Hổ. Vào cuối đời Ðông Hán, Cửu Hoa Sơn bắt đầu xây dựng chùa chiền và truyền bá Phật Giáo. Vào năm Vĩnh Huy thứ 4 nhà Ðuờng (tức năm 653 tây lịch) Ngài Kim Kiều Giác (Jin Qiao Jue), thuộc vương tộc Triều Tiên, vượt biển tới Cửu Hoa Sơn, thấy phong cảnh nơi đây mỹ lệ, bèn ẩn cư tu hành suốt 76 năm. Vào đời Ðường, năm Khai Nguyên 16 (tức năm 728 Tây Lịch) Ngài viên tịch. Theo sử liệu, khi Ngài Kim Kiều Giác qua đời, dung mạo vẫn tươi tỉnh như lúc còn sống. Núi vang những tiếng âm u, khỉ và chim đều ai oán khóc thương. Dưới đất phát ra ánh sáng rực rỡ. Nhục thân Ngài được giữ nguyên trong ba năm rồi chúng tăng thiếp vàng nhục thân của Ngài. Chúng tăng cho rằng Ngài là hóa thân của Ðịa Tạng Vương Bồ Tát, bèn chuyển Ngài vào Nhục Thân Bảo Ðiện. Từ đó, Cửu Hoa Sơn được coi như là nơi cho Phật Tử tới chiêm bái đức Ðịa Tạng Vương Bồ Tát. Vía Ngài vào ngày 30 tháng 7. âm lịch.

Từ cuối đời Ðường sang thời Ngũ Ðại, rồi qua đời Tống, đời Nguyên thì tại đây, Phật Giáo phát triển rất chậm tại Cửu Hoa Sơn. Nhưng sang đời nhà Minh và Thanh thì Phật Giáo phồn thịnh trở lại rất mạnh. Dưới thời nhà Minh, ba lần triều đình đã cho tiền để trùng tu lại Chùa Hóa Thành. Hai vị vua nhà Minh đã đến đây chiêm bái.

Sang đến năm Vạn Lịch thứ 1 (năm 1573 TL) dưới thời vua Minh Thần Tông, có Vô Hà Ðại Sư (Wu Xia) tới lập một cái am tại đỉnh Ðông Nhai để tu hành. Trong 28 năm, Ngài đã viết 81 phẩm Kinh Hoa Nghiêm bằng máu ở lưỡi và bột vàng. Ngài thọ126 tuổi. Trong ba năm nhục thân của Ngài còn nguyên vẹn. Các đệ tử cho Ngài là hóa thân Bồ Tát nên thiếp vàng nhục thân của Ngài, và truy thụy Ngài là "Bách Tuế Công." Sang niên hiệu Sùng Trinh ( 1630 TL), vua Minh Tư Tông sắc phong Ngài là "Ẩn Thân Bồ Tát". Ngày nay, nhục thân của Ngài vẫn còn được thờ tại Bách Tuế Cung.

Tiếp đó, cũng còn có các vị cao tăng khác như : Hải Ngọc Ðại Sư thọ 110 tuổi, tu tại Bách Tuế Cung nhục thân cũng được thiếp vàng và giữ cho tới ngày nay. Khoan Thành Ðại Sư tu tại Hoa Thiên Tự, cũng thọ tới 95 tuổi.

Sang đời nhà Thanh, hai vị vua là Khang Hy (Kangxi) và Càn Long (Qian Long) đã tới Cửu Hoa Sơn chiêm bái và ban cho 4 chữ cùng với bút tự "Cửu Hoa Thánh Cảnh" .

Vào thời nhà Thanh, Cửu Hoa Sơn có trên 150 ngôi chùa và từ 3 đến 4 ngàn tăng ni tu tập tại đây. Ða số các chùa tại đây đã bị phá hủy toàn diện hay một phần trong thời kỳ Cách Mạng Văn Hóa, nhất là các tượng Phật cổ đã bị phá. Gần đây, từ năm 1987, người ta mới trùng tu lại các chùa. Ngày nay vùng Cửu Hoa Sơn có cả thẩy 79 ngôi chùa lớn nhỏ. Những ngôi chùa lớn ở đây ta phải kể: Hóa Thành Tự, Kỳ Viên Tự, Bách Tuế Cung, Ðông Nhai Tựï, Nhục Thân Bảo Ðiện, Cam Lộ Tự, Thiên Ðài Tự, Thiên Thai tự, Thiên Kiều Tự, Cổ Bái Kinh Ðài Tự.

Ngày nay các Chùa vẫn còn giữ được nhiều di vật Phật Giáo quý giá như chiếu dụ viết tay của các vua nhà Thanh như Khang Hy, Càn Long, cũng như bản "Aán Ðộ bối diện chân kinh" viết bằng tiếng Phạn. Các ấn ngọc do các Vua thời nhà Minh và Thanh ban cho.

Cuộc hành hương của phái đoàn Chùa Giác Hoàng tại Cửu Hoa Sơn

Chúng tôi tới phi trường Tunxi cỡ 8G30 sáng, xe bus chở chúng tôi ghé thị trấn Hoàng Sơn một lúc rồi đi thẳng đi Cửu Hoa Sơn. Từ Hoàng Sơn (hành trình 150km) chúng tôi đi ngang qua Thái Bình Hồ rồi tới khách sạn Cửu Long tại dưới chân Cửu Hoa Sơn lúc 1 giờ chiều. Ngay đó, chúng tôi được hướng dẫn lấy cable car (chữ nho gọi là huyền đạo, huyền là treo) lên thăm Chùa Thiên Ðài. Gần nơi bến cable car có một cây tùng rất cổ (1400 năm), có hình thù giống con phụng hoàng vẫy cánh , nên nó được mang tên là Phụng Hoàng Cổ Tùng. Người hướng dẫn đã không chỉ cho chúng tôi biết, mãi sau này đọc quyển sách giới thiệu Cửu Hoa Sơn mới rõ có cây tùng này. Cable car ở đây cũng khang trang, mỗi phòng ngồi được 6 người, chạy một lộ trình dài 1350m mang lên độ cao 476m, hết chừng 12 phút. Cable car chạy qua những rừng thông rất đẹp của Mẫn Viên, một vùng rừng thông của Cửu Hoa Sơn. Ra khỏi cable car, chúng tôi đi leo chừng vài chục bậc thang thì qua một cổng lớn rồi đi băng ngang sang Chùa Thiên Ðài. Chùa Thiên Ðài còn được gọi là Ðịa Tạng Thiền Lâm Tự được xây từ đời nhà Minh (thế kỷ thứ 14) và trùng tu lại vào thời Quang Tự nhà Thanh. Chánh Ðiện bề ngang chừng 30m sâu cỡ 8m xây trên sườn núi, trước mặt có sân rộng với 3 cái đỉnh lớn để thắp hương. Từ sân này, ta có thể nhìn ra cảnh bao quát chung quanh, núi non rất hùng vĩ. Những từng dưới, người ta còn đang xây cất lại. Sau đó , chúng tôi sang gian bên để chiêm ngưỡng vết chân của vị Bồ Tát, đây chỉ là vết chân còn trên khung bằng xi măng mà thôi.

Phía ngoài sân có cả chục người phu khiêng cáng mời chúng tôi dùng cáng đi lên thăm Chùa Thiên Thai, ở mãi trên đỉnh núi cao hơn. Nhưng vì hơi muộn rồi, chúng tôi không còn thì giờ để đi lên thăm chùa Thiên Thai và nếu trở xuống muộn thì e rằng không kịp chuyến cable car cuối cùng lúc 5 giờ chiều. Chúng tôi ra chụp ảnh thêm, dùng cable car đi xuống núi và về khách sạn.

Sáng sớm hôm sau 16/10/98 lúc 7G30, chúng tôi lại được dẫn lên thăm Bách Tuế Cung, lần này thì chúng tôi phải đi bộ và leo hơn 2000 bậc đá (hết 1 tiếng đồng hồ), lúc đầu trong phái đoàn ai ai cũng muốn thử sức trèo. Cùng đi với chúng tôi còn có hơn một chục người phu tự động mang theo cáng, họ chỉ chờ chúng tôi ai mệt quá thì dùng cáng và trả chừng 30 đô một chuyến (cả lên lẫn xuống). Cuối cùng chỉ có 7 vị là đi bộ nổi hết các bậc thang (trong số đó có kẻ viết bài này và Hòa Thượng Thanh Ðạm, mặc dù Thầy đã ngoại thất tuần rồi), kỳ dư các vị cao niên khác đều phải dùng cáng mà đi lên. Các bậc đá cũng khá rộng rãi cỡ trên 1m , cứ vài chục bậc thì lại có một chỗ phẳng để ngồi nghỉ chân, hai bên bậc đá họ trồng rất nhiều trúc hoặc tùng, gây cho khách bộ hành những cảm giác tĩnh mịch và đầy thi vị. Trên con đường lên , chúng tôi có gặp một vị sư Trung Quốc cũng lên hành hương, cứ ba bước vị đó lại quỳ lạy 1 lạy (tam bộ nhất bái). Gần tới chùa bậc đá nhỏ lại và hai bên có hàng tay vịn. Cuốn theo tay vịn là một giây xích sắt lớn, trên đó có móc nhiều ổ khóa. Sau này chúng tôi hỏi người hướng dẫn viên mới rõ, tại địa phuơng này các thanh niên nam nữ sắp lấy nhau, họ tới đây cầu nguyện cho lứa đôi được bền vững, và họ mang theo một ổ khóa rồi móc khóa vào xích sắt như một hành động khóa chặt mối luơng duyên với nhau lại. Ðây là một phong tục phổ thông ở Trung Hoa.

