hangphuc9.jpg - 14.0 K

 
3. PHẦN ÐỆ TAM : ÐẠI THỪA CHÁNH TÔNG.
Phật cáo Tu-bồ-đề : - "Chư Bồ-tát Ma-ha-tát, ưng như thị hàng phục kỳ tâm.
Sở hữu nhứt thiết chúng sanh chi loại : nhược noãn sanh, nhược thai sanh, nhược thấp sanh, nhược hoá sanh; nhược hữu sắc, nhược vô sắc, nhược hữu tưởng, nhược vô tưởng, nhược phi hữu tưởng phi vô tưởng, . . . ngã giai linh nhập vô dư Niết-bàn nhi diệt độ chi.
Như thị diệt độ vô lượng, vô số, vô biên chúng sanh, thật vô chúng sanh đắc diệt độ giả.
Hà dĩ cố ? - Tu-bồ-đề ! Nhược Bồ-tát hữu ngã tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng tức phi Bồ-tát.
    1. PHẦN THỨ BA : ÐẠI THỪA CHÁNH TÔNG.
Phật bảo ông Tu-bồ-đề : - "Các vị đại Bồ-tát nên như thế này mà hàng phục vọng tâm.
"Bằng nếu có tất thảy các loại chúng sanh: hoặc sanh trứng, sanh con, sanh chỗ ẩm ướt, hoá sanh; hoặc có sắc, không sắc, có tư tưởng, không tư tưởng, hoặc chẳng phải có tư tưởng chẳng phải không tư tưởng…Ta đều khiến tất cả vào vô dư Niết-bàn mà diệt độ. Diệt độ vô lượng, vô số, vô biên chúng sanh như thế, nhưng thật chẳng có chúng sanh nào được diệt độ cả.
Bỡi cớ sao ? - Này Tu-bồ-đề, nếu các Bồ-tát mà còn (nghĩ tưởng, còn chấp) có tướng ta, tướng người, tướng chúng sanh, tướng thọ mạng thì chẳng phải (chẳng đích thực được gọi) là Bồ-tát."
Ở phần này có một số danh từ tuy thông dụng, như Vô dư Niết-bàn, Ngã tướng, Nhơn tướng, Chúng sanh tướng, Thọ giả tướng, nhưng chẳng phải ai ai cũng có thể hiểu cách xác đáng, nên tưởng cũng cần phải nêu ra.
*Niết-bàn : được dịch âm từ Phạn-ngữ "Nirvâna", có nghĩa là lìa mê tối dứt phiền não, hoặc chẳng sanh chẳng diệt. Chữ "Niết-bàn" xưa nay được định nghĩa rất nhiều, không sao kể xiết, nhưng tựu trung cũng không ngoài một nghĩa này : Chơn không tịch lặng, thanh tịnh viên mãn.
Tưởng cũng không cần phải định nghĩa danh từ "Niết-bàn" ở đây nhiều hơn, vì nếu có dùng ngôn ngữ mà nói tới đâu đi nữa thì chúng cũng chỉ là khái niệm, là tướng ngoài, khó bề dính dấp đến thật nghĩa Niết-bàn. Thí như một miếng ngon mà ta chưa hề nếm qua, thì người khác dẫu có diễn tả ra sao thì cái vị ngon ấy cũng chỉ là khái niệm do ý tưởng hình dung mà ra, chứ chẳng phải thật như chính môi lưỡi mình cảm nhận được.
Cần nhất là hiện tại phải thật tu, thì ắt có Niết-bàn thật chứng, không ở đâu xa mà ngay trước mắt, ngay thật tại trong giòng sống; đến lúc đó thì như uống nước, nóng lạnh tự biết. Bằng cứ chạy theo khái niệm danh lý của định nghĩa mà quán xét "Niết-bàn" ắt phải lầm, vì đôi khi vọng tưởng vi tế của tự thân mà mình không tự biết, không tự kiểm soát được, vọng chấp vào tướng của văn tự, (cũng là khái niệm suy lý của những định nghĩa này), rồi mê lầm khởi niệm tưởng hư dối cho là đã khám phá, thâm nhập được Niết-bàn, mà thật tế thì chẳng phải, vì tự nó không chút dính dấp. Ðó là chỗ phải thật cẩn trọng, kẻo rơi vào hoặc nghiệp vậy.
* Hữu dư Niết-bàn : là người tu Phật đã thông tỏ thấu suốt tánh tướng của vạn pháp, không lầm nhơn quả, đã sống "một" tự nhiên như nhiên với chơn tánh, "đang-là" trong hiện thực tuyệt đối, cũng là "một" với Niết-bàn tại thế của đức Phật Thích-Ca, nhưng còn chút dư nghiệp, tập khí phiền não dư thừa của sắc thân chưa dứt sạch, cần phải làm phải trả xong trong đời này. Các bậc đã thành tựu quả A-la-hán, nhưng còn giữ thân tướng để giáo hoá chúng sanh được gọi là Hữu-dư Niết-bàn. Ðến khi sắc thân diệt, thì các Ngài nhập Vô-dư Niết-bàn.
* Vô dư Niết-bàn : hoàn toàn dứt sạch tập khí phiền não, lậu hoặc, như như bình đẳng, viên mãn thanh tịnh sau khi đã lìa bỏ thân sắc tướng.
Một Thiền-sư, không nhớ tên đã miêu tả trạng thái Hữu dư và Vô dư Niết bàn bằng một hình ảnh rất sống động : củi trong lò đã cháy sạch, lửa khói tắt hết, tro không còn, đó là trạng thái Vô dư. Tro tàn còn chút đọng lại trong lò, đó là trạng thái Hữu dư vậy.
* Ngã tướng : Tướng Ta; do vô minh che lấp chơn tánh, nên chúng sanh không tự biết rằng thân tâm này là do sắc-uẩn (đất, nước, gió, lửa, và thọ tưởng hành thức) giả hợp mà thành, nên khởi vọng chấp lầm, nhận thân này làm thật, nên (tưởng rằng) có Ngã tướng thật.
