Cái nhìn về phương hướng
của cõi Tịnh Ðộ *Thích Phổ HuânNương vào Phật lực trong giáo pháp của Phật Thích Ca, người Phật tử còn được Phật dạy nương vào ánh từ quang của Phật Di Ðà để cầu sanh về cõi Tịnh Ðộ. Ðến đây có người lại nghi ngại cõi Phật A Di Ðà có thật hay không.Hay chỉ là cõi Thiên đường, hoặc cõi trời được phóng đại ra? Từ đây mới thấy phương pháp tu nương tha lực dễ tu mà khó hiểu là vậy. Thật sự việc nghi ngờ này cũng phải, vì đâu có pháp nào dễ hiểu lại dễ tu! Cho nên việc khó hiểu cũng là thường. Ngọc quý dễ gì mà lấy!Bây giờ đặt lại nghi vấn để phá mối nghi. Nếu không tin cõi Phật A Di Ðà mặc nhiên không tin ba kinh đại thừa: Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ và A Di Ðà và đã không tin ba kinh này thì trong các kinh Ðại Thừa nào có đề cập đến cõi Cực Lạc của Phật A Di Ðà cũng đều không tin luôn; vậy thì niềm tin về tam tạng kinh điển của Phật còn lại rất ít. Nhưng một điều rất quan trọng mà người không tin cõi Phật A Di Ðà ở đây cần nên lưu ý, bởi có một kinh vô cùng tối thượng có đề cập đến cõi Phật A Di Ðà đó là kinh PHÁP HOA (sẽ dẫn chứng sau).
Như đa số người tu Phật (theo Bắc tông) đều nghe qua kinh này. Pháp Hoa (tiếng gọi tắt của Diệu Pháp Liên Hoa) là bộ kinh nổi tiếng là huyền diệu nghĩa lý, đã được truyền tụng hơn ngàn năm. Không những các vị tu Tịnh thường tụng mà đến cả những vị tu về thiền cũng thờ kính"Hai thiền sư Bảo Tính và Minh Tâm dưới đời Lý (khoảng 1034) suốt 15 năm trì tụng kinh Pháp
Hoa chưa từng trễ nãi." (1)
Kinh Pháp Hoa là kinh được nhiều học giả trí thức ca ngợi tán thán, đây là một vài lời của các vị thức giả nhận xét như sau:
* "... kinh Pháp Hoa là giáo pháp tột cùng (tối thượng thừa, tôn vô quá thượng) bày rõ cái "Chân", đả phá cái "Vọng" . Ðó là một trái bom nguyên tử mà Phật đợi đến sau 40 năm dìu dắt đệ tử đến chỗ thuần thục mới dám đem ra ném, và sau khi bày điềm lạ để thức tỉnh tất cả, để cho tất cả đừng tin lục căn,lục thức nữa. Quả bom đó là Chân lý tuyệt vời, là Tri kiến hay Trí tuệ (Sagesse) của Phật, là Lý Sự không hai." (2)* " Một bổn kinh rất to tát trong đạo Phật. . ." (3)
"Một quyển kinh siêu việt vĩ đại nhất của Phật giáo ..." (4)
Phần lịch sử của kinh các học giả, giáo sư thiết định được truyền vào Trung Hoa vào đầu thế kỷ
thứ 5 do Ngài Cưu Ma La Thập (Kumarajiva). Với người tây phương kinh Pháp Hoa cũng được
biết đến,-"Diệu Pháp liên Hoa Kinh bằng chữ Pháp (Lotus de la bonne Loi) là một áng văn rất có giá trị trong văn chương chữ Pháp, quyển này do ông E. Burnouf dịch từ chữ Phạn ra, in tại Paris năm 1852..."(5)
-Bản Anh văn có tên The Lotus of the True Law, dịch giả H. Kern. Oxford University ấn hành năm 1884 (as volume 21 of Sacred Books of The East edited by F.Max Muller).