Lên hết bậc đá tới đỉnh núi có một cái sân rộng, rẽ sang bên trái ta sẽ thấy Bách Tuế Cung. Ngay ở cửa treo một cái bức hoành nền xanh chữ thiếp vàng ghi hai hàng chữ :

Ân tứ Bách Tuế Cung
Hộ Quốc Vạn Niên Tự,

Phần lạc khoản ghi là của Lê Nguyên Hồng, Tổng Thống Trung Hoa một thời gian ngắn , vào lúc sau cuộc cách mạng Tân Hợi 1911, kế vị Viên Thế Khải.

Chánh điện ở đây rất cổ kính và đơn sơ, chứng tỏ nơi đây là ngôi chùa nguyên thủy không bị hủy hoại nhiều trong cuộc Cách Mạng Văn Hóá. Chính giữa có bàn thờ đức Phật, bên trái người ta thờ nhục thân sơn son thiếp vàng của vị tổ sư là Vô Hà Ðại Sư, đặt trong một cái tủ kính.

Một cơ duyên khác, phái đoàn chúng tôi được vị sư trụ trì nơi đây mời vào phòng họp dùng trà đàm đạo. Vị sư trụ trì đã tặng chúng tôi mỗi người một miếng vải vàng trên có ấn dấu đỏ của Chùa (con dấu này là được Vua phong tặng cho chùa). Chúng tôi bước ra phía trước, bên kia sân rộng, sau khi lên mấy bậc đá là một kiến trúc mới, đó là Ngũ Bách La Hán Cung . Trong kinh Phật thường đề cập đến 500 La Hán theo hộ trì Phật. Sau khi Phật nhập Niết Bàn, cũng có chuyện 500 La Hán kết tập Tam Tạng Kinh. Sau này căn cứ theo chuyện đó mà một số tự viện lập Ngũ Bách La Hán Cung.

Ngôi Ngũ Bách La Hán Cung hai tầng khá lớn này mới xây cách đây hai năm, vừa được khánh thành tháng trước (tháng 9/1998). trên cao hãy còn biểu ngữ nói về lễ khánh thành này. Ngoài sân hãy còn có những bia đá ghi công đức những người cúng tiền xây kiến trúc này (tất cả ghi là năm 1997). Tầng dưới là chánh điện rất rộng, với những tượng Phật lớn; tầng trên là bốn dãy tượng các vị La Hán, tượng nào cũng cao gần 1m dựng trong khung kính. Tượng và kiến trúc hoàn toàn là mới và rất đẹp. Ðặc biệt hành lang sau chánh điện khá rộng với những cột chùa sơn đỏ rất trang nhã và trông bao quát phía đàng sau là một phong cảnh dãy Cửu Hoa Sơn rất hùng vĩ.

Rời Bách Tuế Cung chúng tôi đi xuống lối khác, men theo những bậc đá tới thăm Ðông Nhai Thiền Tự. Ðây cũng là một kiến trúc mới làm gần đây. Vì chúng tôi đi xuống núi nên chúng tôi tới Chùa bằng phía sau. Vòng ra phía trước chùa là một bậc thang khá rộng, trông lên một đài lục giác có mái cong, trên cao có treo bức hoành phi với bốn chữ đại tự "Ðông Nhai Thiền Tự", từ căn nhà cao này nhìn ra bao quát cảnh trí chung quanh Cửu Hoa Sơn rất đẹp. Sau căn nhà nghỉ có thêm bậc đá nữa tiến lên chánh điện, bên phải chánh điệïn cũng có hành lang rộng trông ra phía dãy núi Cửu Hoa Sơn (giống như là hành lang của Ngũ Bách La Hán Cung). Phía đàng sau chánh điện có điện thờ Ðịa Tạng Vương Bồ Tát.

Chúng tôi tiếp tục đi xuống núi qua môt cây cầu có ghi ba chữ đại tự " Phi Long Kiều", một lát sau thì đi qua Chùa Hoa Nghiêm. Ngôi chánh điện của Chùa này đang được trùng tu toàn diện, vật liệu xây cất ngổn ngang. Cột gỗ, xà, kèo đã được dựng lên nhưng chưa xây tường. Chúng tôi lại có cơ duyên, sư trụ trì mời toàn thể phái đoàn vào phòng khách dùng trà. Tại đây, vị trụ trì tặng chúng tôi mỗi người một cái đẫy vải mầu vàng trên có thêu hàng chữ "Cửu Hoa Sơn Hoa Nghiêm Tự" để làm kỷ niệm. Phái đoàn chúng tôi đã góp tiền để cúng vào việc tạo tác ngôi chùa. Sau đó, vị trụ trì ra ngoài chụp hình lưu niệm cùng phái đoàn và tiễn đưa.

Chúng tôi lại tiếp tục đi xuống thì tới Nhục Thân Bảo Ðiện, hay Nhục Thân Tự. Ngôi chùa này được xây từ năm Trinh Nguyên thứ 13 đời nhà Ðuờng (797 TL) và được trùng tu vào thời vua Ðồng Trị nhà Thanh (1862-1874). Chùa được xây cất ở ngay nơi mộ của đức Kim Bồ Tát (Kim Kiều Giác) . Truớc cửa chùa là một cái cổng lớn trên có bức hoành với bốn chữ "Phật Quang Dị Thải" (thải là tia sáng, còn đọc là thể) rồi tới hàng bậc đá rộng (cở 3m bề ngang) gồm 81 bậc, tiến lên một cái sân rộng trước chánh điện, trong sân có rải rác 4 đỉnh đồng lớn để thắp hương và đốt vàng mã. Từ sân này chúng ta có một cái nhìn bao quát xuống chân núi nhấp nhô những mái chùa rất đẹp. Phía trên cao nhất chánh điện có treo bức hoành phi nền đen chữ vàng ghi hàng chữ : "Hộ quốc nhục thân bảo điện", phía dưới là bức hoành phi nền vàng chữ đen ghi hàng chữ " Ðông Nam Ðệ Nhất Sơn" là bốn chữ vua nhà Thanh ban cho Cửu Hoa Sơn. Chúng ta không rõ trong lịch sử Trung Hoa, nhục thân đức Kim Bồ Tát đã giúp nhà vua những gì mà được phong hai chữ hộ quốc.

Trong chánh điện, ngay chính giữa là một cái bệ đá hoa, mà người ta nói là duới đó là nơi có nhục thân Kim Bồ Tát, phía trên bệ đá thờ tượng đức Ðịa Tạng Vương Bồ Tát. phía sau tượng là một bảo tháp bằng gỗ tám cạnh cao lên sát tới trần cao cỡ 5m, mỗi cạnh mỗi từng đều có những tượng đức Ðịa Tạng Vương Bồ Tát (có gần 100 pho như vậy). Giáp tường hai bên là hai hàng tượng của Thập Ðiện Diêm Vương đứng cao cỡ 2m.

Chúng tôi được hướng dẫn xuống qua 81 bậc đá trước cửa chùa, ra khỏi cổng chính và đi tiếp tới Ðịa Tạng Thiền Tự . Ðây là một ngôi chùa mới xây từ năm 1991, kiến trúc rất mới và giản dị, không nhiều mầu sắc như các chùa khác. Trong chánh điện có trần rất cao cỡ 10m, chính giữa có thờ Ðức Ðịa Tạng, hai bên là tượng hai vị thị giả. Thị giả bên tay trái là tượng vị tỳ kheo còn trẻ tên là Ðạo Minh tay cầm tích trượng, thị giả bên tay phải là tượng vị tôn giả có râu, đầu mang mão viên ngoại là Mẫn Công, cha của tỳ kheo Ðạo Minh. Ngài Mẫn Công nhờ con mà thành đạo và hai cha con trở thành hiệp thị của Bồ Tát Ðịa Tạng. Cả ba pho tương cao ngoài 2m, để trong một khung kính lớn. Hai bên giáp tường lại có thờ hai hàng Thập Ðiện Diêm Vương. Ngoài ra bên trái còn có thờ nhục thân của vị tổ thứ 9, chúng tôi chỉ được giới thiệu là quê quán ngài ở Giang Tô (không rõ có phải đây là nhục thân của Hải Ngọc Ðại Sư như đã nói ở trên không). Nhục thân được sơn đen, và đặt trong khung kính.

Vòng ra phía đàng sau là một bức tường cao trên có gắn những tượng nổi, chính giữa là tượng Ðức Ðịa Tạng, chung quanh là những tượng liên quan đến cảnh cửa tử như cảnh quỷ sứ nơi địa ngục, cảnh thuyền bát nhã, tượng đức Mục Kiền Liên v..v..

