
4. PHẦN ÐỆ TỨ : DIỆU HẠNH VÔ TRỤ."Phục thứ, Tu-bồ-đề ! Bồ-tát ư pháp, ưng vô sở trụ hành ư bố thí.
Sở vị bất trụ sắc bố thí, bất trụ thinh, hương, vị, xúc, pháp bố thí.
Tu-bồ-đề ! Bồ-tát ưng như thị bố-thí, bất trụ ư tướng.
Hà dĩ cố ? Nhược Bồ-tát bất trụ tướng bố-thí, kỳ phước đức bất khả tư lương.
Tu-bồ-đeà ! Ư ý vân hà ? Ðông phương hư không khả tư lương phủ ?"- "Phất dã ! Thế-tôn !".
"Tu-bồ-đề ! Nam, Tây, Bắc phương, Tứ duy thượng hạ hư không khả tư lương phủ ?".
- "Phất dã ! Thế-tôn !".
"Tu-bồ-đề ! Bồ-tát vô trụ tướng bố thí, phước đức diệc phục như thị, bất khả tư lương.
Tu-bồ-đề ! Bồ-tát đản ưng như sở giáo trụ.4. PHẦN THỨ TƯ : HẠNH MẦU KHÔNG TRỤ
" Lại nữa, Tu-bồ-đề ! Bồ-tát đúng như pháp mà làm việc bố-thí thì nên không có chỗ trụ chấp.
Aáy là chẳng trụ sắc mà bố thí, chẳng trụ thinh, hương, vị, xúc, pháp mà bố thí.
Tu-bồ-đề ! Bồ-tát nên như vậy mà bố thí, chẳng trụ chấp nơi tướng.
Bởi cớ sao ? Vì nếu Bồ tát không trụ chấp nơi tướng mà làm việc bố thí, thì phước đức không thể suy lường.
" Này, Tu-bồ-đề ! Ý Ông nghĩ sao ? Hư không ở phương đông có thể suy lường được chăng ?
- "Bạch Thế-tôn ! Không thể được ạ !".
" Này, Tu-bồ-đề ! Ý Ông nghĩ sao ? Như hư không ở phương Nam, phương Tây, phương Bắc, bốn hướng kế bên và hai phương trên dưới có thể suy lường được chăng ?
- "Bạch Thế-tôn ! Không thể được ạ!".
" Này, Tu-bồ-đề ! Bồ-tát không trụ tướng mà làm việc bố thí , thì phước-đức lại cũng như thế, chẳng thể suy lường được.
" Này Tu-bồ-đề ! Bồ-tát nên theo chỗ dạy đó mà trụ : trụ tâm không chỗ trụ vậy.
Trước hết nên hiểu thế nào là ý nghĩa đích thực của tâm Bố-thí và tâm Truï của hàng Bồ-tát.
Bố-thí, nguyên Phạn-ngữ là Dâna, dịch theo âm đọc là Ðàn-na, là "thí", là hạnh đứng đầu trong "sáu hạnh lớn rốt ráo giải thoát" của Ðại-thừa – tức Lục-độ Ba-la-mật, gồm: Bố thí, trì giới, nhẫn-nhục, tinh tấn, thiền định và trí-huệ giải thoát.
Bố thí có nhiều đường, nhưng tựu trung gồm ba phép chính : Tài-Thí, Pháp-Thí và Vô-Úy-Thí.
Riêng trong kinh này, ý nghĩa của Bố-thí là buông xả, là lìa trụ chấp trên tất thảy các pháp tướng, là vô trụ, cũng là trụ tâm không chỗ trụ, là chơn trụ vậy.
Trụ : là chấp trước; chấp trước vào một trong tất thảy pháp gọi là trụ. Không chấp trước vào tất thảy pháp là vô trụ, là trụ không chỗ trụ, cũng có nghĩa là bố-thí, là buông-xả, là xả. Cho nên, tâm chợt lìa trụ chấp đối với tất thảy pháp, liền mặc nhiên là làm hạnh bố thí, là xả, là trụ tâm không chỗ trụ vậy. Trong kinh Phật có ý dạy, hàng Bồ-tát lớn không khởi tâm trụ chấp vào bất cứ một pháp tướng nào, không trụ chấp vào tất thảy sắc, thinh, hương, vị, xúc, tất thảy các pháp có, cũng như pháp không, thì liền ngay đó tâm thể quảng phát như hư không, chơn thường vắng lặng, cũng là thực-hành hạnh Bố-thí chơn-thật của Bồ-tát vậy.
Mới thoáng nghe qua, chúng ta có cảm tưởng rằng, Bố-thí thì đối lập với ý nghĩa của Truï, nhưng nếu tinh mắt một chút, mới thấy rằng: "Trụ mà đúng như pháp" y như lời Phật dạy, là "Trụ không chỗ trụ"thì nghĩa Trụ này chính thật là Bố-thí, là tâm xả rốt ráo của hàng Ðại-thừa Bồ-tát .
Ðây là phần thứ nhì, một trong hai phần quan-trọng, ách-yếu nhứt của toàn bộ bổn kinh như đã đề cập ở trên : "Hàng phục Vọng tâm và Trụ tâm chơn chánh".
Pháp hành và ý nghĩa đích thực ẩn tàng trong Kim-Cang Kinh không ra ngoài hai việc là Hàng-phục vọng tâm và trụ tâm đúng như pháp, cốt để tự khám phá Phật tự tâm mà cũng là Pháp-giới tánh, Phật tánh, hay Pháp thân chơn thật của Như-lai. Cho nên, với người trí chỉ cần thấu tỏ và thật hành rốt ráo những gì Phật dạy trong hai phần ách yếu này thì Phật tánh liền tự hiển hiện. Tới đó mới thấy rằng những phần còn lại trong suốt toàn bộ kinh cũng chỉ là công việc quảng diễn thêm ý nghĩa của hai pháp này, để cho những người kém trí hơn có cơ thâm nhập Phật tự tâm mà thôi.
