(Unicode fonts)
Phần III
: Đạo Phật là đạo như thật (TT).
Ông Chơn-Quang nói “Đạo Phật là đạo như thật”. Vậy thế nào là “như thật”? Chúng ta hãy kiểm chứng xem có đúng là ông Chơn-Quang đã thực sự nhìn rõ, thấy rõ lẽ đạo như thật, biết rõ lý đạo như thật chăng? Nghĩa là cái thấy biết của ông ta có tương ưng, tương hợp, không chỗ sai khác mà đồng “một” với tánh thấy hoàn toàn sáng trong, dung thông, vô ngại như ý của chư Tổ muốn nói ra câu ấy khi các Ngài đã nhận chân lẽ thật tự nhiên như nhiên của lý đạo hay không; hay là ông Chơn-Quang chỉ biết nói vẹt, chỉ nói thuộc lòng, nói vô tội vạ khi mượn câu nói bất hủ, vượt tri-kiến của những bậc đã thành tựu công đức hy hữu (kiến tánh) ra để lòe người, để tự thần thánh hóa rằng mình gì cũng biết, gì cũng thấy, vì nhờ cóù con mắt thánh, nhờ có thần thông, nhờ có kinh qua nhiều đời trong cái thế giới vô hình ma mị nào đó, mà ông ta mới “có được cái đạo nhãn cao vời” như thế.
Trước khi đi vào trọng tâm của bài viết, tưởng cũng không quên lưu ý người đọc một chút khi chúng tôi bất đắc dĩ phải dùng mấy từ “ý của chư Tổ” như ở trên. Khi nói “ý của chư Tổ” là chúng ta phải nên hiểu một cách vượt thoát, nghĩa là phải trên lời vượt ý để mà cùng tự “một” trong thực tại tuyệt đối của tâm thể, cũng là “một” trong hiện thực đương niệm, tự “một” với chánh niệm, khi mà chư Tổ lúc nói ra câu ấy, cũng ngay trong ấy “đang là” cùng mình không hai không khác, thì chỗ thấy biết ấy mới có thể gọi là chân thật được.
Lời của chư Tổ nói ra thì hoàn toàn vô tâm, rổng rang, thanh tịnh, vượt ngôn ngữ , lìa tri kiến, không có “hữu ý”, nghĩa là không chỗ trói buộc, vướng mắc, hoàn toàn khác với phàm phu khi nói ra thì thường trước vào tướng và các pháp tướng. Những gì các Ngài dạy người hay những lời tán thán sự hy hữu bất khả tư nghì của Phật đạo cũng chỉ là nói lên một sự thật hiển nhiên, tự nhiên như nhiên, hoàn toàn chân thật của đạo mà thôi. Vì nếu nói chư Tổ thật sự “có ý”, tức chẳng khác nào chúng ta chê các Ngài “hữu ngã”, cũng có nghĩa là gán cho các Ngài còn bị dính mắc vào tứ tướng, tướng ngã, tướng nhơn, tướng chúng sanh, tướng thọ mạng, dính mắc vào thập bát giới (lục căn, lục trần, lục thức) tức cũng là gán cho các Ngài đi ngược lại tâm ý giải thoát của Phật là “Bồ tát nên không chỗ trụ mà sanh tâm thanh tịnh”.
Chư Tổ thì luôn thể hiện chơn thường vô ngã, vì thân tâm các Ngài đã hoàn toàn thanh tịnh, “vô hữu tâm”, vô sở trụ, tự tại an nhiên, không còn trói cột, dính mắc vào sắc, thinh, hương, vị, xúc, và tất thảy các pháp trần. Tâm thể các Ngài sáng suốt, viên dung, như như, vô ngại, đối với nhứt thiết pháp không chỗ năng sở, không chỗ đến đi, thế thì làm gì có ý hay không có ý. Bỡi hễ nói “có ý” tức ngay đó liền dính mắc vào trần cảnh, nếu chẳng phải dính vào pháp thì cũng phải dính mắc vào phi pháp, không dính vào pháp hữu, cũng mắc vào pháp vô, chẳng cột với tà kiến thì cũng rơi vào đoạn diệt vậy.