* Nhơn tướng : Tướng Người; do chấp lầm có Ngã-tướng, tưởng rằng mình sanh trong loài người, nên chấp lầm đồng loại hình tướng như mình là Nhơn tướng.
* Chúng sanh tướng : Tướng chúng-sanh; tưởng rằng các chúng sanh khác cũng như mình, do cha mẹ sanh ra, duy chỉ khác loài, nên gọi chung là chúng- sanh tướng.
* Thọ giả tướng : Tướng thọ mạng; vì tham-si nên tưởng rằng mình và hai tướng kia có mạng sống dài, ngắn khác nhau tiếp nối trong một khoảng thời gian, nên gọi là Thọ-giã tướng.
* Nhứt thiết chúng sanh chi loại, tất thảy mọi loài chúng sanh, cũng không ra ngoài chín loài chúng sanh từ sanh trứng, sanh con . . . đến loài chẳng có tưởng chẳng phải chẳng có tưởng, vừa kể trên.
Mở đầu phần Ðại-thừa Chánh-tông, cũng là khởi thuyết chỗ cốt tủy trong tòan bộ bổn kinh Kim-Cang Bát-nhã, Phật đã trả lời trực tiếp vào điểm ách yếu nhất trong câu hỏi của Tôn giả Tu-bồ-đề.
Chúng tôi xin nhắc lại, những lời sâu kín của đấng Ðại-giác ẩn tàng trong Kim-cang-kinh, tự như là một "đại-công-án" Thiền, một khối nghi lớn cần phải được khám phá, mà cũng là khám phá tự chính tâm mình.
Có thể nói cách chính xác, từng mỗi phần nhỏ biểu thị lời Phật trong suốt toàn bộ bổn kinh này đều là những mối nghi được nối kết tương tục thành một khối nghi lớn, mà tự chúng hàm chứa là phương tiện dẫn dắt của Phật, nên hành giả cần phải nương chúng để đập vỡ, phá nát, lột vỏ từng phần vô minh của tự thân, hầu đạt đến đích cuối cùng là khám phá bổn lai tự tánh, cũng là tỏ ngộ thật tướng của vạn pháp.
Những Thiền-ngữ này mắc xích nhau thành một chuỗi liên tục "khởi nghi, rồi giải nghi; vừa hết nghi liền thấy có chỗ dính mắc vào các tướng huyễn hóa hư vọng, nên tuy đã sạch hết thô tưởng nhưng vẫn còn tế tưởng; bỡi thế Phật lại phải khởi dẫn giùm các mối nghi khác trong lòng đại chúng, để rồi lại được giải nghi …" lần lược xuyên suốt từ đầu đến cuối, tương tục mở ra dần dần từ một điểm khởi nghi đầu tiên, như tùy thế đất mà khai thông giòng chảy của con sông để tuông ra và hòa một cùng đại hải, mà pháp ý không hề bị dứt đoạn.
Chỉ một mối nghi đầu tiên trong chỗ thấy biết loáng thoáng của Tôn-giả Tu-bồ-đề và Ông khải thỉnh xin được giải thuyết, mà Phật đã lần lược giải nghi, rồi lại dẫn dắt, mượn lời phương tiện nêu trước giùm các mối nghi trong lòng Tôn-giả Tu-bồ-đề mà Ông không thể nói ra được, rồi lại giải nghi và cuối cùng là đưa Ông và đại chúng đến đích là khám phá tự tánh, hiển trí Bát-nhã, cũng là thâm nhập Phật tự tâm.
Chỉ có trí huệ Phật mới làm được việc hy hữu, thậm vi thậm diệu, bất khả tư nghì này mà thôi. Và cũng may mắn thay cho những ai trong đời này, đại duyên, đại phước đức, gặp được và thọ trì chơn chánh đúng pháp Kim-Cang Bát-nhã, lại được các bậc Thiện-tri thức dẫn dắt nữa, thì công đức hy hữu không sớm thì muộn ắt sẽ thành tựu ngay trong đời này.
Những lời Phật thuyết rất chơn thật nhưng lại ẩn mật diệu mầu, mênh mang không gốc gát, rất khó hiểu, khó tin, khó chỉ bày; thế trí không thể nào nắm bắt được, mà hành giả chỉ phải dùng cái tâm không tâm, trực giác của mỗi người mới có thể cảm nhận nổi.
Cho nên, chỉ biết nói cách chân thật rằng, một hành-giả nếu tự thân kiên cố, dũng mãnh, nhứt tâm hành-trì Kim-cang một cách như pháp, thì chỉ cần đập vỡ, phá nát, thâm nhập được một công-án nhỏ trong kinh, như phần khởi đầu "Hàng phục vọng tâm và trụ tâm chơn chánh" trong pháp Bát-nhã Kim-Cang, thì coi như toàn bộ mọi thành trì, cữa nẻo, mọi xích xiềng, mà từ lâu vây bọc, che chắn, trói cột lấy mình, trước mắt tất thảy đều bị tháo tung; các mắc xích còn lại cũng ngay đó nếu không bị triệt tiêu mất dấu thì cũng vô tác dụng.
Chỗ này thí như một sợi xích buộc thân, chỉ cần một mắc bị tháo tung thì toàn bộ sợi xích không còn công hiệu nữa. Hoặc như một người bị nhốt trong phòng kín, (ví như tánh sáng tự sẵn có bị gói trọn bỡi vô minh), chung quanh là các bức tường; muốn được ra ngoài sáng thì phải tự thân kiên trì, dũng mãnh đục thủng, đập bể tường mà thoát. Chỉ cần phá vỡ một trong các bức tường thì thoát được ra ngoài, tự thoắc biết thế nào là ánh sáng vô hạn lượng, là không còn bị trói buộc . Aùnh sáng và sự tự do bên ngoài các bức tường là cứu-cánh, còn việc đập vỡ một trong các bức tường chỉ là phương-tiện để đạt đến cứu cánh giải thoát mà thôi. Một khi đã thoát được ra ngoài, được tự do tự tại thì các bức tường còn lại đều vô nghĩa, vô tác dụng, bỡi tất cả chúng đều chẳng khác bức tường vỡ vừa bị đục. Mà thật ra một khi đã được hoàn toàn tự do tự tại như ánh sáng trời rồi thì ai hơi đâu còn để ý tới những bức tường kia nữa mà làm gì.