Thấu tỏ ý nghĩa và thật hành đúng như pháp những gì Phật đã dạy trong hai phần này, hành giả không lo gì không có chỗ sở đắc chơn thật: Ðắc vô sở đắc, tự một nơi Niết-bàn tại thế, cũng là pháp-hành chơn thật của Ðại Bồ-tát.(Những lời Phật thuyết trong kinh, như suối nguồn trút nước; giòng suối nước từ nguồn trời mênh mang không gốc gát tuông đổ vào khe lạch, dồn vào sông sâu, dẫn xuống hạ lưu, tuông ra cữa biển để thâm nhập một cùng đại hải mà giòng chảy luôn luôn tương tục, không bị gián đoạn. Thế nên việc diễn lời Ngài cũng phải được nối kết liên tục từ trước ra sau, không được để ngắt dứt.
Toàn bộ bổn kinh Kim-cang Bát-nhã được chia ra làm ba mươi hai phần (theo điển-tích thì do Chiêu-Minh Thái-tử của nhà Lương phân định). Nhưng việc chia từng phần ra đó cũng là do người đời sau làm, không ngoài mục đích để cho hành giả trì kinh này được dễ nhớ, dễ học, dễ nắm bắt, chứ pháp ý trong kinh thì như dòng chảy của con sông lớn, tương tục từ đầu đến cuối, khó thể phân chia, không từng gián đoạn.
Từ phần trước đến phần kế tiếp sau không có chỗ tách rời, ngắt đoạn. Thế nên khi đề cập phần này, thì thường có vài đoạn, vài câu cần phải nhắc lại các ý trước, để cho giòng chảy của suối pháp không bị đứt quãng vậy. Có nghĩa là việc giải nghi của Phật trong đoạn này đã xong, đại chúng đã thoã mãn những gì Phật giải thích, nhưng các mối nghi ngờ khác lại chợt xuất hiện trong tâm đại chúng. Phật biết ý đại chúng vừa có chỗ nghi nan, hoặc Ngài phương tiện kích khởi tiếp các mối nghi khác trong lòng đại chúng, để rồi lại nương cái chỗ vừa khởi nghi đó của đại chúng mà giải thuyết tiếp ở phần sau. Cho nên, chỗ khởi nghi lại nằm ở phần trước, chỗ giải thích lại ở phần sau, nên chúng (nghi) phải được nhắc lại để cho pháp ý không bị gián đoạn vậy).Các Tỳ-kheo Bồ-tát từ hơn hai chục năm nay theo Phật, nghe pháp và tu học theo Tiểu-thừa. Do theo pháp nhỏ nên đại chúng đã dùng cái tâm nhỏ mà tu học, tin rằng có sở chứng, sở đắc ở vị lai, nên trong đời này phải lo hành thí.
Với các Tỳ-kheo Bồ-tát, trên thì cầu Thế-tôn thí pháp để mong nương các pháp đó hành-trì chơn chánh mà đắc tứ Thánh quả, chứng Niết-bàn Phật; dưới thì cầu thí thế gian, (xin đủ ăn để bảo-dưỡng cái thân mà tu hành), khiến chúng sanh có cơ may tạo phước điền, gieo thiện nghiệp; đồng thời lại đem pháp hy hữu đã học được giáo hóa lại cho người, để họ biết đường mà đến với Phật pháp, cũng là cách hành thí để độ người. Bỡi giáo hoá chúng sanh là món thí cùng tột to lớn (pháp thí), là cách cúng dường cao cả đối mười phương chư Phật.
Vì tu pháp nhỏ nên tâm đại chúng có chỗ chấp chặt rằng, thật có quả vị để đắc là Phật quả, có chỗ chứng là trụ-vị Niết-bàn và có người chứng-đắc sẽ là các Tỳ kheo trong đạo tràng của Phật.
Chính vì chỗ hiểu lầm đó của đại chúng mà từ lâu nay Thế-tôn cũng rất khổ tâm, bỡi chưa biết cách gì để có thể phơi bày, tỏ lộ, hay chỉ vẽ ra được cái chỗ hoàn toàn chơn thật mà không có chỗ để chỉ, không có chỗ để phơi bày, hầu dẹp nỗi hàm oan của mình trong tâm tưởng đại chúng (đại chúng lầm trụ chấp vào tướng Phật và tướng Pháp); bỡi chỗ này chẳng phải trí tuệ tầm thường mà ai ai cũng có thể nhận ra được chơn-thân của Phật. Bỡi Phật và Ðại-thừa Giải thoát Pháp của Ngài thì hoàn toàn chẳng phải như là đại chúng đã từng nghĩ suy, từng ấp ủ trong tâm tưởng từ bấy lâu nay (vì học Tiểu-thừa).Hôm nay thấy Không-sanh Tu-bồ-đề khám phá ra được chút ít chỗ chơn thật của Thế-tôn, nhưng hãy còn ngờ, nên Ngài rất vui mừng, tán thán Ông hết sức, và Ngài liền nương chỗ thấy biết loáng thoáng còn có chút nghi nan của Ông mà giải nghi giùm cho Ông, cũng là cách tự tỏ lộ nỗi oan của mình trong tâm tưởng đại chúng, cũng là cách phơi bày Pháp-thân chơn thật của Ngài.
Ðây chính là pháp trực chỉ, nhằm dẫn dắt những người căn cơ trí tuệ thâm nhập và khám phá Phật tự tâm vậy.