Cho nên khi chúng tôi bất đắc dĩ phải dùng cụm từ “ý của chư Tổ ” cũng chỉ là mượn phương tiện để giãi bày pháp hành chơn thật của các Ngài khi nói ra câu ấy, xin phải hiểu giùm một cách vượt thoát, rằng nói “có ý” đó, là tạm mượn lời mà nói “có ý” để cho dễ thông tỏ những gì muốn nói, chứ thật ra với chư Tổ thì chẳng có chút “có ý” nào cả. Bằng lầm chấp trên chữ nghĩa mà cho rằng các Ngài thật “có ý này, có ý nọ”, tức là hủy báng các Ngài, người ấy hoàn toàn không hiểu một chút nào về pháp hành chân thật, vô sở trụ của các Ngài cả.
Có thể có người hỏi rằng, chư Tổ thuyết pháp dạy người, thì ngay tại chỗ nói hay nín đó cũng là đã có ý rồi, sao lại bảo rằng không có ý?
Thưa . Bồ tát dạy người thì cứ trong chỗ không tâm, vô trụ mà dạy; nhờ tỏ ngộ tự tánh, từ tâm bộc khởi thương khắp chúng sanh, liền tuỳ duyên mà giáo hóa để ai ai cũng được gíac ngộ như mình; các Ngài sẵn sàng trang trải, ban phát lòng từ mẫn tự nhiên như nhiên của đạo mà chính mình trong ấy “đang là” đến khắp chúng sanh, mà không khởi tâm trụ trước vào sắc, thinh, hương, vị xúc, và tất thảy các pháp tướng, dẫu là phi pháp hay phi phi pháp đi nữa, lại cũng không hề thiên vị một riêng ai. Hễ ai gõ cữa thì các Ngài mở, ai xin thì các Ngài cho, như chính mình đói thì mình ăn, chính mình khát thì mình uống, mệt thì đi mằm, tự thể hiện chơn thường vô ngã, làm lợi tha mà không tư vị, không thiên lệch vì các Ngài đang làm cái việc báo ơn Phật vậy.
Còn việc xin thì các Ngài cho, mà chúng sanh có nhận hay từ chối nhận, gõ cữa thì các Ngài sẵn sàng mở mà chúng sanh có vào hay từ chối vào, thì đó là quyền của mỗi chúng sanh, mà thật ra đó cũng chính là duyên phước hay nghiệp tội của từng chúng sanh ấy đối với đạo giải thoát cũa Như-lai mà thôi . Bằng không nhận ra được chỗ vi tế này, rồi trước lên tướng của chữ nghĩa mà cho rằng chư Tổ có ý này, có ý nọ, tức cũng là lầm chấp, mà đắc tội với các Ngài vậy.
Qua lối thuyết giảng của ông Chơn-Quang, thì chỗ hoàn toàn chân thật của lý đạo mà chư Tổ trong ấy “đang là” , đang tự một với “lẽ như”, thông tỏ thấu suốt “nghĩa như như” của tất thảy các pháp, chỗ mà các Ngài an nhiên tự tại, thì ông Chơn-Quang hoàn toàn không hay, không biết, không thấy, cũng không chút dính dấp gì tới, vì tự thân ông còn chưa thoát khỏi trói buộc của các pháp tướng huyễn giả, hư vọng, sanh diệt, tà kiến vậy.
Tại sao lại có sự khẳng định như thế ? Vì nếu như ông ta đã thực sự “một” trong chỗ hoàn toàn sáng trong chân thật ấy của đạo, tự biết như thật, tự thấy như thật thế nào là vạn pháp trước mắt, thì tự ông ta liền biết cách phải thuyết ra sao để chỗ thuyết ấy luôn tự “như” mà cùng đạo tương ưng, cùng đạo khế hợp, cũng là tự như với chính ông ta, vì ngay khi ấy, đạo là ông ta, ông ta là đạo, mà vạn pháp không chỗ trói buộc, dính dấp tới; chứ chẳng phải như ông ta đang dùng nhãn căn và cái tri thức hư huyễn nhìn sự vật với cái tâm phân biệt, điên đảo, sai lầm, chấp trước, tà kiến, chẳng “như như” một chút nào, chẳng có chỗ nào cùng đạo tương ưng, khế hợp, để rồi cuối cùng thuyết pháp tà. Vì cớ sao ? Vì những gì ông ta giải thích, biện biệt, lý giải tràn giang đại hải kia đều là các pháp kết buộc, dính mắc với nhị nguyên nhơn quả sanh diệt, chẳng phải là pháp giải thoát của Phật đạo vậy.