Và việc đáng lưu tâm ở đây, để thấy rằng kinh Pháp Hoa thật sự do kim ngôn của Phật nói ra, la
ø lời phát thệ của Ngài Cưu Ma La Thập (dịch giả kinh Pháp Hoa) trước khi thị tịch, muốn lưu lại cuống lưỡi không cháy sau lễ trà tỳ để minh chứng những kinh điển mà Ngài đã bỏ công dịch thuật không sai lời Phật dạy. Quả việc đúng như lời Ngài mong ước cũng như bao nhiêu đồ đệ hàng hậu học vui mừng, khi thiêu cuống lưỡi của Ngài vẫn còn nguyên vẹn; chứng tỏ kinh Pháp Hoa quả thật không hư dối, bịa đặt. (xin xem rõ thêm ở sách "Nhị Khóa Hiệp Giải" của Hòa Thượng Khánh
Anh dịch, tr 262 Phật Học Viện Quốc Tế tái bản 1989)Lấy kinh Pháp Hoa để giải nghi cõi Cực Lạc A Di Ðà là vì ở phẩm 23 (Dược Vương Bồ Tát Bản Sự) Ðức Phật Thích Ca đã đề cập đến cõi Cực Lạc "Sau khi Như Lai diệt độ, năm trăm năm sau, nếu có người nữ nghe kinh điển này, đúng như lời mà tu hành, thời khi ở đây chết liền qua cõi An Lạc, chỗ trụ xứ của đức A Di Ðà Phật cùng chúng Bồ Tát vây quanh, mà sinh trên toà báu trong hoa sen." (6) .Lại một điểm xác định thêm sự thật là tiểu kinh A Di Ðà cũng do Ngài Cưu Ma La Thập dịch. Vậy thì lời Phật dạy có thế giới Phật A Di Ðà từ bộ kinh (Pháp Hoa) vĩ đại nhất đã xác nhận sự thật một cách tuyệt đối.
Nhưng rồi sao, một số nhà nghiên cứu Phật học vẫn hoang mang, sự hài lòng của họ vẫn còn lấp lửng. Họ đòi phải giải quyết sao cho rành mạch, cụ thể hiện tượng thế nào, để hoàn chỉnh niềm tin cõi Cực Lạc cho đến một trăm phần trăm! Họ cho rằng theo địa lý, theo thiên văn triết học v.v...cõi Cực Lạc A Di Ðà không có căn cứ, vì phương hướng mà kinh nói về phía Tây không nhất định là cố định một chỗ, nên không thể tin được. Ðây là một nghi ngờ lớn và từ đây làm mất đi niềm tin sinh ra nhiều nghi ngờ khác. Ở đây chỉ lấy điểm nghi này, mong tìm lại sự thật, còn những nghi ngờ khác
không thể thỏa mãn. Lý do một khi đã không tin ngay căn nguyên nguồn gốc thì nhánh ngọn, chi tiết làm sao tin được!Phật dạy về phương Tây có thế giới Cực Lạc, ta nên hiểu rằng, Phật dạy như vậy là phương tiện tùy duyên trong hoàn cảnh không gian ở xứ Ấn Ðộ. Chọn tựu điểm, phương hướng đưa vào bài pháp ngay thời đó cho đệ tử dễ nhận ra mà thực hành. Thường thì các bài pháp không chính thức (Phật nói pháp trong những lúc không có sự thưa thỉnh, lập tòa thuyết giảng) Phật hay dựa vào hiện cảnh đang xảy ra trước mặt để lấy thí dụ giảng dạy. Do thế ta phải gắng hiểu xa hơn. Hảy hiểu rằng một bậc Ðại Giác như Ngài không có sự gò bó, câu nệ nào khi hành xử, huống chi pháp Ngài dạy là vạn pháp, đâu đâu cũng có thể là diệu dụng nhiệm mầu. Người phàm phu ở cõi uế độ này còn hiểu phương hướng, thời gian, không gian là do chúng ta tạm an lập trong một phạm vi của một tiểu thế giới (thái dương hệ) thì lẽ nào bậc Ðại Giác lại không hiểu việc này để cho chúng ta thẩm định sửa sai! Con người còn hiểu, thật ra chẳng có phương hướng, thời gian chi cả nếu phóng cái nhìn thấy rằng vũ trụ vô cùng vô biên. Vậy thì lấy đâu để làm chuẩn đặt ra phương hướng! Trong kinh đã từng dạy đức Phật với huệ nhãn đã nhìn thấy TẤT CẢ (bậc Nhứt Thiết Chủng Trí).
Cũng nên hiểu thế giới Cực Lạc được trang nghiêm hình thành là do ánh sáng quang minh vi diệu từ bi của đức Phật A Di Ðà chiêu cảm nên, và vì là chiêu cảm nên không thể vướng bận một tác lực nào và cũng không thể nghĩ bàn được nói gì là phương hướng! Như khi một người chết đi tâm thức của họ sẽ chiêu cảm theo nghiệp quả họ gieo để sanh vào một thế giới tương ứng, thì cũng chẳng biết gì phương hướng. Ví dụ dễ hiểu hơn, một người ở Hoa Kỳ muốn hồi tưởng lại kỷ niệm, cảnh trí ở Việt Nam mà người này đã trải qua, người này chỉ cần định trí hồi tưởng lại bằng tư tưởng thì cảnh vật tức thời sẽ hiện ra trong tâm tưởng họ mà không cần phải đi tìm địa bàn bản đồ để định hướng Việt Nam rồi mới hồi tưởng.