Chúng tôi xem trong quyển sách giới thiệu về Cửu Hoa Sơn, thì vùng núi này còn có hai ngôi Chùa cổ rất lớn nữa mà chúng tôi không được hướng dẫn đi xem là Kỳ Viên Tự và Hóa Thành Tự. Hai chùa cổ này có rất nhiều di tích lịch sử. Thật là đáng tiếc! (Trong sách này không thấy giới thiệu Ðịa Tạng Thiền Tự, do đó chúng tôi đoán đây là ngôi chùa hoàn toàn mới xây năm 1991 nên không thấy ghi trong sách).

Chúng tôi trở về khách sạn dùng cơm trưa, và ra xe bus lúc 2 giờ để đi Hoàng Sơn.

Tới thị trấn Hoàng Sơn lúc 5 giờ chiều, nghỉ lại khách sạn Ðào Nguyên (Tao Yuan) .

Giớùi thiệu Hoàng Sơn.

Hoàng Sơn là một dãy núi cao, có cả thảy 72 ngọn. Ngọn núi cao nhất là Hoàng Liên Ðỉnh (Lotus Peak) cao 1864m, kế đến là Quang Minh Ðỉnh. Tại đây có những cảnh rất đẹp, những đỉnh núi nhọn hoắt, vách núi thẳng đứng. Nhiều đỉnh núi có những tảng đá mang những hình thể đặc biệt, giống những người hay vật do đó được đặt tên như : Hoàng Liên vì nó trông như những cánh hoa sen; Phật Thủ vì nó trông như bàn tay Phật có năm tảng đá gần nhau như 5 ngón tay; Phi Vân Thạch vì chót vót đỉnh núi có một tảng đá cao; Hầu Tử Kiến Hải, là một tảng đá giống như con khỉ trông ra biển mây; Sư Tử Ðỉnh, vì có ngọn núi giống như đầu con sư tử v..v..

Trên các đỉnh núi hay vách núi có những cây tùng mọc cheo leo, cây tùng nào cũng có hình thù như những cây tán chồng chất lên thành nhiều tầng khác nhau. Loại tùng ở đây rất đặc biệt, rễ cây tiết ra chất dung dịch (acid) ăn vào chất thạch (granite) lâu dần tạo ra thành đất để tự sống. Do đó, ta thấy ở đây có những vách núi thẳng đứng, phẳng như một bức tường vậy mà có một cây tùng mọc cheo leo nhô ra, như một cánh tay vươn ra, thật là kỳ lạ.

Bốn mùa đều có những cảnh đẹp khác nhau. Vào mùa xuân thung lũng có đầy hoa thơm cỏ lạ; vào mùa hè cho ta những hình ảnh rõ ràng, những cảnh rạng đông hoặc hoàng hôn rất là thi vị; vào mùa thu mây thấp bay cuồn cuộn, đứng trên đỉnh núi trông như là một biển mây trắng nhấp nhô, ở giữa nhô lên những mỏm núi như những hải đảo; vào mùa đông tuyết phủ đọng trên những cành cây tùng mang lại một vẻ đẹp đặc biệt. Rất nhiều thi nhân Trung Hoa đời Ðuờng như : Lý Bạch, Ðỗ Phủ, Bạch Cư Dị v..v.. đã tới đây thăm viếng và để lại những bài thơ tuyệt tác ca tụng nơi danh lam thắng cảnh này. Trước kia, môn hội họa chỉ có vẽ về nhân vật thôi, từ đời Ðuờng trở đi các họa sĩ như Lý Huấn, Vương Duy v..v..đã tới Hoàng Sơn vẽ phong cảnh núi non và khai sáng ra môn vẽ sơn thủy.

Cuộc du ngoạn Hoàng Sơn.

Sáng sớm ngày 17/10, chúng tôi được huớng dẫn đi thăm thắng cảnh Hoàng Sơn. (Chữ Hoàng ở đây có nghĩa là mầu vàng). Theo người hướng dẫn du lịch, ngày xưa Tần Thủy Hoàng đã tới núi này để lập đàn lễ cầu xin Trường Sinh Bất Tử. Chúng tôi lên Hoàng Sơn bằng xe treo (huyền đạo hay là cable car). Lên tới nơi, gió thổi mạnh và hơi lạnh, chúng tôi chia làm hai nhóm, ai cảm thấy xung sức thì theo người hướng dẫn đi thăm Quang Minh Ðỉnh, còn ai cảm thấy mệt mỏi, không đủ sức leo cao nhiều hơn thì đi theo về phía đông, nơi đây không phải leo dốc nhiều mà chỉ đi ngang thoai thoải, hẹn nhau gặp tại khách sạn Ðông Hải rồi ăn trưa tại đó. Trong đoàn du lịch có nhiều vị là độc giả trung thành của truyện kiếm hiệp Cô Gái Ðồ Long và Thần Ðiêu Ðại Hiệp khi nghe giới thiệu tới Quang Minh Ðỉnh thì nhớ ngay tới tích Hoàng Sơn Luận Kiếm trên Quang Minh Ðỉnh, đã hăng hái đi xem.

Những bậc đá đi thăm Hoàng Sơn rất rộng rãi, bề ngang cỡ 2m, bậc cao đều đặn và sạch sẽ. Thỉnh thoảng họ làm những bao lơn (point look-out) để du khách ngắm những phong cảnh hùng vĩ. Cũng có vài chỗ đặc biệt thì du khách phải trèo qua những tảng đá treo leo rồi mới tới những chỗ thưởng ngoạn nhỏ hẹp cỡ hai ba người lọt mà thôi: như chỗ ngắm ngọn núi sư tử (Lion Peak).

Về cảnh đẹp hùng vĩ của Hoàng Sơn, thì vĩ đại khó tả hết được. Những phong cảnh này chúng ta đã thấy rất nhiều trong những bức tranh sơn thủy của người Trung Hoa, ngày nay tới Hoàng Sơn thì đã thấy tận mắt là những cảnh đó.

Dọc đường chúng tôi gặïp rất nhiều người phu gánh những vật dụng hay thức ăn từ dưới chân núi lên tiếp tế cho khách sạn ở trên núi. Thỉnh thoảng cũng gặp những người phu quét lá hay rác ở dọc đường, chứng tỏ là chính quyền nơi đây rất chú trọng vào sự sạch sẽ và sự phục vụ du khách.

Khách sạn Ðông Hải ở ngay trên núi Hoàng Sơn rất sang trọng, xây cất dựa vào sườn núi, trông ra một phong cảnh núi non rất đẹp. Vào mùa hè, đa số du khách tới đây vào buổi chiều để được xem cảnh hoàng hôn, sau đó ngủ lại đêm để sáng sớm ngày hôm sau được xem cảnh rạng đông của Hoàng Sơn. Ðó là hai điểm mà du khách của khách sạn này được hưởng, còn như chúng tôi ở tại khách sạn dưới chân núi thì không được xem hai cảnh này. Tất cả các sách giới thiệu, giấy quảng cáo đều có ghi tiếng Anh và tiếng Nhật, chứng tỏ du khách Nhật Bản cũng tới đây rất đông.

Chúng tôi tự hỏi tại Trung Hoa chỗ nào có núi non đẹp đẽ, nơi đó đều có một vài ngôi Chùa. Tại sao tại Hoàng Sơn không thấy ngôi chùa nào cả? Chúng tôi đoán rằng ngày xưa tại đây chắc cũng có vài ngôi chùa nhỏ, nhưng trong cuộc Cách Mạng Văn Hoá các chùa đã bị phá hủy, và khi chính quyền chỉnh trang lại Hoàng Sơn người ta không trùng tu lại các chùa, chủ ý để Hoàng Sơn là nơi thắng cảnh du lịch, không có mầu sắc tôn giáo xen vào.

Sau khi đi xem gần hết các phong cảnh, buổi chiều chúng tôi xuống núi và về khách sạn ăn tối, nghỉ đêm để sáng hôm sau lấy máy bay đi Bắc Kinh.

3 . Cuộc viếng thăm Bắc Kinh và Vạn Lý Trường Thành

Bắc Kinh là thủ đô của nước Trung Hoa ngày nay. Trong lịch sử, Bắc Kinh là nơi đóng đô của năm triều đại Trung Hoa, tức là triều Liêu (916-1201), triều Kim (1115-1234) thời đó gọi là Yên Kinh, triều Nguyên (1260-1368) thời đó gọi là Trung Ðô , triều Minh (1368-1622) và triều Thanh (1636-1911) gọi là Bắc Kinh.

Thành phố Bắc Kinh có diện tích là 16,000 km vuông, dân số 11 triệu (kể luôn cả 3.5 triệu dân ở vùng phụ cận). Ngày xưa Bắc Kinh chia ra làm nội thành và ngoại thành. Hoàng cung cũ nằm ở giữa nội thành.

Cuộc viếng thăm Bắc Kinh.