Sở dĩ chúng tôi thường nhấn mạnh ở điểm này, không ngoài mục đích đặt câu hỏi cho người bị trói buộc, rằng tự tâm họ có thật sự nhàm chán cảnh bị nhốt trong tối tăm, nhơ uế không; có thật sự muốn được tự do tự tại, không gì ràng buộc không; có tự nỗ lực tìm tòi nghiên cứu nên cần đập bức tường nào mà mình cho là dễ dàng nhất, thích hợp nhất để có thể phá vỡ được nó mà thoát hay không; và nhất là có thật sự dũng mãnh quên mình đến độ táng thân, mất mạng vì ánh sáng tự tại phi sanh diệt, mà cũng là mặt mũi chính mình tự chỗ uyên nguyên?
Ðó chính là điều cốt lõi mà một người thiết tha cầu đạo giải thoát cần phải tự thân làm rõ : có đủ can đãm quay lưng từ bỏ sự tham luyến nơi tối tăm, nhơ uế nhưng lại đầy sức hấp dẫn, lôi cuốn đối với bản ngã kia không? Có thật sự nhàm chán các pháp khổ vui trói buộc không? Chỉ phải trong chỗ không tự dối chính mình mà kiên cố, dõng mãnh thật hành như lời Phật dạy, thì mới mong thành tựu được công đức hy hữu này mà thôi.
Một người tu Phật chơn chánh, nên chọn một trong các pháp-môn của Như lai mà tự thấy là thích hợp với căn cơ duyên phước của mình, hành trì đúng pháp, nỗ lực tự thân, tự thắng chính mình, không vì bất cứ một duyên cớ nào bên ngoài có thể làm cho mình lay chuyển Bồ-đề tâm, lại có được bậc Thiện-tri-thức tận tình dìu-dắt, khai mở, thì theo thiển ý của chúng tôi, không sớm thì muộn, ngay trong đời này, ắt phải thành tựu công-đức, giải thoát hiện tiền, đến đi tự tại. Ðó là lẽ chơn thật, vì ngay trong Kinh này Phật và Tôn-giả Tu-bồ-đề đều xác quyết cách rõ ràng như thế.
Pháp của Thế-tôn thuyết, thiện xảo, quyền biến,khi thật khi hư, thậm vi thậm diệu, nhưng tất cả cũng đều là phương-tiện dẫn dắt, chỉ đường. Còn tự thân người được dẫn dắt, muốn thoát cái khổ bị ràng buộc với tử sanh, thì phải biết dũng-mãnh buông thân, khước từ ba độc trói buộc của bản ngã, dám quay lưng lại với tham, sân, si đã ăn sâu tận xương tủy của mình, nghĩa là phải tự thân cởi trói mà thoát, vì ngoài chính mình ra không ai cõng mình tới đích, cũng như không ai cứu được mình.
Quay lưng là việc khó, bỡi từ chối ai, sự việc gì ngoài thân thì dễ, chứ từ chối tham dục của bản ngã thì thậm nan. Ðó là những lời chơn thành mà chúng tôi muốn nhơn đây gởi gắm, hầu tất thảy những ai tu Phật, dù hành trì bất cứ pháp môn nào của Ngài mà thành tâm thành ý, không dối lừa tự Phật, thì tùy căn cơ duyên phước của mỗi người, ắt cũng đều thành tựu công đức, tuy mau hay chậm, Hiền hay Thánh vẫn có chỗ khác nhau.
1). . . . (Nhứt thiết vạn loại) chúng sanh, ngã giai linh nhập Vô dư Niết-bàn nhi diệt độ chi. Như thị diệt độ vô lượng, vô số, vô biên chúng sanh, thật vô chúng sanh đắc diệt độ giã. - Tất thảy vạn loại chúng sanh, ta đều khiến vào Vô-dư Niết-bàn mà diệt độ. Diệt độ vô lượng, vô số, vô biên chúng sanh như thế, nhưng thật chẳng có chúng sanh nào được diệt độ cả.
Ở đây, Phật đã đáp thẳng vào câu hỏi của ngài Tu-bồ-đề, đại ý : - Này ông Tu-bồ-đề, quả thật như Ông đã thấy, nghĩ suy và thưa thỉnh đóù (Như nhữ sở thuyết) . Sở dĩ các Ông trong đại chúng (Thiện nam tử, thiện nữ nhơn phát Bồ-đề tâm đang theo Như-lai tu học cầu đạo giải thoát) không có được chỗ kỳ đặc như Phật ( chỗ này ngầm nói, ngầm hiểu, vượt ngôn ngữ – chỉ có Phật và Tôn-giả Tu-bồ-đề tự một, tâm tâm khế hợp, nói nín tương ưng) vì thân tâm các Ông lúc nào cũng lăng-xăng, vọng động. Ngoài thì các căn luôn bị cuốn hút mà trói buộc theo các pháp sanh diệt của trần cảnh, trong thì vọng thức, vọng tưởng khởi lên trùng trùng, biến hiện chập chùng, mất còn như sóng lượn, không lúc nào dừng nghỉ. Các Ông đã quên, đã tự lìa, đã bỏ chỗ trong sáng, an ổn, tự tại của chính mình, để trong ngoài cùng truy đuổi cái huyễn hoặc ở chỗ phiền não, trần lao, u tối, mờ mịt, hư vọng, mất còn, biến hiện thế kia, thì làm sao thân tâm các Ông có được chỗ an-trú như như, rổng rang thanh-tịnh, diệu hỷ diệu lạc, tự nhiên như nhiên, không đến không đi như Phật được.
