hangphuc11.jpg - 14.0 K
Công năng vi diệu trong pháp giải thoát của
Kim-Cang Kinh.
5. Phần Ðệ Ngũ : NHƯ LÝ THẬT KIẾN.
"Tu-bồ-đề ! Ư ý vân hà ? Khả dĩ thân tướng kiến Như lai phủ ?
Phất dã, Thế-tôn! Bất khả dĩ thân tướng đắc kiến Như-lai. Hà dĩ cố ? Như-lai sở thuyết thân tướng tức phi thân tướng.
Phật cáo Tu-bồ-đề : - "Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng. Nhược kiến chư tướng phi tướng, tức kiến Như-lai."
5. PHẦN THỨ NĂM : BIẾT THẬT LẼ NHƯ.
* " Này, Tu-bồ-đề! Ý Ông thế nào? Có nên dùng thân tướng mà cho đó là Như-lai chăng"?.
* "Bạch Thế-tôn ! Không ạ! Không nên dùng thân tướng mà cho đó là Như-lai. Bỡi cớ sao ? Bỡi Như-lai thường nói thân tướng tức chẳng phải thân tướng.
Phật bảo Tu-bồ-đề : - Phàm chỗ nào có tướng đều là hư vọng; bằng thấy các tướng chẳng phải tướng mới rõ được Như-lai".
Ở phần trước, Phật dạy rằng, các Bồ-tát lớn thì nên không có chỗ trụ mà làm việc bố thí (tâm xả), thì phước đức mới rộng sâu như mười phương hư không, to lớn không thể nghĩ bàn. Có nghĩa là phải nên đúng như pháp mà an trụ tâm, cũng là an trụ tâm một cách chơn chánh : trụ tâm không chỗ trụ.
Vậy thế nào là đúng như pháp ? – là thể hiện tự tâm đồng như Pháp-tánh, như như thanh tịnh, không chỗ sai khác.
Vì thật tánh các pháp thảy đều vô ngã, nên muốn làm một Bồ-tát lớn cũng phải thể hiện đúng như pháp là tự chơn thật vô ngã: không ta, không người, không chúng sanh, không thọ mạng; đồng thời, lại chẳng trụ (cũng có nghĩa là lìa) tất thảy sắc, thinh, hương, vị, xúc, và tất thảy các pháp có không, khổ vui, tình tưởng …của nhị nguyên nhơn quả mà làm việc bố thí; cũng có nghĩa là dùng tam-luân-không mà bố-thí, không để tâm vướng mắc vào bất cứ một pháp nào thì đó mới là chơn thật bố thí, mới là trụ tâm không chỗ trụ, phước-đức mới rộng lớn, cũng có nghĩa là ngay đó tánh chơn thật của tự tâm hiển lộ.
Nghe Phật thuyết đến đây thì đại chúng liền trực nhận ra tự tâm vắng lặng, trong sáng, an ổn, hiu nhiên. Bậc trí-giả như Không-Sanh Tu-bồ-đề tới đây thì đã nhận ra được chơn thân của Phật, rồi nương đây mà hành trì kiên cố hai pháp "Hàng phục và Trụ tâm" để gột tẩy lậu hoặc mà thâm nhập Tri-kiến Phật. Nhưng đại chúng,vì tâm còn chấp tướng, nên liền đó khởi nghi :
- Nếu dùng tam luân không để bố-thí, thì tự thể trong đây vắng lặng, tịnh không thấy có một tướng nào. Mà Bồ-tát dùng chỗ không một tướng nào để làm việc bố-thí, cũng là dụng chỗ "nhơn không" để cầu quả, thì lấy gì để sau này có được quả Phật ? Bỡi đại chúng suy nghĩ, nhơn đã không thì ắc quả phải không, vì còn có chỗ chấp vào luật tắc nhơn quả. Do đại chúng chưa thấu tỏ được chỗ sâu mầu vi diệu về tánh "không-không mà diệu hữu" của Pháp-tánh, nên mới có chỗ suy nghĩ như thế, rằng nhơn không thì ắc quả không, thế thì làm sao nói Bồ-tát nên hành thí tam luân không để có thể đắc thành Phật quả ở vị lai.