Thế nên, vừa khởi thuyết Kim-cang Bát-nhã, Phật liền dạy rằng, các Ông trong đại chúng ngày nay nên biết, cần phải dùng cái tâm lớn (Ðại-thừa) mà tu hành, rằng nên khiến tất thảy vạn loại chúng sanh diệt độ ở Vô-dư Niết-bàn, phải thể hiện chơn thật vô-ngã, không ta, không người, không chúng sanh, không thọ mạng, để xứng danh là một Bồ-tát lớn. Ðây là bước đầu Phật dạy các Tỳ-kheo Bồ-tát biết cách "Hàng-phục Vọng tâm", mà cũng là trả lời trực tiếp nửa câu hỏi của Tôn-giả Tu-bồ-đề vậy.
Lời dạy của Phật lúc này, quả thật quay ngoắc một trăm tám mươi độ đối với lối suy nghĩ của đại chúng lâu nay theo Phật học Tiểu-thừa.
Cho nên, khi nghe Phật nói thế, đại chúng liền đó khởi nghi:
- Tự nghi ngờ chính mình khó bề thành Phật. Bỡi cớ sao ? - Vì chúng sanh trước mắt thì hằng hà sa số, sanh sôi nảy nở từng giờ, từng phút; thế thì biết đến chừng nào độ cho xong hết thảy vạn loại chúng sanh ấy vào Vô dư Niết bàn như lời Phật dạy, để rồi sau đó tự thân đại chúng mới được thân chứng Niết-bàn, đắc quả Phật để mà thành Phật? !
- Nghi mình rồi lại trở qua khởi tâm nghi Phật. Trước mắt đại chúng, vạn loại chúng sanh còn sờ sờ ra đó, mà có thấy Phật độ được cho ai vào cõi Niết bàn đâu? Mà chẳng độ được cho ai thì làm sao thành Phật ? Bỡi chính Phật vừa nói "…nhứt thiết vạn loại chúng sanh, ngã giai linh nhập vô dư Niết-bàn nhi diệt độ chi…". Như vậy chẳng lẽ Thế-tôn đang trước mắt đại chúng đó chẳng phải là Phật thật hay sao? Bỡi nếu tin theo như lời Ngài vừa nói, rằng phải nên dùng cái tâm lớn của Bồ-tát mà độ vạn loại chúng sanh vào Vô dư Niết bàn, thì hoá ra Ngài cũng chưa đắc quả Phật, vì đại chúng cũng chưa từng thấy ai được Phật độ vào Vô-dư Niết-bàn cả . Mà không chứng được Niết-bàn, không đắc được quả Phật thì sao gọi rằng thành Phật được ? !
Ðó là cách suy nghĩ cũ mà đại chúng lâu nay theo Phật học các pháp nhỏù, rằng có chỗ trụ-vị, chứng đắc. Ðây chính là nỗi oan của Ngài.
Phải thật sáng suốt mới nhận ra được ý chỉ của Phật: Phật ẩn ý dạy rằng, độ chúng sanh chẳng phải là độ bên ngoài thân, mà là độ chúng sanh trong tâm, rằng nên đưa hết tất thảy những trần lao phiền não cũng là vạn loại chúng sanh sanh khởi từ vọng niệm vọng tưởng vào chỗ tịch lặng an ổn của Niết-bàn tự tâm, nghĩa là tự rời lìa, dứt hết vọng niệm tình tưởng, không cho sanh khởi một niệm tưởng nào. Có làm được như thế cũng là cách tự thể hiện vô ngã, không ta, không người, không chúnh sanh, không thọ mạng, thì mới xứng danh là một Bồ-tát lớn, tự giác giác tha.
Ðại chúng tin nghe Phật thuyết như thế, liền tự hồi quang, trực nhận tự tâm, thể tánh vắng lặng, an ổn, tỏ thông những gì Phật dạy, không còn nghi Phật và nghi mình nữa, nhưng lại khởi nghi đối với Pháp, vì tâm còn chấp tướng.
Các Tỳ-kheo Bồ-tát có chỗ suy-nghĩ : "Mình theo Phật để mong cầu làm việc bố-thí: trên cầu được thí Pháp để tu hành và giáo hóa lại chúng sanh, dưới cầu vật thí thế gian để nuôi thân, khiến chúng sanh gieo được thiện nghiệp, gặt được quả lành, để cuối cùng mình được thành tựu công đức, đắc quả Phật, chứng Niết-bàn. Nay Phật dạy rằng, chúng sanh đều chỉ là tướng của vọng niệm sanh khởi, không thật có, bốn tướng đều không: không người, không chúng sanh, không thọ mạng và cả không ta nữa, thế thì lấy ai bố thí, ai người nhận của thí, lấy thân nào sẽ làm Phật, lấy gì chứng đắc Niết-bàn ?".
Ðây chính là chỗ mà Phật muốn bày phương tiện để dẫn dắt đại chúng tự thấy chính mình có chỗ nghi nan để mà hỏi; bỡi có nghi có hỏi thì Phật mới có cớ để dẫn dụ, mới có thể dùng thiện xảo phương tiện để tỏ bày được chỗ khó chỉ, khó nói, khó tin, khó hiểu, khó lộ bày của Ngài mà cũng là Phật tự tâm của chính mỗi người.
Phật chỉ làm công việc giải gìum các mối nghi ấy cho đại chúng, cũng như khuyến khích họ khởi các mối nghi, rồi bày họ tự gỡ, tự bóc vỏ lần lần từng lớp, từng lớp vô minh che chắn trong tâm của mỗi người, để chậm rãi, tuần tự thể nhận ra tánh sáng luôn tự có sẵn của chính mình.