Cho nên, nếu các Ông tha thiết muốn được cùng "một" trong chỗ kỳ đặc của Như-lai, trước hết các Ông phải biết cách "hàng phục vọng tâm mình".
Tôn-giả Tu-bồ-đề hỏi Phật : làm thế nào mà trụ được tâm, mà hàng phục được cái tâm vọng động kia, để đạt được cùng chỗ kỳ đặc như Phật, ngay trước mắt trong giòng sống, an nhiên tự tại, thanh tịnh chơn thường, không đến không đi như Phật không khác? Thì Phật trả lời, nên hàng phục cái vọng tâm trước đã.
Làm cách nào để hàng phục được vọng tâm mình? Phật dạy: - Với tất thảy vạn loại chúng sanh, Ta đều khiến vào Vô dư Niết-bàn mà diệt độ. Diệt độ vô lượng, vô số, vô biên chúng sanh như thế mà thật chẳng có một chúng sanh nào được diệt độ cả.
Ðây chính là phần ách yếu khởi đầu và cũng là một trong hai phần cốt tủy của toàn bộ bổn kinh Kim-cang Bát-nhã: "hàng phục vọng tâm và trụ tâm chơn chánh".
Vừa khởi thuyết, Phật đã làm cho tất thảy đại chúng trong đạo tràng, cũng như chúng ta ngày nay không khỏi một phen nghi nan, thắc mắc.
"Làm cách nào mà Phật có thể khiến tất thảy vạn loại chúng sanh vào được Vô dư Niết-bàn mà diệt độ?" .
Bỡi cớ sao ? Chúng sanh thì nhiều quá không sao kể xiết, lại sanh sôi nảy nở từng phút từng giây; nếu như tin nhận theo lời Phật dạy thì đại chúng Tỳ-kheo phải trụ vào cõi thế-gian biết bao nhiêu kiếp như thế nầy nữa mới mong độ thoát cho tất thảy chúng sanh ? Mà không diệt độ được chúng sanh vào Vô-dư Niết-bàn như lời Phật dạy thì làm sao thành Phật được?
Lại nữa, theo ý nghĩ của đại chúng rằng, chưa ai đắc Thánh quả, chưa ai được như Phật thì bằng cách nào để có thể làm được như Phật, nghĩa là có thể khiến vạn loại chúng sanh diệt độ được vào cõi vô dư Niết bàn?
Lại diệt độ vô lượng, vô số, vô biên chúng sanh như thế, mà rồi Phật lại phủ nhận tất cả việc làm của Ngài, rằng diệt độ nhiều như thế chứ thật ra không có một chúng sanh nào được diệt độ cả !
Mới nghe qua lời đáp của Thế-tôn, đại chúng Tỳ-kheo có cảm tưởng hình như Phật đã trả lời lạc đề đối với ý nghĩa câu hỏi của Không-Sanh, lại thoáng thấy có điều bất hợp lý, có chỗ mâu thuẫn nhau, khiến không khỏi thắc mắc, nghi nan:
Vậy thế nào là thật nghĩa của sự diệt độ mà Phật đã khiến chúng sanh vào vô dư Niết bàn?
Có thể nói Kim-Cang kinh là cốt tủy, là tinh-túy đượïc cô đọng, gói ghém, chắt lọc từ cả ngàn quyển kinh mà Phật đã rộng thuyết hàng nhiều năm dài,chứa trọn trong bộ kinh Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật (Tạm dịch nôm na cho dễ hiểu : Bộ kinh " Trí huệ lớn độ thoát qua bờ kia") .
Bỡi thế, chữ nghĩa trong kinh cô đọng, súc tích, bí aó vô cùng, người căn-cơ tầm thường khó đem trí suy-lường, phân biệt mà có thể thấu lý. Ðó là điều chơn thật.
- Ở đây Phật trả lời trực tiếp vào câu hỏi của Không-Sanh, mà không có gì là lạc đề cả. Ngài muốn dạy chúng ta rằng, Phật khiến vạn loại chúng sinh, tức cũng là vạn loại trần lao phiền-não của thế gian, là tất thảy vọng thức, tình-tưởng, niệm động, cũng là tâm phân biệt thánh-phàm, thiện-ác, nhơn ngã, thị phi, có vật không vật, trên dưới, trước sau … mọi thứ trói buộc của khái niệm nhơn quả nhị nguyên, Ngài đưa hết vào chỗ không chấp không bỏ, viên mãn thanh-tịnh, chơn thường vắng lặng, như như tịch lặng, viên dung vô ngại của tự tâm, cũng là tự tánh thanh tịnh Phật mà giải thoát tất cả, cũng là chỗ thật nghĩa của Vô-dư Niết-bàn (Vô dư Niết-bàn # Ðại Niết-bàn, viên mãn thanh tịnh), để tiêu trừ, làm cho tự rời lìa, tự dứt sạch hết các tập khí nhiễm ô, để không còn một pháp nào sanh lại trong tâm này nữa. Ðiều đó cũng có nghĩa là hàng phục tâm mình bằng cách chuyển được tâm thể từ chỗ lăng xăng, động niệm, trói buộc của tâm phân biệt ta người, dở hay, lành dữ, mừng giận, thánh phàm… …cũng là tất thảy các pháp sanh diệt, hư vọng trước mắt trở về một chỗ tâm như, không một pháp khởi sanh, không một pháp khởi diệt, vắng lặng, thanh tịnh, cũng là chỗ nhứt niệm, chánh niệm thường sáng soi, tịch lặng mà thường chiếu của Phật tâm, cũng là tự tánh Phật. Làm được như thế chính là hàng phục được cái tâm lăng xăng vọng động kia rồi vậy.