Chúng tôi từ Hoàng Sơn tới phi trường Bắc Kinh vào lúc 12 giờ trưa, chiều đến chúng tôi được hướng dẫn đi xem Di Hòa Viên ở cách trung tâm thành phố Bắc Kinh 12km về phía tây bắc.

Di Hòa Viên được Vua Càn Long xây dựng thành một nơi nghỉ mát mùa hạ để chúc thọ cho mẹ. Ðây là cả môt công trình xây cất vĩ đại, người ta cho khơi nước từ sông vào một cái hồ nhân tạo rất lớn, đất đào hồ vét lên đắp thành một ngọn đồi. Trên ngọn đồi này có xây một ngôi chùa. Gần đó, người ta xây một căn nhà thủy tọa có hình dáng giống như một chiến thuyền để nhà vua ngồi duyệt đội hải quân tập trận trong hồ.

Chạy dọc theo bờ hồ là những hàng cây liễu và một con đường đá, lác đác những cung điện nghỉ mát trông ra hồ. Những cung điện này được nối với nhau bằng một cái hành lang có mái che. Cột của hàng lang chạm trổ rất công phu, trên những xà ngang là những bứùc tranh cổ rất giá trị.

Ngoài ra, trong Di Hòa Viên còn có những vườn cây trồng đầy những hoa thơm cỏ lạ, những hòn giả sơn thật là đẹp mắt. Chúng tôi chỉ được đi xem có một phần Lâu Ðài Mùa Hạ, vì trời đã tối.

Buổi tối, sau khi được nếm món vịt Bắc Kinh (không ngon bằng ở Hoa Kỳ), chúng tôi đi xem xiệc nhào lộn do các em bé trình diễn. Buổi trình diễn thật là độc đáo. Các em được tập luyện thân hình mềm như sợi bún, co gập thân hình luồn vào những ống thật là gọn gàng.

Sáng hôm sau, chúng tôi được hướng dẫn đi thăm Thiên An Môn.

Ðây chỉ là một cái công trường rất lớn nằm trước Cấm Thành, phía bên kia là Quốc Hội. Tại đây còn có đài chiến sĩ của Hồng Quân. Công trường Thiên An Môn là nơi sinh viên Bắc Kinh đã biểu tình đòi tự do dân chủ vào tháng 5 năm 1989. Sau đó vào ngày 4 tháng 6 năm 1989 chính phủ Trung Cộng cho xe tăng tiến vào đàn áp dã man. Những hình ảnh người sinh viên hiên ngang đứng ngăn chặn trước xe tăng đã trở nên những tiêu biểu cho tinh thần bất khuất của những người yêu chuộng tự do. Thiên An Môn trở thành nơi tượng trưng cho lòng khao khát tự do, ai ai tới Bắc Kinh cũng muốn ra đây chụp một tấm hình kỷ niệm.

Công viên này lúc nào cũng tấp nập du khách, cùng những công an chìm nổi rất nhiều.

Kế tiếp chúng tôi được hướng dẫn vào thăm Cấm Thành. Xin nói rõ vì ngôi cung điện cổ này bao vây bởi một bức thành dài sơn mầu đỏ, nên có tên Tử Cấm Thành (Tử đây có nghĩa là mầu đỏ xẫm, chứ đừng nhầm nghĩa với chữ tử là chết).

Mô tả Cấm Thành.
(Tham khảo tài liệu của Cụ Trần Văn Giáp)

Các cung điện, môn, viện trong Cấm Thành có 36 nơi, có nơi làm từ thời nhà Minh, có nơi làm từ thời nhà Thanh. Xin lược kê các nơi ấy sau đây, chia làm 4 mục, cung, điện, môn, viện.

Các Cung :

1. Kiền Thanh Cung, làm đời Minh; năm Gia Khánh (1797) nhà Thanh có tu sửa.

2. Khôn Ninh Cung, làm đời Minh; năm Thuận Trị thứ 12 nhà Thanh (1655) có tu sửa.

3. Cảnh Dương Cung, làm đời Minh; năm Khang Hy thứ 25 nhà Thanh (1686) có tu sửa.

4. Thừa Kiền Cung làm đời Minh; năm Thuận Trị thứ 12 nhà Thanh (1655) có tu sửa.

5. Cảnh Nhân Cung làm đời Minh; năm Thuận Trị thứ 12 nhà Thanh (1655) có tu sửa.

6. Chung Túy Cung làm đời Minh; năm Thuận Trị thứ 12 nhà Thanh (1655) có tu sửa.

7. Hàm Phúc Cung làm đời Minh; năm Khang Hy thứ 22 nhà Thanh (1683) có tu sửa.

8. Tràng Xuân Cung làm đời Minh; năm Khang Hy thứ 22 nhà Thanh (1683) có tu sửa.

9. Chừ Tú Cung làm đời Minh; năm Thuận Trị thứ 12 (1655) và năm Gia Khánh thứ 7 nhà Thanh (1802) có tu sửa lại.

10. Từ Ninh Cung làm đời Minh; năm Càn Long thứ 34 nhà Thanh (1769) có tu sửa lại.

11. Dực Khôn Cung làm đời Minh; năm Thuận Trị thứ 12 nhà Thanh (1655) có tu sửa.

12. Trùng Hoa Cung nguyên là một ngôi nhà thường đời Minh. Vua Càn Long nhà Thanh làm lại vào khoảng năm 1736.

13. Thọ Ninh Cung làm năm Càn Long thứ 37 nhà Thanh (1772).

14. Trai Cung, làm năm Ung chính thứ 9 nhà Thanh (1731); năm Gia Khánh thứ 6 (1801) có sửa lại.

Các Ðiện :

1. Thái Hòa Ðiện làm đời Minh năm Vĩnh Lạc thứ 15 (1417); năm Thuận Trị thứ 2 nhà Thanh (1645) tu sửa lại.

2. Trung Hòa Ðiện làm đời Minh; năm Thuận Trị thứ 2 nhà Thanh (1645) tu sửa lại.

3, Bảo Hòa Ðiện làm đời Minh (1420)

4. Giao Thái Ðiện làm đời Minh; năm Gia Khánh thứ 2 nhà Thanh (1797) tu sửa lại.

5. Thái Cực Ðiện, nguyên là Cung Khải Tường triều Minh, năm Khang Hy thứ 22 nhà Thanh (1683) có tu sửa lại.

6. Khẩm An Ðiện làm năm Gia Tĩnh thứ 14 triều Minh (1535)

7. Hoàng Cực Ðiện làm năm Khang Hy thứ 28 triều Thanh (1689) và năm Càn Long thứ 38 (1772) sửa lại.

8. Sùng Kinh Ðiện làm vào đời Càn Long khoảng năm 1736

9. Thể Hoà Ðiện làm vào năm Gia Khánh thứ 7 nhà Thanh (1802)

10. Thể Nguyên Ðiện làm năm Gia Khánh thứ 7 nhà Thanh (1802)

Các Môn

1. Ngọ Môn làm vào đời Minh, sửa lại nhiều lần.

2. Kiền Thanh Môn làm vào đời Minh; năm Thuận Trị thứ 7 nhà Thanh (1655) làm lại.

3. Thái Hoà Môn làm vào đời nhà Minh

4. Thần Vũ Môn làm vào đời nhà Minh, nguyên là Huyền Vũ Môn, đến đời Khang Hy đổi là Thần Vũ (vì húy tên vua Khang Hy là Huyền Việp)

5. Hoàng Cực Môn làm vào năm Càn Long thứ 37 (1772) nhà Thanh.

Các Viện

1. Ngự Hoa viên làm vào đời nhà Minh

2. Ngự Thư phòng làm vào đời Càn Long (thế kỷ 17)

3. Cửu Long Bích làm vào năm Càn Long thứ 38 nhà Thanh (1773)

4. Nôn Phương Trai làm vào thời Càn Long (thế kỷ 18)

5. Di Tình Thử sử làm vào đầu nhà Thanh (thế kỷ 18)

6. Lệ Cảnh Hiên làm vào thời Quang Tự (1875-1907)

Tất cả Cung, Ðiện, Viện trên đây đều thiết kế có trật tự, có nghệ thuật.

Phái đoàn chúng tôi đi qua khỏi Ngọ Môn qua một sân rộng thì tới Thái Hoà Môn. Tiếng môn là cái cửa, nhưng thật ra nó cũng lớn rộng chả thua gì một cung điện, trần và tường cũng được trang trí rất đẹp đẽ, vì ngày xưa đây là nơi phòng đợi rất lớn của những viên chức cao cấp để được nhà vua vời vào triều kiến. Ngày nay, cơ quan du lịch dùng nơi này làm nơi giới thiệu Tử Cấm Thành và bán đồ kỷ niệm.