Bỡi trong pháp chỉ thẳng này, chỉ một phép là đại chúng phải tự thấy có chỗ nghi nan trong đây cần phải làm sáng tỏ, cũng như Phật dẫn dắt trước giùm để khiến họ thấy có chỗ phải sanh nghi mà hỏi, nhiên hậu Phật mới chỉ bày để đại chúng tự phá cái nghi trong tâm trí của họ, cũng là cách đưa họ ra khỏi cái tâm nhỏ của Tiểu thừa còn trụ chấp trong sắc tướng "có chỗ chứng, có quả đắc, có người chứng đắc"mà khiến vào cái tâm lớn của Bồ-tát, hầu có cơ thâm nhập Ðại-thừa Chánh pháp Giải thoát.
Thế nên, Ngài nói:
"Bồ-tát mà đúng như pháp để bố thí thì không có chỗ trụ chấp.
Ấy là chẳng trụ vào sắc mà bố thí, chẳng trụ chấp vào thinh, hương, vị, xúc, pháp mà bố thí. Bồ-tát nên như vậy mà bố-thí, chẳng trụ chấp vào các pháp tướng".Ðây là bước khởi đầu Phật dẫn dắt đại chúng hướng đến đích, là bày ra được chơn Phật, mà cũng chính là tự Phật của mỗi người, hoàn-toàn khác hẵn với lối nghĩ suy mà lâu nay đại chúng đã y-cứ pháp Tiểu-thừa mà tu, nên có sự hiểu biết sai lệch về Pháp-thân chơn thật của Ngài.
Tới đây có thể có người (trong chúng ta ngày nay) thắc-mắc :"Thế tại sao lúc mới khởi đầu chuyển Pháp-luân, Phật không thuyết ngay Ðại-thừa chánh-pháp Giải-thoát mà chỉ riêng thuyết Tiểu-thừa, để ngày nay đại chúng rành tu theo Tiểu-thừa rồi, thì Ngài mới thuyết Ðại-thừa, khiến họ phải hoang mang, khởi tâm nghi nan, lo lắng ?"
Thật ra chẳng phải mới lúc đầu Phật không thuyết Ðại-thừa Giải thoát môn.
Căn cứ theo khoa giáo năm thời kỳ ở Tông Thiên-Thai (Thiên-Thai Tông, ngũ thời giáo) thì trong tuần ba bảy, hai mươi mốt ngày ngay sau khi vừa đắc thành Vô-thượng Chánh-đẳng-giác, chưa lìa đạo tràng Bồ-đề, với pháp-thân Tỳ-lô giá-na, Phật đã tuyên thuyết Hoa-nghiêm cho mười phương chư Bồ-tát chứng giải thoát môn rồi.Tuy nhiên, sau đó Phật nhập định tam-muội và liền có nghĩ-suy đại-khái : Giáo-pháp của Như-lai thì thậm thâm vi diệu, cùng tột cao sâu, khó tin, khó nghĩ, khó nói, khó lãnh hội. Chỉ có bậc căn cơ thiện trí, đại phước đại đức mới có thể thấu tỏ được Ðạo của Như-lai mà thôi.
Còn chúng sanh ở cõi này, tâm trí hẹp hòi, độn căn, chậm lụt; phước bạc, đức thiểu, nghiệp duyên đen đủi, lại nặng ngã chấp; thân tâm luôn mắc-kết với tham dục, sân si, tà kiến. Ðã như thế thì với cái trí nghèo nàn, nhỏ mọn kia làm sao đủ căn duyên để tin nhận, đủ phước đức để lãnh hội giáo pháp của Như-lai được. Thật là uổng công vô ích. Do đó, Phật đã muốn nhập diệt Niết-bàn.
Tuy-nhiên, ngay lúc ấy một vị trời Phạm-Thiên thâm cảm tâm ý của Thế-tôn, sợ rằng nếu Ngài vào Niết-bàn rồi, thì tất thảy chúng sanh và ngay cả chính Ông ta cũng mất phần lợi lạc, không được trực tiếp nghe pháp giải thoát hy hữu, muôn đời có một, nên vị Phạm-Thiên này mới đến trước Thế-tôn, chấp tay đảnh lễ, khẩn cầu Phật nên y theo đại nguyện của nhiều đời làm Bồ-tát khi xưa mà trụ thế để thuyết pháp cứu độ chúng sanh.Vì lòng từ thương khắp chúng sanh, không nỡ để chúng sanh phải mãi mãi ở trong mê tối, nên Phật hứa khả, khởi chuyển pháp luân, ròng rã bốn mươi chín năm trường đi khắp đó đây mà hoằng dương Chánh pháp Giải thoát.
Vì thấy chúng sanh cõi nầy căn trí thấp kém, nghiệp nặng quả xấu, cũng như ø chưa đủ tín tâm, tín đức để có thể lãnh hội Ðại-thừa Chánh pháp Giải thoát một cách trực tiếp, nên trước tiên Phật thuyết Tiểu thừa.
Tiểu thừa là cỗ xe nhỏ, là phương tiện nhỏ, giúp cho đại chúng trước tiên tin nhận và hành trì các pháp nhỏ, trong cái tâm nhỏ (có hạn lượng) một cách kiên cố và thuần thục trước đã; đợi chừng nào tín tâm, tín đức của họ thật sự kiên cố, sâu vững, và thuần thục, đủ sức kham nổi các pháp Ðại-Giải-thoát, cũng như đợi đến khi nào cơ duyên chín muồi thì Phật mới thuyết Ðại thừa.