Con người nói riêng, hàm linh hữu tình nói chung đều có cùng một tánh sáng hằng sáng, an ổn, như-như của Phật, cũng là Phật tánh. Phật tánh vốn dĩ thanh tịnh, không đến đi, không còn mất, thường sáng soi, cũng là Niết-bàn của tự tâm, cùng tánh của tất thảy hàm linh hữu tình không hai không khác. Ðã thế thì ai người giác ngộ tự tánh tức thị người ấy tự độ mình vượt thoát vô minh, không lầm nhơn quả; nghĩa là tự chính mình chuyển được cái tâm lăng xăng vọng động (vọng tâm), biến hiện, mất còn trói buộc với nhơn quả vô minh, trở về lại chỗ tự sẵn có, sáng trong, không đến đi, không còn mất, cũng là chơn tâm, chứ chẳng một ai có thể độ được kẻ khác ngoài một tâm này.
Chúng sanh nói ở đây tức là vọng niệm, vọng tưởng sanh khởi trong tâm, cũng chính là trần lao, phiền não của thế gian, đều là các pháp huyễn hoá, không thật.
- Chỉ cần một niệm sanh, tơ tưởng dục trần huyễn hóa, phiền não của con người hay thú vật sanh con, ngay đó liền có chúng sanh thai sanh.
- Một niệm khởi dục trần mê tối, tơ tưởng đến loài có lông cánh, ngay đó liền có chúng sanh sanh trứng hiện.
- Tà tánh sanh khởi, niệm tưởng về chỗ dầm thấm, ẩm ướt, đen tối thì liền có chúng sanh thấp sanh.
- Niệm tưởng hư vọng biến hoá, kết buộc phiền não thì có chúng sanh hóa sanh.
- Vọng tưởng chấp thường thì có chúng sanh hữu sắc sanh khởi.
- Vọng khởi chấp đoạn thì liền có chúng sanh vô sắc sanh.
- Niệm tưởng chợt khởi thì liền có chúng sanh hữu tưởng sanh.
- Chợt khởi niệm tưởng lìa tưởng thì có chúng sanh vô tưởng sanh.
- Một niệm thường vắng lặng nhưng chưa thật sáng suốt, chưa thật thâm tỏ "tánh không" chơn thường vắng lặng của lý Trung-Ðạo, thì liền có chúng sanh chẳng phải tưởng chẳng phải không tưởng, sanh.
Như thế ý nghĩa câu nói của Phật: "Ta khiến tất thảy vạn loại chúng sanh diệt độ vào Vô dư Niết bàn" cũng có nghĩa là không sanh khởi một niệm nào trói buộc với pháp trần, thì tự tâm liền vắng lặng, an ổn trong sáng, tự nhiên như nhiên, dung thông vô ngại, bình đẳng như như, các pháp không chỗ dính dấp. Ðó chính là hàng phục được cái tâm lăng xăng, vọng động của mình vậy. Ðây là phần khởi đầu Phật dạy đại chúng tự an-định tâm mình. Câu đáp của Phật có chỗ nào là chẳng tương thích với câu hỏi của Tôn-giả Tu-bồ-đề ? Lời của Ngài há chẳng phải đã quá rõ ràng và xác đáng lắm rồi sao ?.
Phật tánh chỉ một, bình đẳng, như như (tạm gọi một, chứ thật ra chẳng có một khái niệm nào về chỗ một này cả, vì tuyệt vô đối đãi). Chúng sanh vì mê nên tự lìa nó. Bất giác chợt tỏ ngộ thì cùng nó không hai, cũng không khác. Thế nên, chỉ vì Mê mà làm chúng sanh, bỡi đã Giác mê nên làm Phật. Nên nói Phật độ người giải thoát là Phật chỉ cho pháp phương tiện, còn người muốn giải thoát chỉ phải một cách duy nhất là áp dụng một trong các phương tiện hy hữu đó của Phật để tự sáng tâm mà giác ngộ, cũng là tự độ chính mình. Phật không thể vận Phật-lực hay trổ Thần thông để độ chúng sanh giải thoát như ý nghĩ tiêu cực của nhiều người, không muốn tự lực tu hành mà cứ mong chờ tha lực ngoài thân. Bỡi nếu độ được ngoài thân thì Quá-khứ Phật đã độ tất thảy chúng sanh rồi, đâu phải đợi đến ngày nay cầu Phật Thích-Ca. Cho nên thành Phật hay thành chúng sanh cũng chỉ tại một tâm này, có tự tu để tự độ hay không, chứ chẳng ai độ thế giùm cho mình cả.
Như thế thì chúng ta thấy rõ ràng, Phật khiến vạn loại chúng sanh vào Vô dư Niết-bàn, mà thật chẳng có một chúng sanh nào được diệt độ cả; đó là lẽ thật, vì tự tâm tự độ tất thảy vạn pháp sanh khởi trong tâm, chứ đâu có thể độ chúng sanh ngoài một thân này?
2). Hà dĩ cố ? Tu-bồ-đề ! Nhược Bồ-tát hữu ngã tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giã tướng tức phi Bồ-tát. - Bỡi cớ sao ? Này Tu-bồ-đề! Ví bằng Bồ-tát mà còn có tướng ta, tướng người, tướng chúng sanh, tướng thọ mạng, tức chẳng phải là Bồ-tát (chơn thật vậy).
Do ngã chấp nên chúng sanh tự nhận lầm mà cho rằng thật có tướng "Ta", rằng mình thật có tự thể độc lập, có sự tương quan với các cá thể độc lập khác trong thế giới có đến đi, còn mất này. Do chấp có tướng ngã mà bốn tướng mới cùng hiện hữu (Ngã, Nhơn, Chúng-sanh, Thọ mạng). Chứ không chấp ngã, một niệm chấp không khởi sanh, thì trước mắt tự tâm rổng rang thanh tịnh, cả bốn tướng cũng hoàn không, tự thể ngay đó chơn thật vô ngã, cùng đạo tương ưng, nhứt như vô ngại, bình đẳng dung thông.