Ði qua Thái Hòa Môn thì tới sân rồng, sân rộng bát ngát bề ngang hơn 1km bề dài non 1km, có thể chứa hàng ngàn người đứng chúc tụng nhà vua. Từ sân trông thẳng vào là Thái Hoà Ðiện nơi nhà vua ngự giá lâm triều. Ngôi Thái Hoà Ðiện làm trên nền cao 7m chia làm ba tầng nền, mỗi tầng nền có bao lơn đá chạm trổ rất công phu. Chính giữa có tấm bệ đá trên khắc chạm chín con rồng, dọc hai bên bệ đá là hai hàng bực đá để đi từ sân lên chính điện. Ðứng ngoài hành lang trông vào trong chính điện người ta vẫn còn bầy chiếc ngai vua đặt ở trên những bệ gổ chạm trổ công phu, sơn son thiếp vàng. Thái Hoà Ðiện là nơi nhà vua ngự triều trong những buổi lễ lớn, những buổi đại lễ mà các quan triều thần mọi cấp đều phải tới dự, ăn mặc triều phục, đứng vào đúng vị trí tuỳ theo phẩm trật, tổng số người dự lên cả 2, 3 ngàn người.

Ði qua Thái Hòa Ðiện thì tới Trung Hoà Ðiện . Trung Hoà Ðiện xây cất trên nền nhà thấp hơn. Phía trong Trung Hòa Ðiện thì không có ngai vua ngự trên bệ cao nữa, mà chỉ có chiếc ngai ngự trên một bục cao, hai gian bên có những hàng ghế như phòng khách . Chính nơi đây là nơi nhà vua làm việc thường xuyên, tiếp súc với những cậïn thần giải quyết những vụ thường thức, hoặc sửa soạn sang Ðiện Thái Hòa thiết triều đại lễ.

Qua khỏi Trung Hòa Ðiện là Bảo Hòa Ðiện. Bảo Hoà Ðiệïn là nơi ngày xưa thời Minh gọi là Thần Ðiện . Thời vua Khang Hy, nhà vua và hoàng hậu thết tiệc quần thần và sứ thần các nơi vào dịp lễ giao thừa. Sang đời vua Càn Long, nhà vua dùng nơi đây để chấm thi Ðình (Ðình thí). Trong chính điện có ngai vua để trên bậc cao, có 3 hàng bậc để buớc lên bệ rồng.

Ba ngôi Ðiện : Thái Hòa, Trung Hòa và Bảo Hòa xây ngang nhau cách nhau bởi 1 sân rộng. Hai bên phía tả hữu của ba ngôi điện là hai dãy nhà phụ thuộc . Phía sau 3 ngôi Ðiện này là một cái sân lớn, thẳng phía trước là Kiền Thanh Môn, để vào khu vực nhà vua và gia đình ở. Hai tả hữu sân đều có cổng đi sang các cung khác. Ðứng từ sân trông xa xa sang phía phải, chúng ta còn thấy một ngôi Chùa Lạt Ma và ngôi bảo tháp trắng.

Kiền Thanh Môn cũng là một kiến trúc lớn, cũng là nơi phòng khách rất lớn, nhiều khi nhà vua cũng ra đây làm việc (dưới hình thức bình thường bớt lễ nghi).

Kiền Thanh Cung được xây trên bệ đá cao cỡ 3m, có 3 hàng bệ đá bước lên hành lang cửa cung. Ðây là nơi nhà vua ở và làm việc cùng các quan đại thần bàn chuyện quốc sự . Thời Ung Chính nhà vua đã dấu di chúc chỉ định vị hoàng tử kế vị đàng sau bức hoành phi tại Kiền Thanh Cung này. Vua Ðồng Trị dùng nơi đây tiếp đãi sứ thần .

Tiến vào sâu nữa là Giao Thái Cung . Ðây là nơi Vua Càn Long dùng để chứa các quốc ấn . Sau này vua Gia Khánh cùng hoàng hậu ngự giá ra đây để quần thần chúc mừng trong dịp giao thừa.

Sau Giao Thái Cung là Côn Ninh Cung , nơi nhà vua thời Minh ăn ở . Bốn buồng bên phía tây là nơi nhà vua thờ Phật và nghe các Lạt Ma giảng pháp . Hai buồng bên trái là nơi ngủ của nhà vua. Các vua Khang Hy, Ðồng Trị và Quang Tự đã làm lễ cưới ở nơi đây. Riêng đám cưới của Vua Quang Trị rất xa xỉ tốn tới 10 triệu lạng bạc. Trông qua cửa kính, chúng ta còn thấy những phòng ngủ của vua và hoàng hậu.

Ra khỏi Giao Thái Cung thì ta đi qua một cửa lớn và vào Ngự Hoa Viên. Ngay gần cửa ra vào ta thấy một cây tùng cổ hàng trăm năm, cây này gồm hai thân cây cuộn soắn vào nhau, trông rất lạ. Trong vườn đủ loại hoa thơm cỏ lạ, và còn có một ngọn giả sơn rất lớn, trên đỉnh ngọn giả sơn có cả một ngôi điện thờ nhỏ.

Chúng tôi ra khỏi Tử Cấm Thành bằng cửa Bắc . Phía trên Bắc Môn người ta dùng làm nơi triển lãm văn hóa. Tất cảø xe bus đón du khách đều phải đậu nơi đây.

Buổi trưa, xe bus đón chúng tôi đi thăm Vạn Lý Trường Thành.

Mô tả và lịch sử Vạn Lý Trường Thành

Vạn Lý Trường Thành là công trình phòng ngự nổi tiếng của nhân dân Trung Hoa chống lại sự xâm lăng của các dân tộc du mục phương Bắc , trong suốt 2500 năm lịch sử.

Thực ra, Trường Thành đã có từ thời Chiến Quốc (475-221 trước Công Nguyên), lúc bấy giờ lãnh thổ Trung Hoa bị phân chia ra nhiều nước nhỏ, xâm lấn đánh nhau liên miên. Ðể phòng thủ, nước nào cũng xây dựng một bức trường thành. Ở phía nam có những trường thành của các nước Yên, Triệu, Tần. Khi nhà Tần (221-207 trước Công Nguyên) thống nhất Trung Quốc, nhà vua huy động hơn 30 vạn người xây nối các trường thành của các nước, đồng thời sửa sang thêm. Trải qua một thời gian bị gió mưa hủy hoại, đến nay trường thành nhà Tần đã không còn dấu tích. Từ nhà Tần về sau, trong các đời Hán, Bắc Ngụy, Bắc Tề, Bắc Chu, Tùy v..v.. trường thành này đều có được tu sửa và xây dựng thêm.

Ðến thời nhà Minh (1368-1644), mặc dù Minh Thái Tổ đã dứt được nhà Nguyên, quân Mông Cổ phải lui về miền Bắc, nhưng họ vẫn duy trì một lực lượng đáng kể. Ðể đề phòng sự xâm nhập của Mông Cổ, vua Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương đã huy động trên 1 triệu nhân công xây lại Trường Thành từ năm 1386 đến năm 1530 mới xong. Nếu tính từ Gia Cốc Quan đến Sơn Hải Quan thì Trường Thành đời nhà Minh dài trên 2500km. Ở giữa cứ cách 36 trượng lại đặt một vọng gác. Dọc theo Trường Thành nhà Minh lập ra 8 biên trấn để phòng thủ (Cam Túc, Cố Nguyên, Ninh Hạ, Du Lâm, Thái Nguyên, Ðại Ðồng, Nghi Phủ, Kế Châu), cùng với trấn Liêu Dương ở đông bắc gọi chung là Cửu Biên.

Trường Thành nhà Minh phần lớn được xây dựng trên các sống núi. Chổ cao nhất tới trên 1000m, chiều cao của tường thành từ 5m đến 10m tùy từng nơi. Mặt thành cũng rộng từ 5 đến 8m. Các đoạn thành có chỗ đắp bằng đất, có chỗ xen đá, trong đó có đoạn thành ở Bát Ðạt Lĩnh gần Bắc Kinh là kiên cố nhất. Toàn bộ đều xây gạch và các khối đá lớn. Hai bên mặt thành có lan can, giữa là một con đường bằng phẳng, xe ngựa đi lại được .

Hiện nay, từ Bắc Kinh du khách có thể thăm Vạn Lý Trường Thành ở hai nơi :

- Bát Ðạt Lĩnh, cách Bắc Kinh 70 km về phía Tây Bắc, nơi đây gần lăng vua nhà Minh.

- Mutianyu, mới tu sửa thành nơi du lịch, ở xa Bắc Kinh hơn, đi xe hết cả 2,3 tiếng đồng hồ mới tới nơi, nhưng nơi đây lại có cable car nên đi xem đỡ mệt hơn.

Viếng thăm Vạn Lý Trường Thành.

Chúng tôi được đưa đi thăm Vạn Lý Trường Thành ở Mutianyu, cách Bắc Kinh cỡ 1 giờ lái xe. Ðuờng đi là một xa lộ mới mở rộng rãi. Trên đuờng đi, chúng tôi thấy một nơi người ta đang xây cất một giải trí trường theo lối Tây Phương giống như Disney Land. Tới Mutianyu, chúng tôi được hướng dẫn đi cable car lên một nơi gần trường thành, sau đó đi bộ và leo một số bậc thang khá xa thì tới mặt Trường Thành. Trường Thành ở đây xây bằng gạch, rộng cỡ 4 hay 5m. có chỗ thì phải đi bộ dốc lên (không có bậc thang nhưng có tay vịn) , có chổ thì có bậc đá. Chúng tôi leo dốc một quãng thì lên tới một vọng gác ở đỉnh núi. Từ đây chúng tôi được nhìn bao quát ra chung quanh. Cảnh núi trùng trùng điệp điệp, Trường Thành trông giống như một con rồng lớn, uốn lượn trên các đỉnh núi cao. Ðây là một công trình duy nhất do con người xây dựng có thể nhìn thấy từ trên mặt trăng hay trên phi thuyền không gian.