Nếu "Quả" không đạt được, thì hóa ra lâu nay uổng công tu hành, hoài công bố-thí ư, cũng như sẽ chẳng bao giờ có được ba mươi hai tướng tốt và tám mươi tướng tùy hình rỡ ràng đẹp đẽ như Phật kia ư ?.
- Lại cũng còn có chỗ nghi nan nữa. Nếu tin nhận như lời Phật dạy, rằng dùng nhơn không, cái tâm thể vắng lặng tịnh không một tướng nào kia để hành thí (tam luân không), không trụ vào bất cứ một tướng nào, thì quả ắc không. Nhưng quả nào được thành tựu, khi mà có Phật rõ ràng trước mắt đại chúng cùng với các vẻ đẹp của ba mươi hai tướng tốt, và tám mươi tướng tùy hình rỡ-ràng phi phàm không ai sánh bằng kia?
Ðó là những chỗ mà đại chúng khởi tâm nghi nan .
Tuy đã nghe Phật thuyết tới đây rồi, nhưng đại chúng vẫn còn dùng thân tướng để nhìn mà thấy có Phật, còn chấp vào sắc tướng của Báo thân Phật, mà không hề biết chút gì về tánh chơn thật của Pháp-thân Ngài, nên mới có chỗ khởi nghi như thế.
Không-Sanh Tu-bồ-đề nhờ có huệ-nhãn, tỏ thông thấu suốt thật tướng không tướng, biết cách chơn thật rằng, sắc thân thì hữu tướng, do ngũ uẩn giả hợp mà thành, có đến đi, sanh diệt, nhỏ lớn, mất còn nên Ông mới nói "thân tướng tức phi thân tướngthân tướng đó tức chẳng phải thân tướng", là nói thân tướng này không thật, chỉ do giả hợp sắc-uẩn mà thành, nên mới tạm gọi nó là thân tướng mà thôi.
Còn Pháp thân thì vô tướng, là chơn thân Như-lai, không đến không đi, không sanh không diệt, không nhỏ không lớn, không còn mất, chơn thường vắng lặng, như như thanh tịnh.
Ðại chúng vì tâm còn chưa lìa chấp tướng, chưa tỏ rõ được Pháp-thân chơn thật "thật tướng không tướng" của Ngài, nên mới nghĩ sắc thân Phật là thật có, liền thầm nghi nan : Phật nói hành thí vô tướng, thì trong chỗ nhơn không, ắc quả cũng phải không, thế thì Phật nào có thể có được, với các tướng tốt đẹp như đây, trước mắt đại chúng, ở trong cõi này ?
Chơn thân Phật vốn dĩ vô tướng, chẳng sanh diệt, rổng rang thanh tịnh, thật hữu, luôn tồn tại. Chỉ vì một đại sự nhơn duyên mà phải mượn sắc-uẩn như thế thường, vào thai Thánh-mẫu Ma-da thị hiện cõi này làm người cao quí, rồi xuất gia tu hành, viên thành Phật đạo để thuyết pháp độ sanh, không ngoài mục đích chỉ cho chúng sanh nhận ra tánh Phật hằng tự sẵn có ở mỗi người, để biết đường lìa tất thảy các pháp tướng mà tự giải thoát trói buộc sanh tử.
Sở dĩ Phật có ba mươi hai tướng tốt, và tám mươi tướng tùy hình đẹp đẽ phi phàm kia, ấy là vì Ngài đã từng gieo không biết bao nhiêu là nhân lành, nghiệp thiện cùng phước đức ở nhiều đời quá khứ mà đời này nhận quả tốt, mới có chỗ Báo-thân trang nghiêm như thế.