Phật thì dạy chúng sanh hãy nên tu hành, nên tự rời lìa nhứt thiết tướng để nhận ra, trở về lại mà sống với cái chơn tâm “Vô sở tùng lai, diệt vô sở khứ , bất động như như - không từ đâu đến, chẳng đi về đâu, như như bất động” như Phật không khác để mà giải thoát ràng buộc của hai bờ sanh tử. Còn ông Chơn-Quang thì lại dẫn dắt chúng sanh đến với cái thế giới vô hình, quỉ mị, trước tướng, tà kiến, phi pháp, ma đạo, sanh diệt. Đã thế, mở miệng thuyết là nói đến hai chữ thanh tịnh của Phật tự tâm, mặc dù ông ta đối với chỗ này chẳng chút dính dấp.
Oâng Chơn-Quang chỉ biết mượn lời, mượn chữ của người khác mà nói, mà chỉ trỏ thế này thế nọ chứ thật ra ông ta chẳng phải thật có, thật biết, thật thấy, tự một với lẽ như như chân thật của Phật đạo, mà người chợt ngộ tánh thì liền thấy tự sẵn có tánh này từ muôn thuở. Bỡi nếu ông Chơn-Quang thật sự có thấy, có biết một cách chơn thật thế nào là lẽ thật của lý đạo, thì không bao giờ ông dám làm cái việc thuyết nhăn, thuyết cuội, thuyết tà, thuyết để dẫn chúng sanh vào làm dân của ma vương, đi ngược lại giáo lý giải thoát của Phật như bấy lâu nay ông ta đã làm.
Phật thì dạy, “ưng sanh vô sở trụ tâm, nhược tâm hữu trụ tức vi phi truï – nên không có chỗ trụ mà sanh tâm thanh tịnh, bằng tâm có chỗ trụ tức chẳng phải trụ chỗ chơn như thanh tịnh vậy” Kim-Cang kinh. . Thế thì đã quá rõ ràng rồi chứ cần gì phải biện bạch nữa; chỉ một chân lý Phật thuyết ở trên, đã nói ra được, chỉ ra được chỗ pháp hành tà mị, đi ngược lại giáo lý giải thoát của Ngài, khi tâm ông Chơn-Quang đang trụ vào sắc, thinh, hương, vị, xúc, và tất thảy các pháp tà kiến, trụ vào cảnh giới vô hình cột buộc với ma nghiệp mà ông cho là tốt đẹp đó, và dẩn dắt chúng sanh cùng vào với ông trong đó. Chỗ trụ của ông hoàn toàn chẳng giống chỗ trụ rổng rang, sáng trong, vắng lặng, tự tại, tự chủ như Phật đã dạy để tự giải thoát, là trụ không chỗ trụ, cũng là chơn trụ, không sanh không diệt, không giảm không tăng, không sạch không nhơ, không còn không mất, vô thỉ vô chung.
Đến đây thì chắc là ông Chơn-Quang cũng đã nhận ra được chỗ tà kiến, phi pháp khi ông thuyết về thế giới vô hình, tà mị rồi chứ ?. Bỡi ông còn mù, tuệ nhãn chưa mở mà thân tâm trong ngoài cứ nôn nóng muốn mau làm thần, làm thánh nên mới bị chúng ma nương gá vào ông, dùng miệng ông mà tuyên thuyết ma pháp vậy.
Thật ra không phải chỉ riêng chư Tổ mà bất cứ một Phật tử nào chợt nhận ra tự Phật, cũng là tỏ ngộ tự tánh, thì liền ngay đó tự có chỗ thấy như thật, biết như thật “lẽ như” của đạo, cũng là “nghĩa như như” của các pháp, tự biết như thật mình là gì mà từ muôn kiếp qua đã nhận lầm năm món “sắc, thọ, tưởng, hành, thức” giả dối, hư vọng, biến hiện, mất còn, có không này làm tự ngã để mà phải bị trói buộc với sanh tử hai bờ, thì liền có lời tán thán trong nước mắt hạnh phúc chân thật như chư Tổ không khác “đạo Phật là đạo như thật” vậy.