Nay cơ-duyên đã đến, được Tôn-giả Tu-bồ-đề có chỗ thấy biết chút ít mà khải thỉnh, nên Ngài mới tuyên thuyết Kim-cang Bát nhã, môn Ðại thừa giải thoát tối vi diệu, là điều hoàn toàn hợp lý vậy.
Do trước đây đại chúng đã dùng cái tâm nhỏ, học các pháp Tiểu-thừa, nên nghĩ rằng thật-hành hạnh bố thí là để tạo phước điền, cầu thiện báo ở đời vị lai, nên khi bố thí thì ắc phải có người hành thí, có người nhận thí và có vật thí. Mà theo cách nghĩ suy ấy thì trong việc bố thí này, người hành thí ắc tích góp, dung chứa được phước đức cho đời sau, cũng là cách vun bồi, làm cho lớn thêm quả báo, chỗ sẽ có sở chứng, có sở đắc ở vị lai.
Nay Phật lại dạy, phải nên thể hiện cái tâm lớn của Bồ-tát: không ta, không người, không chúng sanh, không thọ mạng mà làm việc Bố-thí, nên đại chúng liền có chỗ nghi nan : nếu tất thảy chúng sanh đều không, thì Bồ-tát thí cho ai, ai là người nhận của thí, lấy ai hành thí, lấy ai chứng Niết-bàn, lấy ai đắc quả Phật ?
Biết được tâm ý đại chúng có chỗ nghi nan, rằng còn có tâm tưởng trụ chấp vào tướng của chúng sanh để có thể bố-thí, nên Thế-tôn mới nói :
"Bồ-tát đúng như pháp thì nên không có chỗ trụ mà làm việc bố-thí. Nghĩa là chẳng trụ sắc mà bố thí, chẳng trụ thinh, hương, vị, xúc, pháp mà bố thí.
Bồ-tát nên như thế này mà bố-thí : Chẳng trụ chấp vào tướng".
Thế nào là hàng Bồ-tát nên đúng như pháp mà làm việc bố-thí?
Bỡi tướng các pháp vốn thật "không tướng", chẳng chỗ nương vin, không nơi bám víu, nên lòng Bố-tát cũng phải thể hiện đúng như "thật tướng không tướng" của các pháp mà làm việc bố-thí : không có chỗ để trụ chấp. Không trụ chấp vào tất thảy hình danh sắc tướng, không trụ chấp vào tất thảy hơi hương, mùi vị, không trụ chấp vào tất thảy xúc, cảm, dục, tình, vào hơn thua tính toán, phải trái, suy lường vv.. và vv…, nói chung là tất thảy các pháp tướng có sanh có diệt.
Vì cớ sao ? Vì tất thảy các pháp trần ấy đều là huyễn tướng, vô thường, biến hiện, mất còn trong nhơn quả sanh diệt, không phải thật có. Cho nên làm việc bố thí mà còn trụ nơi tướng của các pháp trần, thì làm sao tránh khỏi phải cùng sanh diệt theo pháp trần. Nên nói, phải đúng như pháp mà bố thí, nghĩa là phải dùng thật tướng "không tướng" của pháp mà bố thí , cũng là hành thí vô tướng : không có người thí, không người nhận thí, không vật thí.
Bỡi cớ sao ? Như thân tâm chúng sanh do sắc-uẩn giả hợp mà thành. Không có sắc-uẩn giả hợp thì không thành chúng sanh. Nhưng thật tướng của sắc-uẩn vốn dĩ huyễn hóa, thật tánh chúng vốn dĩ là không. Cùng tột tánh tướng của tất thảy vạn pháp vốn dĩ vô ngã.
Thế nên Phật mới nói, "Bồ-tát ư pháp - Bồ-tát đối các pháp" là Bồ-tát nên thể hiện tâm vô ngã, thể hiện tự tâm đồng một chỗ "Vạn pháp thật tướng không tướng", cũng là tâm thể chơn không", để "nên không có chỗ trụ" mà làm việc bố-thí vậy.
Có nghĩa là Phật phá chỗ chấp vào tướng của đại chúng trong khi làm việc bố thí.
Phật nói tiếp cho thật rõ nghĩa hơn, nghĩa là nên không trụ chấp vào bất cứ một tướng nào : "không trụ chấp vào tất thảy sắc, thinh, hương, vị, xúc và tất thảy các pháp tình tưởng, suy lường vv…". Một khi Bồ-tát không trụ chấp vào bất kỳ một pháp trần nào thì ngay đó, tâm liền tỏ lộ như hư không, chẳng gì vướng víu, dính mắc, mọi pháp đều tự "Như" trong tâm thể sáng trong,vắng lặng. Ðến đây thì pháp thân chơn thật cũng đã dần dần hé lộ.
Cho nên, Phật dạy đại chúng không nên giữ cái tâm nhỏ theo quan niệm Tiểu thừa mà làm việc bố thí như trước kia nữa, vì Bố-thí của Tiểu thừa vẫn còn dính mắc vào trần tướng. Mà tâm bố thí hễ còn có chỗ dính mắc vào trần tướng thì còn bị trói buộc vào đến đi, biến hiện của nhơn quả sanh diệt vậy.
Cho nên, đại chúng giờ này cần phải phát tâm Ðại-thừa, làm Bồ-tát với một cái tâm lớn, thật quảng đại, vượt khỏi chính mình (tự thể vô ngã). Ẩn ý Ngài dạy, bố thí mà còn thấy, còn biết, còn suy lường trong chỗ hữu hạn như trước đây (có người thí, vật thí, kẻ nhận thí), thì việc thí nầy chỉ đem lại chút ít lợi lạc trong chỗ phước-đức hữu lậu của nhơn quả mà thôi, không bằng pháp bố thí "tam-luân-không"của hàng Bồ-tát có tâm lượng rộng lớn: bố-thí mà tự chẳng thấy có người cho, chẳng thấy có người nhận và cũng chẳng thấy có vật cho nhận. Bố thí mà được như thế thì phước đức nầy to rộng vô lượng vô biên như hư không, chẳng thể nghĩ bàn. Ðó là phước đức vô lậu, siêu phàm, vượt nhơn quả, không chi sánh bằng.