Ngay sát-na an-ổn, vắng lặng, thanh tịnh, sáng suốt của chánh niệm tự sẵn có kia ra, tìm đâu được cái gì lọt vào chỗ này để mà nói có thêm bớt, có gì có, có gì không ở đây nữa, huống là nói có năng sở, đối đãi, có phiền não, trần lao, khổ vui, phàm thánh, nếu tâm không dấy một niệm tưởng hư vọng nào. Ðến đó thì trần lao phiền não dù có dẫy đầy cùng khắp đều cũng như bụi trong ánh sáng; bụi tự sanh tự diệt, biến hiện mất còn mà chẳng làm cho cái sáng kia lay động, vì tánh sáng thì dung thông, vô ngại nên bụi trần chẳng chỗ dính dấp, không nơi nương tựa vậy. Ðó chính là thật nghĩa của việc khiến chúng sanh diệt độ vô dư Niết-bàn mà thật chẳng có chúng sanh nào diệt độ vậy.
Chỗ này được Lục-Tổ Huệ-Năng thể hiện rất rõ qua bài kệ đầu tiên khi Ngài còn đang làm công việc giã gạo trong nhà trù ở núi Hoàng-Mai, để đối lại với bài kệ của Giáo-thọ Thần-Tú.
Bồ-đề bổn vô thọ,
Minh kính diệc phi đài,
Bổn lai vô nhất vật,
Hà xứ nhạ trần ai?
Bồ-đề vốn không cây,
Gương sáng cũng không đài
Uyên nguyên không một vật,
Chỗ nào bụi bám đây?
Thế mới biết, trần lao phiền não, chỉ chung là vạn loại chúng sanh, chẳng khác như hoa đốm trong không, như bóng trăng trong nước, như cảnh lồng trong gương, như dấu chim bay trên không trung, chẳng hề dính dấp, trói cột với tánh sáng uyên nguyên của tự tâm.
Nói thêm một chút để tránh nhầm lẫn hai cái "không". Cái "không" chơn không, thanh tịnh, và cái "không" đối với cái "có", tức là "có của cái không"cũng như "không của cái có" trong lẽ sanh diệt "thường-đọan" của nhơn quả nhị nguyên.
Thí như nói, có người rốt ráo buông bỏ tất cả, đó là tự tâm buông, cái buông trong chỗ vô tâm, giống như sát-na trở về trước chưa từng có cái được nắm, chưa từng có cái được chấp thủ nên trong thực tại, ngay trước mắt, trong sáng tròn đầy không một vật, chẳng có cái cần phải buông vì đã sẵn tự buông mà không dấy một niệm buông nào. Ðó chính là cái buông mà trong đây thật chẳng tồn tại một khái niệm nào gọi rằng buông cả. Chỗ này trước mắt chỉ một niệm "Như " sáng trong, không một vật, vô biên không ngằn mé, cũng là chánh niệm, giải thoát trói buộc, vượt lìa nhơn quả.
Ngược lại, với cái tâm còn chấp trước, thì chính ngay chỗ nói buông bỏ ấy đã hiện lên tướng của sự nắm níu, trì kéo, hiện hữu khái niệm thật có cái buông trong tâm tưởng. Aáy chính là nắm níu ngay chỗ mình buông vậy. Nghĩa là thế nào ? Nghĩa là đã buông còn tưởng thật có chỗ mình buông đó. Một khi còn tưởng biết có chỗ buông này, thì chỗ tưởng biết đó, tuy vi tế nhưng lại chính là cái mầm chấp ngã bắt đầu sanh (ngã tưởng hiện) là sợi dây tri kiến cột buộc chính mình.
Thế còn nắm thì sao ? Nắm mà thật chẳng gì nắm, cũng là chẳng nắm, chẳng buông. Chẳng buông, chẳng nắm chính là thể hiện cái tâm nhất như bình đẳng, sáng suốt, an ổn, tự tại không đến đi của mình vậy. Nghĩa là sao? - Nghĩa là các căn thức đối cảnh như gương sáng lồng cảnh; cảnh ngoài chẳng làm mất đi cái sáng của gương, cũng như chẳng làm cho gương chao động. Nghĩa là tuy vẫn có nằm ngồi, đi đứng, ngủ nghỉ, uống ăn nhưng tự sống trọn trong chỗ vô vi, phân biệt, chẳng có gì để nắm giữ, hay níu kéo, trói buộc với tự tâm cả. Thật sự buông bỏ, thì trọn sống trong chỗ chẳng có gì để có thể nói là có cái để buông, đó là chỗ chẳng buông cũng chẳng nắm, là chỗ nắm buông rốt ráo, an trú trong nhứt niệm chơn chánh, trong bình đẳng tánh, vô ngại dung thông. Chẳng nắm chẳng buông, đó chính là chỗ "Bình thường tâm thị đạo" của Tổ Nam-Tuyền, đói ăn khát uống mệt đi nằm của Bàng-cô Linh-Chiếu vậy.
Tự thể hiện chơn chánh chỗ này, khắc biết thế nào là vô sự trong chốn xô bồ.
Có người nói : ta buông,
Nhưng mà buông cái gì?
Thật có gì để nắm?
Mà có cái để buông !
*
Nắm, buông : pháp huyễn vọng,
Buông, nắm : sự đảo điên.
Ý chợt khởi: lìa nắm,
Tức nắm cái "buông" liền.
*
Trước mắt, trời trong xanh,
Cảnh vật đang tươi thắm
Mặc sức cứ nhìn ngắm,
Chẳng nắm, cũng không buông.
*
Cầu "Ðược", chỗ nào "Ðược",
Tìm "Không", cái chi "Không"
Niết-bàn tại hơi thở,
"Ðang-Là", vạn pháp "Ðồng".