Và khi một ai đó đã nhận ra nó rồi, thật chẳng khác như người cùng khổ, đói khát chợt khám phá ra cái kho vàng ròng vô giá mà từ lâu mình đã bỏ quên. Và một khi chính mình đã làm chủ cái kho vàng ròng vô giá ấy, thì có ai lại đi ăn cỏ, ăn rác cũng như bố thí cho người khác cỏ rác bao giờ. Thật không có lẽ ấy vậy,
Bỡi một khi đã làm chủ kho vàng ròng rồi, thì mọi cái mà kẻ ấy hành xử trong hiện tại đối với chính bản thân mình, cũng như đối với người khác ắt đều dùng vàng ròng cả, chứ có đâu lại tự mình dùng cỏ rác và đem cho người rác rưởi bao giờ. Chỉ có kẻ nghèo cùng, khốn khổ không vốn không liếng, đến chính mình cũng không làm chủ được, đói khát, rách rưới, lầm than mới dùng rác rưởi cho mình và bố thí cho người khác rác rưởi mà thôi.
Hoặc một ai đó, như người mù từ thuở mẹ sanh bỗng nhiên được sáng mắt ra, lại có ánh sáng chiếu rọi, nhìn thấy tất cả mọi sự mọi vật trong nhà ngoài ngõ. Khi ấy có người muốn hỏi vật này vật nọ, chẳng lẽ người ấy không dùng đôi mắt đã được sáng của mình để nhìn sự vật mà cứ mò mẫm, sờ soạn chỗ này chỗ kia không trúng trật vào đâu cả, để tìm vật cho người hay sao? Đâu có lẽ nào, phải không thưa ông Chơn-Quang?
Chỉ có người đui mù chưa được sáng mắt, đang hoàn toàn ở trong tối tăm mờ mịt, mới đi làm cái việc khó nhọc vất vả, là sờ soạn, mò mẫm không trúng trật ấy để tìm vật mà thôi.
Trường hợp Oâng Chơn-Quang cũng vậy. Oâng ta thật sự chưa có vàng ròng, thế mà vì háo lợi tham danh, ông đem cái kho vàng ròng của chư Tổ ra nhận làm của mình để dối gạt người, chứ thật ra kho vàng ấy là của người khác, chẳng chút dính dấp tới ông, cũng như chính bản thân ông ta cũng chỉ là một người đang cùng khổ, lầm than mà thôi. Oâng ta như người mù từ thuở mẹ sanh, chưa sáng mắt mà cứ làm cái việc dẫn đường cho người khác, có khác nào kẻ đang học bơi, chưa biết bơi, bơi chưa thành thạo mà lại đi dạy bơi cho người. Kết quả sẽ ra sao, dù không nói ra thì chắc ai cũng biết, những người nghe theo ông ta dẫn đường, chỉ lối, nếu không sa hầm sẩy hang thì cũng chui vào đường ma lối quỉ, hoặc cũng chết chìm một chỗ với ông ta mà thôi. Đó là điều chắc chắn không sao tránh khỏi vậy.
Vì cớ sao ? Vì nếu là một người mà đã tự có kho vàng ròng như chư Tổ, nghĩa là thấy như thật, biết như thật thế nào là lẽ thật của lý đạo, thế nào là nghĩa như như của vạn pháp, như người sáng mắt nhìn thấy chính bàn tay của mình, thì không bao giờ kẻ ấy mở miệng nói ra mà bị vướng mắc, bị trói buộc với nhị nguyên sanh diệt, tà kiến, phi pháp, không “như như” một chút nào như ông Chơn-Quang đã mắc phải.
Chỉ một câu nói trong cuộn băng hồi năm trước của ông ta cũng đã nói lên chỗ tà vạy, yêu ma, phi pháp, trước tướng, và nhất là cái bụng phản phúc “ăn cháo đái bát” của ông ta.
Phật môn đã cưu mang cho ông ta nên hình nên vóc, để cuối cùng ông ta phủ nhận công lao ấy mà tán dương ma quỉ trong thế giới vô hình hoang đường, tà mị, bịa đặt, tưởng tượng nào đó.