Tại sao nói bố thí mà trụ tướng thì phước đức nhỏ nhoi, ít ỏi. Vì bố thí mà trụ tướng, là chỗ hành thí có hạn lượng, nên chỉ được hưởng phước báo ở cõi nhơn-thiên. Mà phước báo nhơn-thiên cũng lại có hạn lượng, cũng còn dính mắc trong nhơn quả, tuy rằng đó là thiện nghiệp; nhưng đến khi hưởng hết phước thì vẫn phải chịu luân hồi. Nên nói là nhỏ nhoi, ít ỏi.
Bằng ngược lại, bố-thí mà không trụ tướng, tuy thật tâm không cầu phước báo (tự thể hiện vô ngã), nhưng công đức lại tự nhiên thành tựu. Công đức này rộng lớn như hư không, không thể suy lường tính toán nổi, vượt thoát nhơn quả, cho nên mới nói là không thể nghĩa bàn.
Chúng tôi tạm cưỡng thí dụ cho chỗ hành thí tam-luân không. Ví như chúng ta bất chợt đối-diện một người vô gia cư, đang đói rét. Tự tâm chúng ta thấy thương đồng loại, nên tức thì đem cơm áo ra chia xẻ cho người ấy. Khi đó có hai tình huống ẩn tàng sâu kín trong tự tâm, hoặc hiện hoặc không hiện, hoặc trói buộc hoặc không trói buộc:
* Hoặc là tự nghĩ : "mình nên làm và cũng đã làm được việc phước thiện nầy, ngày sau ắc nhờ nhơn duyên ấy mà mình được hưởng phước đức".
Chắc chắn là được hưởng phước rồi, vì soi gương ắc phải thấy bóng. Không hưởng phước trong hiện tại ắc được dành lại mai sau, bỡi gieo nhơn nào thì gặt quả nấy. Tuy nhiên phước này chẳng rộng lớn, vì còn là phước hữu lậu trong nhơn quả, bởi trong pháp bố thí này thật sự còn thấy có người cho, người nhận và vật cho nhận, nghĩa là còn có tướng ta, tướng người, tướng chúng sanh,tướng thọ mạng, còn lưu chuyển trong chỗ sanh tử luân hồi, còn vướng mắc trong nhơn quả nhị nguyên.
* Hoặc là cũng sự kiện bố-thí ấy mà khi đem cơm áo cho người, tự tâm không khởi một niệm nào về việc bố thí để được phước đức gì cả; tâm như hư không, cứ thấy người đói rét thì cho ăn cho mặc; ngay đó, tịnh không thấy có người bố thí là ta, không thấy có người được bố thí là kẻ cơ hàn kia, cũng như không thấy có cơm áo nào của ai cho ai nhận nữa cả, mà lúc ấy như chính ta đang đói rét, như thường ngày chính ta đang bưng bát cơm ăn để chống cái đói của xác thân, đang cần mặc áo để chống cái lạnh của giá rét; ăn cho no để dưỡng thân tu hành mà không cầu phân biệt dở ngon; mặc cho ấm thân mà không đòi hỏi tốt xấu. Cái sống thật bình thường trong một cái tâm "Không tâm, vô phân biệt" và chỉ vậy thôi, ngoài ra chẳng có gì nữa cả. Làm được như vậy thì ta cũng được phước-đức. Tuy-nhiên, cái phước đức này rộng lớn vô lượng như mười phương hư không, siêu phàm, vượt nhơn quả, là vô lậu phước, vì tất thảy không trụ nơi tướng: tướng ta, tướng người, tướng chúng sanh, tướng thọ mạng. Bỡi còn trụ chấp sắc tướng là còn trói buộc trong chỗ nhơn quả, còn biến hiện, mất còn, sanh diệt theo nhơn quả.
Hãy thử nghĩ xem, khi ta bưng cơm cho người mà như cho chính mình thọ bát cơm đó, người ăn như ta ăn trong cái tâm vắng lặng, không khởi một niệm nào: không người cho nhận, không phân biệt dở hay ngon, mỹ vị hay trai lạt, chỉ biết là vật thực cần ăn để bụng khỏi cồn cào vì đói ngay trong lúc đó mà thôi; tự hồi quang phản chiếu tâm mình lúc ấy, thật thấy còn có tướng nào trong tứ tướng hiện ra ở chỗ này chăng?
Làm được như thế thì chỉ sát-na, ngay đây dòm lại thấy liền cái kẻ đang bưng bát cơm ăn kia kìa? Chỉ ngay đó, biết rõ, thấy rõ như thật kẻ đang ăn kia là ai, ngay chỗ này tự dòm lại cũng biết thật mình là ai, liền tự khóc cười, sống chết một chỗ, cùng vạn loại chúng sanh không hai, không khác!
Ðây chính là chỗ thọ thực như pháp mà Ðại-sĩ Duy-ma-Cật ân cần nhắc nhở Tôn giả Tu-bồ-đề trong kinh Duy-ma vậy.
Chỗ này làm chúng ta nhớ lại mẫu đối đáp của Tuệ-Trung Thượng-Sĩ với em ruột Ngài là Thiên-Cảm Thái hậu, mà trong đây Ngài phương tiện để trực-tiếp mở lối cho Bà. Tưởng cũng nên đưa vào đây để góp thêm phần sáng tỏ trong pháp bố-thí không trụ tướng của Kim-cang.