Người tỏ ngộ lẽ Trung-đạo, tự thấy biết cách chơn thật rằng, đạo chẳng lìa đời, đời cũng chẳng lìa đạo. Ðời đạo tự dĩ thể-dụng tương ưng, tánh tướng dung thông, chẳng thiếu chẳng thừa, sự lý vô ngại. Chỉ vì chấp mê mà tự sanh có chỗ quấy của chính mình, nên mới hiện ra tướng sai biệt. Cho nên Phật và chư Tổ thường nói, chúng sanh cùng Phật chẳng khác chẳng hai, duy từ chỗ ngộ, mê mà có cách ngăn, chia lìa vậy.
Tuy nhiên đời này vẫn có người chưa thật sự tỏ ngộ lý Trung-đạo, chưa thật hành rốt ráo lẽ "không nắm không buông", chưa tự thể hiện pháp chơn thường vô ngã, quên mất chính mình là ai, đang làm gì, vơ vội ngay lấy câu nói của Tổ Phật, rằng "đạo không lìa đời" để dùng làm phương tiện vun bồi bản ngã, nhắm mắt nhắm mũi chạy theo trần cảnh, tô đắp thêm dày thêm lớn vô minh của tự thân, để cuối cùng chết chìm với lợi danh, ngã nhơn, bỉ thử. Những người như thế, chẳng phải là không có nhiều ở thời này ư?
Thiền-sư Bổn-Tịnh có bài kệ nói về chỗ ảo diệu của sự nắm buông này.
Kiến, văn, giác, tri vô chướng ngại
Thinh, hương, vị, xúc thường tam muội
Như điểu không trung chỉ ma phi
Vô thủ, vô xả, vô tắng ái.
Nhược hội ứng xứ bổn vô tâm
Thuỷ đắc danh vi Quán-tự-tại.
Thấy, nghe, hiểu, biết chẳng chướng ngại
Thanh, hương, vị, xúc thường tam muội
Như chim trong không chẳng lưu vết
Chẳng thủ, chẳng xả, chẳng ghét thương.
Nếu hội chỗ, gốc vốn không tâm
Mới được tiếng là Quán-tự-tại.
Thế nên, chỉ ở chỗ tâm thể thanh tịnh,vắng lặng thì như gương sáng soi cảnh; cảnh mất còn, đến đi, thay đổi trong gương cũng chẳng làm cho tánh sáng của gương bị lu mờ, chao đảo hay bị vướng víu, trói cột; nó không nhận cũng không chối, không bỏ cũng không chấp, không nắm cũng không buông, đến đi tùy duyên, như như chẳng gì dính dấp. Aáy chính là chỗ dạy của Phật, nên diệt độ nhứt thiết chúng sanh mà thật ra chẳng có một chúng sanh nào được diệt độ cả.
Không nắm không buông, không cố tâm "khử bỉ" cũng chẳng gắng sức "thủ thử", cứ sống tự-nhiên như nhiên,"đang-là" trong hiện thực tuyệt đối, ngay trước mắt, tùy duyên mà tự có chỗ đến đi vô ngại, cũng là thấu suốt lẽ Trung-Ðạo, cũng là tự thể hiện chơn thật vô ngã, cũng là đời đạo tương ưng, thể dụng dung thông, như-như bình đẳng. Bằng làm khác đi chỗ không nắm không buông, tức chẳng tự Như, ắt phải tự sái, tự có chỗ trói buộc, dính mắc, khó vượt thoát hiện tướng nhơn quả .
Nếu không còn bị bóng tối bao che, gương sáng vẫn luôn là gương sáng, mà ảnh trong gương cũng chẳng làm cho tánh sáng của gương lay động hay bị lu mờ, vì tự ảnh cũng chỉ là ảo ảnh. Aûo ảnh mất hay còn cũng chẳng làm mất đi cái sáng trong, tịch lặng, an ổn của gương. Như bóng trăng trong nước đâu có thể làm cho nước lay động, hoặc làm cho tự thể của nước trong hơn hoặc nhơ thêm đâu!
Bằng tự có niệm khởi, như dậy nước thì sóng sanh, vạn pháp mất còn, biến hiện.
Thiền-sư Từ-Ðạo-Hạnh đời Lý, có bài kệ chỉ chỗ này rất rõ.
Tác hữu trần sa hữu,
Vi không nhứt thiết không
Hữu không như thủy nguyệt,
Vật trước hữu không không.
Có thì có tự mảy may
Không thì cả thế gian này cũng không
Nhìn xem bóng nguyệt dòng sông
Ai hay không có có không là gì.
(Phan-kế-Bính dịch)
Tất thảy chúng sanh gọi chung, đều là trần lao, phiền não; trong chỗ cùng tột thật tướng các pháp, tất thảy chúng đều là huyễn hóa, hư vọng, như hoa đóm trong không. Thật tánh chúng vốn dĩ là không, chơn thật vô ngã. Chỉ vì chợt khởi vọng chấp (ngã tưởng) mà ngay đó liền có tướng ngã hiện. Hễ đã có ngã tướng tất có nhơn tướng sanh. Có ngã, cùng nhơn thì tướng chúng sanh và tướng thọ mạng liền cùng hiện. Bằng tâm thể chơn thường vắng lặng, tự thể hiện nhất như vô ngã, thì tất thảy các pháp tự sẵn như như, không chỗ dính dấp. Ðó chính là diệt độ vô lượng chúng sanh mà thật chẳng có chúng sanh nào được diệt độ cả. Vì không khởi vọng thì vạn loại chúng sanh, cũng là trần lao phiền não không sanh, tức cũng là diệt độ chúng sanh vào Vô-dư Niết-bàn chẳng khác.