Nghĩa là sao ? Nghĩa là Pháp-thân Như-lai thì chơn thật vô tướng (thật tướng không tướng) nhưng vì đại sự nhơn duyên, cần chỉ đường cho chúng sanh nhận ra tánh thật của mình để giải thoát mà Ngài mượn tướng của các pháp xuất sanh từ diệu dụng của không tướng (không-không tánh, Pháp-tánh) mà ứng hóa ra Báo-thân Phật. Ðó cũng là nghĩa Chơn-không mà Diệu-hữu vậy.
Thuyết giảng tới đây, Phật tỏ thấu thắc mắc trong lòng đại chúng, nên lại dẫn dắt, chỉ đường cho họ tự phá mà thoát khỏi chỗ nghi nan này, để nhận ra chỗ chơn thân của Phật, mà cũng là Pháp-giới tánh, nên mới ướm hỏi ông Tu-bồ-đề là người có chút hiểu biết loáng thoáng về Pháp-thân Ngài, đại ý : Này ông Tu-bồ-đề ! Theo như ý Ông thì có nên dùng cái thân tướng đẹp đẽ với ba mươi hai tướng tốt và tám mươi tướng tùy hình trang nghiêm mà mắt các ông đang thấy đó, đang đứng đi, nằm ngồi, nói năng, thuyết pháp trước mặt các Ông đó mà cho rằng thật đó là Như-lai, cũng là Chơn-thân của Phật chăng?.
Như-lai là nghĩa Như của các pháp, là tướng chơn thật, không phải có cũng chẳng phải không, không chỗ đến đi, không còn không mất, vô chung thỉ, ở chỗ tuyệt đối sáng trong, vắng lặng, phi tướng phi phi tướng, mà luôn hiện hữu và tồn tại. Ðó là tướng mà chẳng phải tướng, là thật tướng không tướng, cũng là Pháp thân, Pháp tánh, Như Lai Tạng, cũng là Ðại-Bát Niết-Bàn.
Còn sắc tướng, là tướng kết hợp giả tạm của sắc-uẩn, là tướng huyễn hoá, biến hiện, có mất còn, có sanh diệt nên được gọi là có thân tướng. Dù thân tướng đó có là Báo thân của Như-lai, với đầy đủ các tướng tốt, thì tướng này cũng không thể vượt ra ngoài luật tắc sanh, lão, bệnh, tử, trong chỗ có đến đi, còn mất được, vì tự nó là tướng sanh diệt. Còn Pháp-thân thì thanh tịnh, như như, không sanh không diệt.
Vậy nên, để chỉ cho đại-chúng nhận ra được chỗ chơn thật này, không chấp lầm vào ba mươi hai tướng tôùt, tám mươi tướng tùy hình trang nghiêm đẹp đẽ của Phật mà cho rằng đó là Phật thật, ở phần sau trong kinh này Phật đã vặn hỏi Tôn-giả Tu-bồ-đề :
"Nếu Ông chấp vào các tướng tốt ấy mà cho rằng thật đó là Như-lai, thì chẳng lẽ Chuyển-luân Thánh vương cũng là Như-lai ư ?".
Bỡi Chuyển-luân Thánh vương cũng có sắc thân đầy đủ mọi tướng tốt như Báo-thân Phật, không khác một điểm nào, nhưng chẳng phải là Phật. Tướng tốt của Chuyển-luân Thánh vương cũng chỉ là chỗ báo-thân tốt đẹp (còn kết buộc trong sanh diệt pháp) từ nhơn lành của bao đời trước đã gieo mà đời này Ngài có được như thế mà thôi.