Thượng-Sĩ vào cung thăm em mình là Thiên-Cảm Thái-Hậu; Thái-hậu vui mừng mở tiệc khoản đãi. Trong tiệc gặp thịt, Ngài cứ ăn.
Thái-hậu thấy lạ hỏi :- Anh tu Thiền mà ăn thịt à ? Thế thì làm sao thành Phật được?
Thượng-Sĩ cười đáp : - Phật là Phật, anh là anh. Anh chẳng cần làm Phật, Phật chẳng cần làm anh. Thái-hậu không nghe cổ-đức nói :"Văn-Thù là Văn-Thù, Giải-thoát là giải thoát đó ư ?".
Chỗ không tâm, vô phân-biệt trong việc ăn thịt của Ngài Tuệ-Trung ở đây chính là cách thể-hiện một cách trực tiếp và rốt ráo pháp "hành-thí vô tướng" cốt để khai thị cho người đối diện là thí giả Thiên-cảm Thái-hậu.
Ngài đã tự thể-hiện "Bồ-tát ư pháp – Bồ-tát đối các pháp, tất thảy không tướng" mà "Ưng vô sở trụ – nên không trụ chấp vào tất thảy các tướng", không người nhận thí, không có vật thí để chỉ cho Thái-hậu nhận ra được chính bà trong chỗ hành thí vô tướng kia, khi mà Ngài gặp gì ăn nấy,không phân biệt chay mặn. Có thấy được chỗ vô tâm, vô phân biệt này thì thấy được thật ai đang ăn, thật người nào đang thọ vật thí từ Thái-hậu, đâu là thật tướng của vật thí. Chỉ sát-na chợt nhận ra chỗ này thì người hành thí ắc bất giác dòm lại mà khóc cười, liền tự nhận ra thí giả thật là ai trong đây? Hành-động bất đắc dĩ đó của Ngài Tuệ-Trung không ngoài mục-đích dùng làm phương tiện đánh đổ cái tâm chấp tướng cố hữu của ngưới đối diện, mà ở đây là Thiên-Cảm Thái-hậu, em Ngài. Thật ra nếu Thái-hậu căn-cơ, chỉ cần thoạt nhìn thấy anh mình gắp thịt ăn ngon lành, thì ngay sát na trong chỗ ấy có thể phá nát tất cả các kiến chấp trói buộc tự tâm xưa nay, tự đánh đổ chính mình mà vượt thoát, thăng hoa. Nhưng không tự làm được như vậy nên bà mới hỏi Ngài "sao anh tu Thiền mà còn ăn thịt?", tức là đã tự đánh mất đi cơ hội ngàn vàng. Ðể trả lời, mà cũng là cách trợ lực cho bà một lần nữa tự phá mà thoát mạnh mẽ hơn, Thượng-sĩ đã phơi bày hết ruột gan, đem Phật, đem Thánh để cả trên bàn; trong ba cái "không" của tam-luân-không, Thượng-Sĩ đã tự mình thể hiện được hai, còn một thì dành riêng, đặt để sẵn cho người đối diện, nhưng tiếc thay Thái-hậu không nương được chỗ đó mà nhận ra chính mình, vì trong Thiền-sử tới đó thì không thấy nói gì nữa cả. Thượng-Sĩ thật là bậc Ðại-Bi, Từ-tâm vô lượng!
Chỗ này chúng ta nên lưu ý một chút. Các Ðiều-Ngự tử trẻ chớ nên vì ngã mạn mà lấy mẫu chuyện trên để bắt chước Thượng-Sĩ, gặp gì ăn nấy, không kể chay mặn, nếu chưa tự biết thật mình là ai, và sau đó nếu không vì lòng từ thương xót chúng sanh, muốn độ người mà thể hiện cung cách như Ngài. Ðây chỉ là việc làm bất đắc dĩ trong nhứt thời của Thượng-Sĩ, không ngoài mục đích khai thị cho người mà thôi.
Bằng ngược lại, nếu tâm còn chưa tự sáng, còn chưa tự vượt thoát chính mình, còn tham say dục lạc, mà thấy người dọn chay mặn, gặp gì cũng ăn, rồi quấy quá cho rằng, mình thể hiện vô vi, vô chấp, tự thõng tay vào chợ, hoặc làm theo hạnh Bồ-tát này, Thiền-sư nọ, là tự sái, là dối lừa tự Phật. Nói như ngài Triệu-Châu, là "Biết mà còn cố phạm", ắc tự trước tội vào thân vậy. Bỡi người nào đã thật sự tỏ ngộ, không lầm nhơn quả, tự tại an nhiên, đến đi vô ngại, tự biết các việc mình làm không ngoài mục đích tự lợi, lợi tha như hành động vừa nêu của ngài Thượng-Sĩ, lại là một việc khác.
Hãy cẩn thận – xin chớ nhận lầm các pháp phương tiện.
Nhắc lại một lần nữa về nghĩa "bố-thí" trong kinh. Bố thí trong đây chẳng phải chỉ có một nghĩa đen là thí, là cho nhận mà bao gồm tất cả các thiện pháp, đặc biệt nhấn mạnh đó là tâm buông xả, vô sở trụ, vô sở đắc.
Một hôm Giải-Không Tu-bồ-đề ngồi tham thiền trong một thạch động. Thình-lình hoa báu từ trên trời rơi xuống khắp mình, đồng thời chư Thiên hiện xuống, đứng trong không trung, chấp tay tán thán Tôn-giả:
- Chúng tôi khen ngợi Tôn-giả Tu-bồ-đề khéo thuyết Bát-nhã.