Cho nên, có thể kết-luận rằng, trong phần này, Thế-tôn đã chỉ dạy cho đại chúng và Tôn-giả Tu-bồ-đề biết cách quán sát pháp chơn thật vô ngã để tự hàng phục tâm mình vậy.
Nếu không khởi vọng tâm phân biệt, không chấp trước cột buộc theo trần cảnh, cứ sống chơn thật trong chánh niệm nhứt như của tự tâm, thì tất thảy trần lao phiền não ấy đều như hoa đóm trong không, chẳng hề can hệ, không chút dính dấp, không chỗ vướng mắc, bỡi tự chúng đều không thật.
Thế nên có thấy rõ được chỗ này, mới hiểu lời Phật dạy ở trên, diệt độ vô lượng, vô số, vô biên chúng sanh, phiền não như thế mà thật ra chẳng có chúng sanh nào thực sự được diệt độ cả; vì tâm thể tự như, thì chúng sanh, phiền não chẳng có chỗ dính dấp, đó là lẽ thật.
Nghĩa là sao? Là tự tâm chúng sanh hễ còn thấy có ngã tướng thì ngay đó các huyễn tướng khác : tướng nhơn, tướng chúng-sanh, tướng thọ mạng tức thì hiện hữu; mà bốn tướng hiện diện thì còn đủ mọi loại phiền não,trần lao trói buộc, dính mắc. Còn không có tướng ngã, thì ba tướng kia cũng chẳng có. Mà đã không một tướng nào thì lấy đâu chỗ cho chúng sanh, phiền não cột buộc.
Cho nên, một Bồ-tát mà còn có tướng ngã, thì cũng là còn trọn đũ bốn tướng. Còn tướng thì còn phiền-não trần lao trói buộc; mà còn trần lao trói buộc thì làm sao có thể gọi kẻ đó là người thật sự giác ngộ Phật tánh, và có thể giác ngộ người khác nhận ra Phật tánh của mỗi người để tự giải thoát được. Thậm chí, người đã giác ngộ Phật tánh mà chợt khởi tưởng có cứu độ người thì ngã tướng ngay đó liền hiển hiện. Mà còn tướng là còn có tự ngã, còn bị trói buộc, vướng mắc trong nhơn quả nhị nguyên, còn chưa tự giải thoát được sanh diệt, chưa lìa được hai bờ, huống là có thể độ người giải thoát?
Ðó chính là ý nghĩa lời Phật dạy : "Nếu Bồ-tát mà còn có tướng ngã, tướng nhơn, tướng chúng sanh, tướng thọ mạng tức chẳng phải là Bồ tát chơn thật vậy".
Xoay ngược câu nói, Phật ngầm dạy các Bồ-tát, những người có tâm từ rộng lớn, học pháp lớn, hành việc lớn hãy nên cắt đứt tận gốc rễ của ngã chấp, tức là lìa ngã tướng, là tự thể hiện chơn thật vô ngã, mà ngay đó cũng chính là lìa tứ tướng; tứ tướng đã không còn thì còn có chỗ nào để có thể làm chỗ trụ cho chúng sanh, phiền não nhiễm trước được; phiền não, trần lao đã không, thì tâm tự thanh tịnh, như thế tức là bước đầu đã hàng phục được vọng tâm, đã an định được tâm rồi vậy.
Ðã tự thể hiện vô ngã một cách chơn chánh, thì trước mắt cảnh đến đi, mất còn nào có dính dấp tới ai đâu; tâm đã như hư không thì lấy gì có thể níu kéo, ràng buộc, trói cột hư không được nữa, vì tự thể hư không thì dung thông, vô ngại. Thế thì ngay đó, tất thảy vạn loại chúng sanh cũng là trần lao phiền não có dính dấp gì tới hư không đâu, vì tự chúng chỉ là hoa đóm trong không, đó há chẳng phải là ta đã diệt độ vô lượng vô số vô biên chúng sanh rồi, mà thật chẳng có một chúng sanh nào được diệt độ cả đó sao ?
Ðã tự thể hiện chơn thật vô ngã, thấy các pháp khổ vui là không thật, tâm thường vắng lặng rổng rang, thì trần lao phiền não đều như bụi trong ánh sáng, có gì dính dấp, ngăn ngại, trói buộc được ánh sáng đâu?
Cho nên có hiểu được lời Phật dạy, có tự thân chiêm nghiệm và hành trì như pháp để thông đạt điểm ách yếu trong đây là "Vô-Chấp", không lấy không bỏ, lại tự thể nghiệm được chỗ không ta, không người, không chúng sanh, không thọ mạng, không móng khởi một niệm trói buộc nào với sanh diệt pháp, thì dù chúng sanh có đầy dẫy như bụi trần, có biến hiện mất còn trước mắt, thì cũng chẳng có gì can hệ tới tự tâm trong sáng, bất động, như-như này. Như thế thì tất cả các nghi nan, thắc mắc của chúng ta đối với bài pháp "Hàng-phục Vọng tâm" mà Phật vừa thuyết ở trên, ngay đây đã được giải quyết, được tháo gỡ rồi vậy.
Bồ tát mà làm được như lời Phật dạy mới xứng danh là người đã giác ngộ giải thoát, và có thể dùng chỗ giác ngộ của mình để phương tiện độ được người khác giải thoát vậy.
Bằng gọi là Bồ tát như nhiều người thời nay vẫn thường tán tụng, tâng bốc lẫn nhau, mà thân tâm vẫn còn trói buộc trong tất thảy các pháp hữu vi,còn dính mắc với sắc tướng, chưa thật sự tỏ ngộ và đồng một cùng tánh sáng hằng sáng của Phật tự tâm, còn chưa hết mê lầm nhơn quả, thì há có thể gọi đó là bậc Giác ngộ-Hữu tình chơn thật và há có thể độ người khác Giác-ngộ Giải thoát được sao?



bullets08.gif - 0.2 K Trang Muc Lục
bullets08.gif - 0.2 K Trang Chính