Ngài Tu-bồ-đề tự thân chiêm-nghiệm mà rõ biết được rằng, thân tướng đó chẳng phải là thật tướng của Như-lai, tức Như-lai chẳng phải chỉ là chỗ thân tướng đầy đủ mọi vẻ tốt đẹp có đến, đi, ngồi, nằm, nói năng kia, nên Ông mới trả lời rằng không nên dùng cái thân tướng tốt đẹp của Phật trước mắt mọi người mà cho rằng thật đó là Như-lai; vì hễ đã có thân tướng thì tướng ấy cũng nằm trong pháp sanh diệt, có mất còn, khác với chơn thân Như-lai thì luôn tồn tại, không đến đi, uyên nguyên, thanh tịnh, vô chung thỉ mà Ông đã dùng cái con mắt tâm dòm thấy Như-lai, mà cũng là tự thấy mặt mũi chơn thật chính mình. Cho nên, vì biết chỉ có Pháp thân Như-lai là chơn thật, còn sắc thân Ngài thì chẳng phải, nên Ông mới khẳng định rằng, không nên dùng cái thân của sắc tướng đó mà cho thật đó là Như lai.
Do Không-Sanh tỏ rõ được chỗ sâu mầu mà Như lai đã từng thuyết, cũng như đã tự thể nhận ra chỗ "thân tướng tức phi thân tướng – thân tướng đó tức chẳng phải là thân tướng", là vì biết thân tướng đó giả hợp, không thật, có mất còn, sanh diệt, nên Ông mới trả lời là "thân tướng đó tức chẳng phải thân tướng (chẳng phải tướng chơn thật)".
Thế nào là ý nghĩa chơn thật câu trả lời của Tôn-giả Tu-bồ-đề đối trước Phật "thân tướng tức chẳng phải là thân tướng?". Như trên đã đề cập, vì hễ có sắc tướng thì đó chẳng qua là do giả hợp của sắc uẩn mà có. Còn tướng chơn thật thì vô tướng, chẳng một tướng nào, không đến đi, không còn mất, vô chung thỉ, luôn tồn tại.
Vì ngã chấp nên chúng sanh luôn chạy theo cảnh ngoài, mê lầm nên trụ chấp vào tướng ảo hoá, hư vọng, không tự nhận ra được tướng chơn thật của chính mình, nên mới phải chịu nổi trôi, mất còn trong sanh tử. Thế nên đọan kinh văn này Phật phương tiện phơi bày Pháp-thân Ngài, rồi lại dẫn dắt, chỉ thẳng vào tự tâm mỗi người, khiến cho đại chúng nương theo đó mà lần lần bóc vỏ vô minh, để tự nhận ra bổn lai diện mục.
Khi Phật thấy Tôn-giả Tu-bồ-đề đã nhận ra được chỗ chơn thật "thân tướng tức phi thân tướng - hễ có thân tướng tức chẳng phải là tướng chơn thật", Ngài liền nương theo đó mà củng cố lòng tin của mọi người, bằng cách mạnh mẽ xác quyết một lần nữa :
"Phàm chỗ nào có tướng đều là hư vọng, (huyễn hoá, không thật) ; bằng thấy rõ (được chỗ) các tướng chẳng phải tướng ( chơn thật), thì mới rõ thấy được (chỗ chơn thật) Như-lai, (cũng là thấy rõ được lẽ Như của tất thảy các pháp vậy)".
Phàm chỗ nào, cái gì có tướng đều là hư vọng. Ðây là chơn lý bất biến. Tự hiểu rõ, thấy rõ như thật được chỗ này thì được gọi là biết thật lẽ Như-như của các pháp (như lý thật kiến).
Chúng ta thấy có cái gì trên thế gian này luôn thật hữu và tồn tại chăng? Tuyệt nhiên là không có chỗ nào và cái gì không có lúc bị hủy hoại cả.
Con người và hàm linh hữu tình, có sanh ra và diệt mất, không ra ngoài luật tắc bất biến của sanh, lão, bệnh, tử.
Cỏ cây thảo mộc không ra ngoài luật tắc sanh, trụ, dị, diệt.