Ngài tự đáp thầm :
- Ta chưa từng thuyết một chữ về Bát-Nhã, sao các Ông lại nói ta có thuyết?
Chư Thiên liền đáp :
- Tôn-giả không một lời thuyết Bát-nhã, chúng tôi không nghe thuyết Bát-nhã, (nhưng cùng gặp nhau) ở chỗ thậm thâm cùng tột "Không không-tam-muội", đó chính là chơn thuyết Bát-nhã .
Cho nên chúng tôi tán thán Tôn-giả là thiện-thuyết Bát-nhã vậy.
Chính ngài Tu-bồ-đề trong đây đang thật hành rốt ráo hạnh thí pháp cực diệu của "vô trụ tướng tam luân không bố-thí" vậy.
Thế nên, Phật dạy chúng ta khi bố thí (cũng có nghĩa là buông xả, là trụ tâm không chỗ trụ) mà tâm không trụ chấp vào sắc tướng thì phước đức rộng lớn vô lượng vô biên, thênh thang rổng rang như mười phương hư không (4 Phương Ðông, Tây, Nam, Bắc, 4 hướng kề bên và trên, dưới) là nói tới chỗ vi-diệu không thể nghĩ bàn, chỗ sẽ bắt gặp chính mình là nó, nghĩa là nương pháp hy hữu này mà nhận ra Phật tự tâm vậy.
Không trụ tất thảy sắc bố thí, không trụ tất thảy thinh, hương, vị, xúc, và tất thảy các pháp có, không, tình tưởng, suy lường vv… mà bố thí, là không chấp vào sáu căn, sáu thức trong sanh diệt, không khởi tưởng vọng niệm chạy theo trần cảnh huyễn giả khi thật hành hạnh bố thí của Bồ-tát, cũng là trụ tâm không chỗ trụ, thì tâm thể liền tự như, sáng trong bất động.
Chẳng nói riêng gì hạnh bố-thí, mà các hạnh khác cũng vậy. Thí như trì giới và nhẫn nhục chẳng hạn. Lòng Bồ-tát khi thật hành hạnh trì giới hay nhẫn nhục mà còn khởi tâm chấp trước: thật ta còn thấy biết có chỗ trì giới hay chẳng trì giới, là đã tự có chỗ chấp trước vào pháp. Bằng ngược lại, lòng Bồ-tát tự thể hiện vô vi thanh tịnh, chẳng khởi sanh một niệm chấp trước, không khởi vọng tưởng có trì hay không trì, vì tự tánh vốn sẵn tự như, thì liền thấy biết như thật chỗ trì giới hay nhẫn nhục này cũng chẳng là pháp thật, không chút dính dấp tới tự tánh. Cùng tột ý nghĩa của nhẫn hay giới trong đây cũng chỉ là hạnh xả.
Aån ý Phật dạy rằng, bố thí mà còn trụ chấp vào tướng thì phước-đức chẳng bao nhiêu; nói không nhiều bỡi vì việc thí này còn vướng mắc trong chỗ hữu hạn của nhơn quả nhị nguyên vậy.
Thế nên Phật nói,không trụ tướng mà hành thí, cũng là buông xả, không trụ tất thảy tướng và các pháp trần, thì phước đức này rộng lớn vô hạn lượng như mười phương hư không, nghĩa là to lớn lắm, không thể suy lường.
"Bồ-tát đãn ưng như sở giáo trụ - Bồ-tát nên như chỗ dạy đó mà trụ" là nên trụ tâm không chỗ trụ, nghĩa là tâm không dính mắc với bất cứ một pháp nào, tâm tự như-như, rổng rang trong sáng, đó mới đích thực là an trụ được tâm vậy.
Tới đây là kết thúc câu trả lời trực tiếp của Thế-tôn đối với câu hỏi của Không-Sanh Tu-bồ-đề, cũng là cốt lõi của toàn bộ bổn kinh Kim-Cang Bát-nhã : "Hàng phục vọng tâm và Trụ-tâm không chỗ trụ".
Phật có ý dạy rằng, trước hết các Bồ-tát lớn nên hàng phục vọng tâm của mình bằng cách tự thể hiện chơn thật vô ngã, không ta, không người, không chúng sanh, không thọ mạng, không khởi sanh một niệm tưởng nào, ngay đó quán chiếu tự tâm, tự thể liền Như, an ổn, sáng trong, chơn thường vắng lặng. Ðược như thế rồi, liền tự "đang-là" trong hiện thực tuyệt đối, tự tại an-nhiên, không khởi tâm trụ chấp vào bất cứ một pháp tướng nào, trong cũng như ngoài thân, cũng có nghĩa là sống chơn thật "một" tự nhiên như nhiên với cái cái tâm thể trong sáng như như chơn thật ấy mà không hề nhiễm bất kỳ một pháp trần nào, không để một pháp trần nào lôi kéo, cuốn hút; ngay chỗ sống trong "đương niệm" ấy, tự thân gột sạch, tẩy rửa các lậu hoặc, thấy rõ như thật tánh tướng các pháp mà không lầm nhơn quả, thân chứng Hữu-dư Niết-bàn, tùy duyên mà hành Bồ-tát đạo, để cuối cùng đến chỗ rốt ráo thanh tịnh, giải thoát luân hồi.
Người căn cơ, thượng trí học pháp Bát-nhã Kim-Cang tới đây thì lãnh hội ngay ý chỉ của Thế-tôn mà tự thân hành trì như pháp. Còn người thấp trí, chưa tự thấu tỏ thì cần phải học thêm những lời Phật giảng dạy cặn kẽ hơn ở những phần tiếp theo cho đến hết bộ kinh này vậy.
Trang Muc Lục
Trang Chính