“Có nhiều điều khác nếu mà thầy do học từ kiếp trước thì nó không có cái mới như vậy (ông mê mờ tà kiến như vầy mà dám mở miệng tuyên thuyết lời của Tổ rằng đạo Phật là đạo như thật!!! Oâng hoàn toàn không biết thế nào là chỗ “như thật” mà Tổ muốn nói, lại dám mượn lời Tổ để lộng ngôn mà lừa người, để củng cố lợi danh, thoã mãn sự tướng thế gian thì thật là hết chỗ nói với ông Chơn-Quang) , vì cái hệ thống, cái truyền thống của đạo Phật để lại từ bao nhiêu đời với những kinh điển như vậy, rồi đời này cứ nối tiếp đời kia là như vậy. Mà nếu những kiếp trước thầy cũng tu, thầy cũng nhiều đời thầy tu hành, mà thầy học theo những cái điều đó như vậy, thì đời này thầy không có điều gì mới hơn cái truyền thống; nhưng mà bây giờ cái đời này thì CHÍNH RA THẦY, CÁI GIÁO PHÁP CỦA THẦY KHÁ MỚI (phản phúc, cao ngạo, ngã mạn, tự đề cao mình, tự thần thánh hóa mình như một giáo chủ khai sáng một tôn giáo mới ngoài Phật giáo và hơn hẵn Phật giáo) mà cái mới này không phải là do thầy học trong những kiếp trước mà lúc thầy sống, mà thầy học được lúc thầy ở trong cái thế giới vô hình, mà chính ở trong thế giới vô hình (đại bịp, ngoa ngôn, vọng ngữ, khẩu ma) thầy đã hiểu được nhiều điều và thầy mang cái tâm nguyện đó trở lại để đem những điều hiểu biết đến cho mọi người”.
Chỉ một câu “thuyết” ngắn của ông Chơn-Quang ở trên, nếu người nào tinh mắt một chút cũng liền nhận ra ngay ông sư hổ lốn này đang thuyết tà pháp, dẫn dụ chúng sanh vào lối quỉ đường ma, chứ chưa cần nói ông ta đã thật sự có chỗ thấy biết “như thật” của người ngộ tánh mà nhìn vạn pháp chưa, vì với ông ta, chỗ này còn quá xa vời, bỡi trước mắt cả thân lẫn tâm ông ta đang cột buộc vào sự tướng và ma nghiệp vậy.
Vì sao ? Vì không riêng gì ông Chơn-Quang mà bất cứ một ai đó chợt tỏ ngộ Phật tánh thì không bao giờ người ấy có chỗ thấy biết hoàn toàn trái ngược lại với lẽ chân thật của Phật đạo, cũng như không bao giờ dám dùng cái miệng của mình đi thuyết tà pháp, tôn vinh thế giới của ma quỉ, quảng bá những lời tà kiến, yêu mị, dẫn dắt người trước vào ma nghiệp, nói ngược, làm ngược giáo-hành giải thoát chân thật của đấng Vô-Thượng-Tôn cả.
Oâng Chơn-Quang mới đây có giảng : “Đạo Phật là đạo như thật. Sự thật như thế nào chúng ta phải cần biết đúng như thế, nói đúng như thế, không thêm không bớt. Tinh thần của đạo Phật là như vậy, và trong cuộc sống này, trong thế giới này, trong vũ trụ này, có những điều chúng ta không thấy nhưng không phải không có, nó vẫn hiện hữu. Ví dụ như sóng radio, mắt chúng ta không thể thấy, mặc dầu nó đang phát hằng ngày, hằng giờ ở trong cái không khí này, vv… Có những điều không có, không thấy , nhưng mà nó có, nó hiện hữu, có lợi ích, có tác dụng, và thế giới siêu hình cũng vậy là một điều mà đức Phật đã nói rất nhiều, hiện nay chúng ta nói ít thôi… . . đối với người ở thế-giới cõi âm thì cũng vậy, khi mà chúng ta không biết, chúng ta đã sống có một cái điều sai lầm từ cái sự không biết đó. Ngày nay, chúng ta cần lọc lại điều đức Phật đã nói, và áp dụng trong cái ngôn ngữ , trong cái hoàn cảnh của hoàn cảnh hiện tại để chúng ta biết được một sự vật nó đúng hơn, nó tốt đẹp hơn”.