Núi non, đất đá, trăng sao, sông biển vv …. không ra ngoài luật tắc thành, trụ, hoại, không. Thế nên, thân tướng mà Phật ướm hỏi Tu-bồ-đề, là sắc tướng của Báo-thân Phật, cũng không ra ngoài luật tắc có sanh có diệt này; vì thân tướng đó cũng chỉ là tướng giả hợp của sắc uẩn; thân tướng này tự nó cũng đã có nghĩa là sanh diệt rồi, dù là Báo-thân đẹp đẽ của Phật đi nữa.
Tưởng cũng nên nói nhắc lại chỗ này một chút, vì nó có tương quan mật thiết với phần trên.
Ở phần trước, nghe Phật thuyết rằng Phật khiến tất thảy vạn loại chúng sanh diệt độ vào chỗ vô dư Niết-bàn, nên đại chúng liền khởi tâm chấp vào tướng mà nghĩ rằng nhờ Phật-lực nên Phật mới làm nổi được việc khó làm đó. Nhưng sau đó lại tự nghĩ, chúng sanh còn nhan nhản trước mắt có thấy ai được diệt độ đâu, nên lại khởi nghi tiếp mà tự hỏi, như thế hoá ra Thế-tôn chẳng có Phật lực ư ? Mà không có Phật lực thì sao được gọi là Phật! Thế thì ai đang thuyết trên tòa kia ? Chẳng lẽ đó chẳng phải là Phật thật ư?
Ðó chính là chỗ đại chúng còn chấp chặt nơi sắc tướng của Báo-thân Phật, mà chưa biết chút gì về chơn thân của Ngài vậy.
Vì thấy biết các mối nghi ấy trong lòng đại chúng, nên Phật mới nói: chớ nhìn cái thân có sắc tướng đó mà cho là Phật thật. Lại xác quyết một lần nữa, bằng thấy biết rõ như thật các tướng chẳng phải tướng (thật tướng không tướng), mới rõ biết thế nào là chỗ chơn thật của Như lai, là tánh như-như của tất thảy các pháp.
Phật có ba thân: Ứng-Hoá thân, Báo-thân và Pháp-thân Phật.
Trong chỗ phân thân thì nói có ba, nhưng hợp lại cũng chỉ là một.
* Từ chỗ không tướng mà hiện ra cõi nầy giáo hoá chúng sanh, đó là Ứng thân hay Hoá thân Phật.
* Tướng mà thật chẳng phải tướng, chỉ tạm cưỡng gọi là tướng, vì là sắc thân giả hợp, đó là Báo thân Phật, với ba mươi hai tướng tốt và tám mươi tướng tùy hình siêu phàm.
* Tướng mà chẳng phải tướng, chẳng phải không tướng, cũng là thật tướng vô tướng, là Pháp-giới- tánh, cũng là Pháp thân Như-lai.
Thí như hư không, chẳng thể nói hư không chẳng có, cũng chẳng thể nói hư không chẳng không. Pháp thân Phật tạm thí dụ như hư không, bao hàm cùng khắp mà chẳng thể nói là không, cũng không thể nói là có, nhưng vẫn thật hữu, luôn tồn tại, siêu việt, mà thức ý của tâm phân biệt nhị nguyên, cùng thế trí chẳng thể với tới. Tuy nhiên, hư không chẳng phải thật là Pháp thân Phật , Pháp thân Phật chẳng phải thật là hư không, chỉ tạm mượn hư không rổng rang, thanh tịnh, không một tướng nào mà tạm thí dụ trong chỗ vô tướng cho dễ hiểu để mỗi hành giả hồi quang phản chiếu, tự chiêm nghiệm, tự bừng sáng mà nhận ra Phật tự tâm mà thôi .