Gần chiều tối, Ty du lịch tỉnh Sơn Tây cho xe bus xuống đón phái đoàn chúng tôi đi thị trấn Ðại Ðồng.

4. Viếng thăm Vân Cương Thạch Ðộng
& các di tích thuộc thị trấn Ðại Ðồng

Trung Hoa có ba cái động đá với nhiều di tích Phật Giáo (nhất là điêu khắc tượng Phật vào đá), đó là động Long Môn (tỉnh Hà Nam), động Ðôn Hoàng (tỉnh Cam Túc) và động Vân Cương (tỉnh Sơn Tây). Trong ba động ấy, Ðộng Vân Cương là có di tích lớn nhất, đẹp nhất và lâu đời nhất , có từ thời Bắc Ngụy (439 sau Công Nguyên).

Lịch sử Vân Cương Thạch Ðộng

Trước hết chúng ta thử tìm hiểu hơn về nước Bắc Ngụy trong sử Trung Hoa.

Sau thời Tam Quốc (213-280 TL), Tấn truyền được có hai đời (265-317 TL) thì anh em tranh dành, nhờ vả rợ Ngũ Hồ chém giết nhau. Thời đó, Tây Bắc Trung Hoa có năm sắc tộc rợ: Hung Nô, Yết (chủng loại Mông Cổ), Tiên Ti (chủng loại Mãn Châu), Chi và Khương (chủng loại Tây Tạng). Lợi dụng sự phân tranh của Trung Hoa hai rợ Hung Nô và Tiên Ti chiếm phần đất miền Bắc và Tây Bắc Trung Hoa, từ đó bắt đầu thời kỳ Nam Bắc Triều kéo dài 250 năm.

Bắc Ngụy là tên nước của rợ Thác Bạt (tên một giòng họ làm chúa nhiều bộ lạc Hung Nô và Tiên Ti), chiếm cứ phía bắc tỉnh Sơn Tây ngày nay. Họ chịu nhiều ảnh hưởng của Trung Á (Ấn Ðộ và Thổ Nhĩ Kỳ) nhiều hơn là Mông Cổ. Vua Thác Bạt chiếm cứ cả miền Ðông Hoa Bắc, bắt được nhiều tù binh Trung Hoa. Nhà vua do dự không biết dùng những tù binh đó vào việc gì. Theo lệ thì nhà vua phải chia đều cho các tù trưởng đã giúp mình thắng trận, nhưng đa số tù binh là nông dân, muốn cho họ làm ruộng để nuôi dân nuôi lính thì phải để cho họ ở lại quê họ, không thể phân phát cho các tù trưởng, vả lại phân phát như vậy thì làm cho các tù trưởng mạnh lên mà chính quyền trung ương yếu đi. Vua hỏi ý kiến bọn sĩ tộc Trung Hoa đã đầu hàng mà ông dùng ở trong triều. Họ bày mưu đừng chia cho các bộ lạc, mà cứ để nông dân tại quê, dưới quyền cai trị của một quan gốc gác trong miền, do triều đình bổ dụng, chỉ như vậy dân mới sản xuất đủ lúa nuôi chính quyền trung ương. Vậy là nông dân không phải làm nô lệ, mà các quan địa phương cai trị họ là người Hán, tất nhiên hợp tác với các quan cũng người Hán trong triều. Thế là tương lai của Thác Bạc nằm trong tay người Hán, cả về kinh tế lẫn chính trị, và người Thác Bạc bị Hán hóa trong vòng hơn một thế kỷ.

Lúc đầu, vua Thái Vũ khai sáng ra nhà Bắc Ngụy (năm 398 Tây Lịch), đóng đô ở Bình Thành (ngày nay là Ðại Ðồng), nhà vua thấy các tu sĩ Phật Giáo không có gì nguy hại cho chế độ cả, nên lệnh quân sĩ để yên cho họ. Ðến năm 435 Tây Lịch, thì có cuộc nổi dậy ở Lương Châu, nhà vua cho rằng nguyên do cuộc nổi loạn có tính cách tranh chấp tôn giáo giữa đạo Phật và đạo Lão. Vào năm 446 Tây Lịch, nhà vua nghe lời dèm siểm của hai vị quan, đã ra lệnh bắt bớ các tăng sĩ Phật giáo, đốt các chùa chiền. Mấy năm sau, vua Thái Vũ sinh ra bệnh tật, nên nhà vua sợ đó là cái nghiệp của mình về việc đốt chùa, nên khôi phục Phật giáo. Vị vua kế nghiệp là Văn Thành cũng chấn hưng lại Phật Giáo. Năm 452 Tây Lịch , Vua Văn Thành ra lệnh cho nhà sư Ðàm Diệu chỉ huy các dân công tạc 5 tượng Phật lớn (cao từ 21m đến 15m) tại 5 cái động đá ở núi Hằng Sơn, trong vòng gần 40 năm. Người đời sau này gọi 5 cái động này là "Ðàm Diệu Ngũ Ðộng"(động số 16 đến động 20) Trong sách vở không ghi rõ là do sự ép buộc của Vua Văn Thành hay do sự chiều ý của Sư Ðàm Diệu, mà 5 bức tượng lại có khuôn mặt giống 5 vị vua của triều Bắc Ngụy.

Ðến đời vua Hạo Văn (465-494Tây Lịch) rời đô xuống Lạc Dương, việc tạc tượng trong các thạch động khác vẫn tiếp tục.

Theo sử sách, chỉ từ thế kỷ 1 Công Nguyên, tại Ấn Ðộ mới sinh ra mỹ thuật Phật Giáo Kiền Ðà La (Fandhara) và thấy có hình tượng Ðức Phật Thích Ca ngồi. Người ta đã tìm thấy tượng Phật thuyết pháp bằng đá ở Mã Thổ Lạp (Manthura) tạc vào thế kỷ thứ 2; tượng Ðại Phật bằng đá ở Ba Mễ Dương, A Phú Hãn làm vào thế kỷ 1 và 3. Như vậy, chúng ta thấy kỹ thuật tạc tượng Phật vào núi đá, đã mang từ Ấn Ðộ vào đông bắc Trung Hoa từ thời thế kỷ thứ 4 sau Công Nguyên.

Mô tả Vân Cương Thạch Ðộng:

Vân Cương Thạch Ðộng có tất cả hơn 1,100 cái hang động và hang nhỏ (hốc) với 5,100 bức tượng. Nhưng chỉ có 53 cái động chính là đáng chú ý, có 9 bức tượng lớn cao trên trên 10m, cao dưới 10m có hàng 48,000 bức tượng Phật & Bồ Tát, và có hơn 3,000 tượng chư thiên hộ pháp. Những động chính chia làm 3 phần: Phần bên phải lối vào gồm động số 1 đến 4, phần chánh điện gồm động số 4 đến 13, phần bên trái từ động 14 đến 53.

Theo sách giới thiệu về Vân Cương Thạch Ðộng, động thứ nhất có một ngôi tháp cao đến trần, bốn tường chung quanh có khắc tượng Phật và Bồ Tát nhưng đa số tượng đã bị hư hao không còn nguyên vẹn. Duy còn bức tường quay về phía Nam thì có hình tượng Ngài Duy Ma Cật (Vimalakirti) và Ngài Văn Thù (Mansusri), theo như điển tích trong kinh Duy Ma Cật (Vimalakirti Nirdesa Sutra).

Ðộng thứ hai cũng có ngôi tháp ở giữa, bốn tuờng chung quanh có điêu khắc tượng Phật, nhất là các tích tiền thân Ðức Phật (Jataka), cũng không còn nguyên vẹn, phía trước có con suối nhỏ nước chảy quanh năm.

Ðộng thứ ba là động lớn nhất trong tất cả các động, có phòng tiền đường và hậu đường, tiền đường dài 11 m, hậu đường sâu 42m, rộng 15m, cao 13m6. Trong động nơi chính giữa có tượng Phật Thích Ca ngồi ghế, cao 10m, đứng hai bên có tượng Bồ Tát đứng cao 6m2. Các tượng đều có khuôn mặt đầy đặn phúc hậu. Lối điêu khắc các tượng này khác với các động khác chứng tỏ các tượng này được khắc thời nhà Ðuờng (618 - 907) sau này.

Ðộng thứ 4 hình vuông, chính giữa là một cái cột, bốn mặt có điêu khắc tượng Phật, tường quanh bốn bên cũng khắc cả ngàn tượng Phật và sự tích Tiền Thân đức Phật (Jakata), tất cả đều bị hư hại, duy chỉ có tượng Di Lặc ngồi ở tường bên phải tương đối còn nguyên vẹn. Ngoài cửa động còn có bia đá ghi niên hiệu Chính Quang (520-525 Tây Lịch). Ðây là bia di tích nguyên vẹn ghi khắc từ thời Bắc Ngụy.