Phật dạy niệm Phật A Di Ðà sẽ sanh về thế giới ở Tây Phương Cực Lạc, chớ bao giờ nghe Phật dạy phải niệm Phật trong tư thế quay đúng về hướng Tây mới được tiếp dẫn. Nếu nói rằng Phật dạy như vậy, thì chỉ có người niệmPhật ở Ấn Ðộ mới được vãng sanh; còn ở Mỹ Châu, Âu Châu thì không thể tu pháp môn niệm Phật được. Còn như chấp thêm thời điểm, thì càng không thể vãng sanh được ngay cả trên đất Phật (Ấn Ðộ); vì ví dụ Phật nói kinh A Di Ðà vào tháng hai, thì chỉ có tháng hai năm tới ai tu niệm Phật mới được tiếp dẫn bởi các tháng còn lại đã bị xê dịch không chính xác theo hướng Tây rồi (do vì trái đất quay đi).
Hiểu được như vậy thôi cũng đã phá được mối nghi. Nhưng người tin Phật còn được nhân duyên nhiệm mầu hơn nữa, là sự huyền diệu của vấn đề vãng sanh đã khơi lên nhiều chứng nghiệm. Trong ba kinh: Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ, A Di Ðà, Phật dạy người nào hành theo tùy vào khả năng dụng công cao thấp theo đó sẽ sanh về thế giới Cực Lạc. Tới đây sẽ là cánh cửa mở toang cho con người thấy, lời nói chính xác của Phật. Ðó là trường hợp xưa nay người vãng rất nhiều, và việc này vẫn còn tiếp diễn ngay trong thời đại văn minh này, lại còn xảy ra ngay trên đất nước được
gọi là văn minh nhất (xin xem quyển "Sau Lễ Trà Tỳ Một Phật Tử Ðã Lưu Lại Xá Lợi",tác giả Thiện Hỷ, nxb Phú Lâu Na (Hoa Kỳ) 1997). Ðể làm sáng tõ điều ứng nghiệm vãng sanh, trong quyển Liểu Sanh Thoát Tử như sau:Những Tiên Triệu Ðược Sanh Về Tịnh Ðộ . Bậc đã chứng được vô sinh pháp nhẫn (tức là chứng được thực tính bất sinh bất diệt của muôn pháp) thì đối với Tịnh độ trong 10 phương, đều có thể tùytheo ý muốn của mình mà vãng sinh. Còn những kẻ phàm phu hoặc nhờ nguyện lực của mình, hay nhờ thần lực của Phật gia bị mà được sinh về Tịnh Ðộ; thì đều thuộc về hạng "Ðới nghiệp vãng sinh" (nghĩa là nhờ ở nguyện lực của Phật mà được sinh về Tịnh độ, nhưng chưa trừ sạch hoặc nghiệp; nên gọi là Ðới nghiệp vãng sinh) Hai cảnh giới nầy tuy có cao thấp không đồng nhau nhưng chỗ siêu việt cảnh giới Ta Bà thì vẫn là một.
Chú thích
(1) Lược Giảng Kinh Pháp Hoa của Hòa Thượng Thích Thiện Siêu trang 3. Tu viện Kim Sơn ấn hành 1998.
(2) Pháp Hoa Huyền Nghĩa của Chánh Trí- Mai Thọ Truyền. Trang lời nói đầu. Phật Học Viện Quốc Tế tái bản 1988.
(3) Phật Học Tự Ðiển của Ðoàn Trung Còn. Trang 442. Nxb. Shyh Hyah Printing.
(4) Pháp Hoa Yếu Giải của T.T Thích Phước Nhơn, trang giới thiệu. Chùa Phổ Quang ấn tống 1995.
(5) Phật Học Tự Ðiển - Ðoàn Trung Còn, tr 443.
(6) Kinh Pháp Hoa, của Hòa Thượng Thích Trí Tịnh, trang 471. PHVQT tái bản 1988.
* Bài này được trích từ bài TỊNH ÐỘ VẤN NGHI (có nguyên tựa là Trong Kiếp Sống Sanh Tử Quay Cuồng Này ) của ÐÐ Thích Phổ Huân, Australia
Trích đoạn băng giảng của "Sư" Chơn Quang
Trang Quan Ðiểm
Trang chính