Xin người đọc hãy cẩn thận một chút ở thí dụ về chỗ hư không này. Tuy rằng nói không tướng, vô tướng theo chữ nghĩa thì nói là không một tướng nào, nhưng người học Phật chớ vội chấp lầm mà trước vào chỗ "không" của "ngoan không"như mắt trần nhìn thấy hư không. Vì hư không, trong chỗ đặt làm đối tượng của giác quan, và thức ý, thì nó luôn là hư không, luôn là ngoan không; còn Pháp thân tạm ví như hư không, nhưng "tuy hư mà linh", tuy nói rằng "không" nhưng mà lại "diệu hữu" vậy. Tại sao gọi là diệu hữu ? Bỡi tự thể Pháp thân thì thanh tịnh, không đến đi, không còn mất nhưng trong tánh vi diệu, thật là "không-không", khi cần có chỗ đại dụng thì lại diệu động mà hiện tướng độ sanh. Hay nói cách khác, trong thể tánh chơn thật (pháp-giới-tánh) luôn sẵn có chỗ diệu dụng, nghĩa là ngay trong chỗ thanh tịnh (sáng trong vắng lặng) đã sẵn có mầm động mà hiện tướng. Còn hư không thì chẳng được như vậy, vì hư không tự nó luôn là ngoan không. Ðó chính là chỗ vi diệu, nhiệm mầu của Pháp giới tánh, cũng là Phật tánh, tự tánh vậy.
Một hành giả đã thật sự sáng tỏ, an nhiên tự tại, ắc tự nhận ra chỗ thể dụng, cũng là động tịnh nhiệm mầu này ngay trong thực tại của giòng sống mà tánh sáng này luôn tồn tại, không hề mất, nghĩa là nếu người đó không khởi tâm phân biệt, không tùy thuận các căn sanh diệt khởi sanh vọng niệm, trụ chấp pháp trần hư vọng.
Ðây cũng chính là chỗ phải thật tu, công phu miên mật, không tự lìa, nghĩa là không rời chánh niệm, tự dọn sạch các cấu trược dính bám vào thân tâm để luôn sáng soi mà không bị mê lầm nhơn quả. "Hãy giữ gìn", lời của các Thiền-sư ân cần nhắc nhở, chính là giữ gìn chỗ không rời lìa chánh niệm, cũng là Ðịnh vậy.
Nhắc lại, trong phần "Như-lý thật kiến – Thật biết lẽ Như-như", Phật nhấn mạnh: bằng thấy các tướng chẳng phải tướng, tức thấy Như lai, có nghĩa là thân tướng mà đại chúng đang nhìn thấy Phật đó, tuy có trọn đủ mọi tướng tốt đẹp, nhưng cũng chỉ là Báo-thân Phật, có sanh ra và mất đi, còn Pháp thân chơn thật của Ngài thì vốn tự sẵn có, không sanh không mất, thật tướng không tướng, cũng là Pháp-giới tánh . Rõ được chỗ Báo thân Phật, tướng mà chẳng phải tướng, thì cũng rõ luôn Ứng Hoá thân Ngài, từ chỗ Không tướng mà hiện tướng và cũng liền ngay đó rõ luôn tướng chơn thật là Pháp thân Ngài, tướng mà chẳng phải tướng, cũng chẳng phải không tướng.
Tóm lại, ý Thế-tôn nhắc nhở, phải nên tự thấy rõ đâu là tướng sanh diệt, đâu là tướng chơn thật cũng là thật tướng vô tướng, không sanh diệt, cũng là Pháp thân Phật, cũng là Phật tánh, Pháp giới tánh, mà cũng là Phật tự tâm của chúng sanh vậy.
Chỗ này có khác chi Phật nói, các Ông chẳng thể dùng nhục nhãn, chẳng thể lấy tâm phân biệt hay thế trí để thấy biết, mà phải dùng con mắt của chơn tâm, mới thấy được chỗ chơn thật của Như-lai, cũng là lẽ Như của các pháp. Thật hy-hữu!



bullets08.gif - 0.2 K Trang Muc Lục
bullets08.gif - 0.2 K Trang Chính