Ðộâng thứ 5 và 6 có một kiến trúc mặt tiền cao 5 tầng bằng gỗ xây cất năm 1651 đời nhà Thanh, được tu sửa lại năm 1955. Trong động thứ 5 hình bầu dục. Chính giữa là tượng Ðứùc Phật ngồi kết già cao 17m (đây là bức tượng lớn nhất trong Vân Cương Thạch Ðộng), chiều dài của chân xếp lại là 15m8, ngón tay giữa dài 2m3, bàn chân dài 4m6, đầu có chiều cao 5m6 và mũi dài 1m7. Hai bên tường có nhiều điêu khắc tượng Phật và Bồ Tát.

Ðộng thứ 6 phía trong hình vuông, ở chính giữa là ngôi tháp hai tầng (15m) cao tới tậïn trần, tầng trên cao 6m, tầng dưới cao 9m. Bốn mặt tháp tầng trên có điêu khắc Tứ Phương Phật, bốn mặt phiá tầng dưới, về phía Nam có có tạc tượng Thích Ca Mâu Ni, phía đông có tượng Ðức Bồ Tát, Phía tây có tượng Ðức A Di Ðà, phía bắc có hai tượng Thích Ca Mâu Ni và Phật Ða Bảo (Prabhutaratna) ngồi đối diện nhau, theo điển tích trong Kinh Pháp Hoa (Saddharma Pundarika Sutra) phẩm thứ 11 "Thấy Bảo Tháp". Trên trần và bốn tường chung quanh đều có điêu khắc các tượng Phật, Bồ Tát và các vị Thiên Long. Ðặc biệt là viền phía dưới tường và tháp là điêu khắc các tích Tiền Thân, hoặc đời Ðức Phật từ khi mới sanh tới thành đạo.

Ðộng thứ 7 và 8 đi đôi với nhau, có phần tiền điện và hậu điện. Ðộng thứ 7 có nhiều tượng bị hư hại, chỉ có trên trần có phần nguyên vẹn, khắc những thiên tướng bay quanh cái hoa sen. Tại bức tường phía nam có tượng 6 vị Bồ Tát, nét mặt cười tươi, tóc cuộn lên đầu, chân quỳ xuống.

Ðộng thứ 8 phiá bên phải có tượng thần Siva (Mahesvara) với 3 đầu 8 tay, cưỡi con bò. Về phía trái có tượng thần Vishnu (Kumarakadeva) với 5 đầu, 6 tay, cưỡi con công, tay cầm con chim bồ câu.

Ðộng thứ 9 và 10 đi liền với nhau, cũng có tiền điện và hậu điện, tiền điện hình bát giác, có hình voi đội cái cột. Cột đã bị thời gian hủy hoại nhiều. Trên tường hậu điện có những hốc nhỏ với những tượng Phât, Bồ Tát, hoặc tượng Thích Ca Mâu Ni ngồi cạnh Phật Ða Bảo, tượng Di Lặc ngồi bắt chéo chân, tượng các vị thần Thiên Long. Trên phía trên gần sát trần thì khắc những hình thể chạm trổ rất đẹp, phần dưới tường thì điêu khắc những sự tích đức Phật. Ðộng thứ 10 còn khắc những cảnh Cực Lạc Quốc, cõi Nam Diêm Phù Ðề, Ðông Thắng Thần Châu v...v… đa số có lẽ là tượng đắp bằng đất thời nhà Thanh gần đây.

Ðộng 11 chính giữa có cái tháp cao tới trần, bốn phía có khắc tượng Phật, phần trên của búc tường phía đông có ghi 483 chữ, ghi lại lịch sử của động. Tường phía tây có tạc 7 tượng Phât đứng còn nguyên vẹn.

Ðộng thứ 12, bốn phía tường cũng có khắc những hình Phật. Ðặc biệt ở phần trên của tường chính có những hình các thiên thần cầm những nhạc cụ khác nhau, nhiều nhạc cụ rất kỳ lạ mà ngay nay không còn thấy.

Ðộng thứ 13 có tượng đức Di Lặc cao 12m95. Tay phải của bức tượng, có hai tượng nhỏ (tựa như thiên thần hộ pháp) dựa lưng vào nhau nâng cánh tay. Các nhà nghiên cứu cho là khi tạc cánh tay của bức tượng bị vết nứt rạn nên người ta cố tình dùng hai bức tượng nhỏ để nâng cánh tay và che vết nứt đi.

Ðộng thứ 14, phần mặt tiền bị xụp, chỉ còn phía trên bức tường có những tượng nhỏ còn nguyên mà thôi.

Ðộng thứ 15 hình vuông, bốn tường chung quanh có những hàng hốc nhỏ, mỗi hốc đều có tượng Phật nhỏ. Do đó người ta gọi động này là động Vạn Phật. Phần giữa của tường phía tây có khắc nổi những thiên long, sư tử, cá và rêu rong.

Ðộng 16 đến 20 mỗi động có 1 bức tượng Phật lớn tạc từ thời Bắc Ngụy do nhà sư Ðàm Diệu chủ trương.

Tại động thứ 16 có bức tượng Thích Ca Mâu Ni đứng trên tòa sen cao 13m5. Trên tường có nhiều hốc tượng Phật nhỏ.

Tại động thứ 17 có tượng Di Lặc ngồi chéo chân cao 15m6, tường bên đông có hốc (niche) tượng Phậât ngồi, tường bên tây tượng Phật đứng.

Ðộng thứ 18, tường chính có tạc tượng Phật đứng, cao 15m5, mặc áo cà sa hở vai hữu, trên áo cà sa còn cả ngàn hình phật. Hai bên tường còn có tạc 10 vị đệ tử Phật, nhưng chỉ còn một vài tượng là được nguyên vẹn. Trong số tượng đệ tử này có tượng tay cầm bình tịnh thủy, có tượng mỉm cười, có tượng ngoảnh đầu.

Ðộng thứ 19, phía giữa là tạc tượng Ðức Thích Ca ngồi trên ghế (bán già ỷ tượng), cao 16m7. Tường phía Nam có điêu khắc cảnh Ðức Thích Ca gặp La Hầu La.

Tại động thứ 20, không có cửa hay trần, gần như lộ thiên, tượng Phật ngồi kết già khoác áo hở vai hữu, hai tai rất dài, mũi cao, mắt nhìn xuống, tay chắp phía trước đã bị phá hủy nhiều. Bức tượng cao 13m7.

Theo truyền thuyết đã nói ở trên, các tượng ở động 16 đến dộng 20 có khuôn mặt giống 5 vị vua đời Ngụy. Khuôn mặt của bức tượng Thích Ca Mâu Ni của động 16 có nét mặt giống Vua Văn Thành nhà Ngụy, thậm chí cái nốt ruồi trên mặt và trên chân vua cũng đều hợp với tượng. Khuôn mặt tuợng Di Lặc ở động 17 có nét mặt giống vua Hiến Văn. Tượng của động 18 thì có nét mặt giống vua Thái Vũ. Tượng của động 19 giống vua Minh Nguyên và tượng của động 20 có khuôn mặt giống vua Ðạo Vũ. Các tượng của động 18, 19 và 20 tượng trưng cho tượng Tam Thế Phật.

Từ động 20 trở đi đến động 53 là các động nhỏ đục thẳng vào sườn núi, sắp xếp không có thứ tự thẳng hàng. Ða số động này là được điêu khắc sau khi nhà Ngụy đã rời đô từ Bình Thành (Ðại Ðồng) đi Lạc Dương.

Cuộc viếng thăm Vân Cương Thạch Ðộng
của phái đoàn Chùa Giác Hoàng

Từ Vạn Lý Trường Thành, có xe bus của Ty Du Lịch Ðại Ðồng xuống đón chúng tôi, đi qua 600 km (hết gần 8 giờ đồng hồ) tới hotel của thị trấn Ðại Ðồng lúc 1 giờ sáng. Nghỉ qua một đêm ngắn, buổi sáng ngày 20/10/98 lúc 7 giờ chúng tôi khởi hành đi thăm Vân Cương Thạch Ðộng và Chùa Treo (Huyền Không Tự) .

Vân Cương Thạch Ðộng, nằm ở duới chân núi Vũ Châu, cách thị trấn Ðại Ðồng 16 km về phía tây. Bến xe bus đậu ngay tại dưới chân núi, trước cửa đi lên Thạch động có nhiều hàng quán bán đồ kỷ niệm, họ có cả một con lạc đà để du khách chụp hình kỷ niệm. Chúng tôi được hướng dẫn đi thẳng vào phần chính là động số 5 và 6 (do đó chúng tôi không có dịp xem động 1 đến 4). Trong động 5 và 6 người ta không cho phép chụp hình hay quay phim (nhưng chúng tôi cũng quay lén được khá nhiều). Bức tượng đá lớn trong động thứ 5 thật vĩ đại, Ðứùc Thích Ca mặc nguyên áo cà sa trùm cả hai vai (không hở vai hữu) có tay áo dài rộng, mắt Phật mở 3 phần và nhìn xuống. Thật là đúng với 32 vẻ đẹp. Những điều này chứng tỏ lối điêu khắc tượng Phật vào thời nhà Ðường sau này chứ không phải thời Bắc Ngụy. Sang động thứ 6, chúng tôi nhìn dưới ánh đèn điện ở các góc thấy ngôi tháp cao suốt đến trần, bốn mặt điêu khắc rấùt tinh vi, nhìn chung quanh đâu đâu cũng thấy tượng Phật. Dưới ánh đèn quá mờ, mà chúng tôi không có đủ thì giờ mà nhận thức ra tượng gì hoặc điển tích gì.

Ði ra phiá sân rồi sang động thứ 7 và 8, phiá ngoài vẫn có một mặt tiền xây cất như cổng chùa, mới xây dựng từ thời nhà Thanh, bên ngoài họ ngăn hàng rào không cho vào xem, chỉ đứng ngoài nhìn vào, tại đây có nhiều tượng đã bị hư mòn hoặc bị hủy hoại. Duy chỉ có tượng bảy vị Phật đứng trên cao là còn nguyên, có tô mầu sắc, không biết có phải là nguyên thủy như vậy không. Mặt tiền của động 9 và 10 có năm cái cột đá lớn, chiếc cột chính giữa có điêu khắc rất đẹp, nơi đây cũng lại có hàng rào ngay từ ngoài. Nhìn vào bên trong có nhiều tượng chạm trổ tinh vi, nhưng đa số cũng đã được tô mầu sắc. Sang các động 11, 12 và 13 cũng bị hàng rào không cho vào trong. Tại đây có nhiều điêu khắc các khung cửa, tượng Phật và các điển tích rất tinh vi. Nhưng đa số có tô mầu trong thời nhà Thanh. Người ta gọi 5 cái động từ số 9 đến 13 là Ngũ Hoa Ðộng. Qua các động 14-15, đi trong sân một quãng hơi dài, thì tới 5 cái động lớn đáng xem của Vân Cương Thạch Ðộng, động 16 đến 20. Như trên đã tả rõ, chúng tôi nhận thấy tượng Phật đầu có nhục kế, tóc hình xoắn ốc, tai dài chấm vai, vành tai tương đối lớn, đặc biệt mũi cao, chứng tỏ tượng Phật có nét người từ phương Tây qua. Trước bức tượng lộ thiên của động thứ 20 là có những cảnh đẹp, du khách ai ai cũng chụp hình tại đây. Sau đó, chúng tôi phải đi lối cầu thang dốc để lên những động kế tiếp (21 đến 53). Nhưng tại các động này mỗi động chỉ có 1 hay 2 tượng Phật đục nổi vào tường đá, có cái thì hư bị cụt đầu hay gẫy tay.

Trong phái đoàn của chúng tôi đã có vài vị đã đi thăm động Long Môn năm ngoái, các vị này đều công nhận là Vân Cương Thạch động đẹp hơn động Long Môn.

Sau khi chụp hình lưu niệm chúng tôi ra bus để đi thăm Chùa Treo.

Chùa Treo tên chính là Huyền Không Tự. (Huyền có nghĩa là treo chứ không phải là đen). Huyền Không Tự có nghĩa là Chùa treo trên không.

Ðây là một ngôi chùa có kiến trúc độc đáo, ngôi chùa dựng ráp vào vách núi, chênh vênh trên suờn núi. Chùa có một lịch sử hơn 1400 năm (nghĩa là làm vào thời Bắc Ngụy). Ở duới đất nhìn lên thì chúng ta thấy, phần chính của chùa Treo ở phía bên phải, gồm hai gian, mỗi gian có 3 tầng, nối nhau bằng cầu thang chênh vênh ráp vào núi. Tất cả nền chùa của phần này được chống đỡ bằng những xà gỗ lớn cắm ngang vào vách núi, mỗi chiếc xà cách nhau chừng 1m, đồng thời xà gỗ tăng cường chống đỡ bằng những cột gỗ thẳng chống vào sườn núi.Còn phần bên trái là những nhà phụ thuộc và cổng vào Chùa, phần này làm trên khoảng nền vách đá rộng rãi vững chắc .

Chúng tôi xuống xe và được hướng dẫn đi qua một cái cầu gỗ treo bắc qua con suối rộng, tiếp đó đi một đoạn đường đất cỡ 500m rồi đi lên bậc thang cỡ 100 bậc thì lên một cái sân gạch , kế bên trái có một dẫy nhà dài, phần này làm trên khoảng núi đá vững chắc. Sau đó buớc qua một gian nhà nhỏ (tựa như cổng chùa) và bắt đầu bước lên một cái cầu thang nhỏ hẹp cỡ một người đi lọt, tiếp đó đi qua một cầu nhỏ cheo leo sang bên Chùa chính. Chùa chính chỉ có những điện thờ rất hẹp (cỡ chừng 2m bề sâu) , cộng với một hành lang chừng 80cm bề ngang đủ để 1 du khách đi qua (đi một chiều không đủ chỗ cho hai người tránh nhau) và lễ vọng vào trong điện thờ. Tầng trên cùng chúng tôi thấy có một ngôi điện thờ chung Tam Giáo: Phật, Lão, Khổng. Gian chính giữa có tượng Ðức Phật Thích Ca, gian bên trái có tượng thờ Thái Thượng Lão Quân, và gian bên phải có tượng thờ đức Khổng Tử.

Sau khi đi một vòng Chùa và chụp hình kỷ niệm, chúng tôi trở xuống và ra xe bus trở lại thị trấn Ðại Ðồng.

Sau khi ăn trưa, chúng tôi được hướng dẫn đi thăm Chùa Hoa Nghiêm. Chùa Hoa Nghiêm tọa lạc ngay phía tây thị trấn.

Chùa Hoa Nghiêm là một ngôi chùa cổ xây dựng từ thời nhà Liêu (ngang với thời Bắc Tống 916-1125 Tây Lịch). Chùa được chia làm hai phần : chùa trên và chùa dưới. Chùa trên (phía trong) là một trong những ngôi chánh điện lớn nhất Trung Hoa. Trong chánh điện có năm tượng Phật ngồi trên tòa sen sơn son thiếp vàng rất cổ, tường có vẽ những tranh cổ, trên trần trạm trổ rất tinh vi, mầu sắc đặc biệt. Tất cả còn nguyên vẹn, nên dân địa phương coi nơi đây là một di tích của nền văn hóa thời nhà Liêu và Kim (1200 TL, trước nhà Nguyên).

Chùa dưới (phía ngoài) ngày xưa làm nơi chứa kinh điển, chính giữa điện có 3 tượng Phật lớn với 28 mặït tượng chung quanh. vẻ mặt phúc hậu, tươi tắn .

Khi chúng tôi tới chùa thì nơi đây họ cho biết là chùa đang trong tình trạng tu bổ, nên không cho vào thăm hai ngôi chánh điện, chúng tôi đứùng bên ngoài hàng rào lễ vọng vào. Nhìn vào phía trong chúng tôi thấy có nhiều bức tượng Phật nhỏ (cỡ 1m2) mầu thiếp vàng đã phai nhạt, điều này chứng tỏ những tượng này là cổ và nguyên thủy, và đồng thời cũng biết là ngôi chùa này không bị phá hủy nhiều trong cuộc Cách Mạng Văn Hóa. Cảnh chùa bên ngoài rất là đẹp, vẫn còn giữ được những nét cổ kính, như lầu chuông, lầu trống rất rộng lớn.

Kế đó, chúng tôi được dẫn đi xem Cửu Long Bích ở ngay thị trấn

Ngày xưa, người Trung Hoa rất tin phong thủy, nên phía trước những ngôi dinh thự lớn của quan đại thần người ta thường xây một bức tường lớn để án ngữ con đường cái đâm thẳng vào nhà, như để tránh những điều xấu.

Nguyên Cửu Long Bích này là bức tường dựng trước dinh thự của Hoàng tử thứ 13, con Vua Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương (vào cỡ năm 1420 TL). Ðây là bức tường dài gần 50m, trên có đắp chín con rồng uốn khúc. Chúng ta không rõ bức tường này có là nguyên thủy không, nếu nó còn nguyên thủy thì Cửu Long Bích này cổ hơn cả bức Cửu Long Bích ở Bắc Kinh (làm thời nhà Thanh 1650 TL).

Trời đã về chiều, chúng tôi trở về khách sạn để ăn tối và sửa soạn ngày hôm sau đi thăm Ngũ Ðài Sơn.

(còn tiếp)



bullets08.gif - 0.2 KPhóng sự Hành Hương Trung Quốc Phần 2
bullets08.gif - 0.2 KPhóng sự Hành Hương Trung Quốc Phần 3
bullets08.gif - 0.2 KNhững hình ảnh của chuyến Hành Hương Trung Quốc
bullets08.gif - 0.2 KTrang chính