Oâng Chơn-Quang ơi là ông Chơn-Quang ! Những điều ông dông dài mô tả chỗ “thấy biết chân-thật của ông” mà với con mắt phàm phu của mọi người, không ai là không biết đó, mà ông cho chỗ thấy biết đó là “đạo Phật là đạo như thật” hay sao, thưa ông. Oâng quá lầm lẫn rồi . Oâng hoàn tòan không biết một chút gì về ý nghĩa đích thực của hai chữ “Như-Thật” mà chư Tổ đã mượn lời gởi ý.
Nghĩa “Như thật” đó chính là lẽ như của tự tánh, không từ đâu đến cũng chẳng về đâu, là chỗ thật tại tuyệt đối của bổn tâm, sáng suốt, chơn thường, rỗng lặng, vô vật, cũng là Phật tánh, không biến không hiện, không giảm không tăng, không có khởi đầu cũng không hồi kết thúc, là chủ vạn pháp mà không lầm các pháp, mà chỗ thấy biết tự một với nó, cũng là “một” trong Chánh niệm, cũng là lẽ chân như, thường hằng, tự nhiên như nhiên của lý đạo, mà mỗi chúng sanh một khi chợt nhận ra tự Phật, thì lẽ như như hiển bày, không chỗ dấu che, được gọi là hoàn toàn chân thật, mà vạn pháp biến hiện, mất còn trong đó chẳng chút dính dấp tới nó, tự nó an ổn, tự tại; chỗ chân thật ấy chẳng khác mặt trời mặt trăng luân chuyển vần xoay, hàm dưỡng muôn vật mà vô tâm, vô phân biệt, không dành soi chiếu một riêng ai.
Có nghĩa là, chợt tỏ ngộ thì liền tự biết mình là gì, liền cùng đạo tương ưng, tự rõ như thật, thấy biết một cách như thật, không sai dối về cái chỗ chân thật tuyệt đối của tâm thể cũng như cái huyễn hóa, hư vọng của vạn pháp ở trong đó, mà không một pháp nào có thể đánh lừa mình được, cũng có nghĩa là nhờ mở mắt tâm mà nhìn vạn pháp không chút lầm lẫn, cũng có nghĩa là tự chủ tự tại, chứ đâu phải dùng con mắt của nhục nhãn và sự suy lý, biện biệt của tri thức hư vọng, biến hiện mà nói có hay không có, thấy hay không thấy một cách ma ngụy như ông đã thấy.
Chỗ thấy hay không thấy người cõi âm, thấy hay không thấy ma quỉ thần thánh trong cõi vô hình nào đó mà ông đã tự hào rằng mình thấy được, đâu phải là cái thấy biết chân thật hàm tàng và tự “một”trong tâm thể chân thật, như như, thanh tịnh, phi sanh diệt đâu. Ý của chư Tổ đâu phải nói chỗ như thật của đạo Phật là giống như cái thấy còn kết buộc trong sanh diệt, trong chỗ còn có khái niệm của nhị nguyên nhơn quả, mà ông đã tưởng tượng ra, hay giống cái nghĩ tưởng hư vọng sai lầm, tà kiến mà ông nói đó đâu ! Chỗ như thật của các Ngài muốn nói ở đây là nhờ giác trí của tự tánh, chơn thường, vắng lặng, rổng rang, sáng suốt mà nhìn vạn pháp, cũng là vạn pháp biến hiện ngay trong hiện thực tuyệt đối của thể tánh chân thật, vạn pháp trong chơn ngã thì liền ngay đó nhận ra thế nào là lẽ thật của đạo, mà nói không thể tới vậy.
Có tỏ rõ lý mầu chơn không mà sanh diệu hữu của Phật tự tâm thì liền thấy như thật, biết như thật thế nào là đạo Phật là đạo biết như thật. Bằng chưa tỏ rõ cách chân thật lý này, cũng là chưa tỏ ngộ tự tánh, thì chỗ nói “biết như thật” ấy cũng chỉ là lời đầu môi, ai ai cũng có thể nói được, vì có miệng đều có thể nói được, nhưng với tự Phật thì bị chối từ , vì không chút dính dấp tới nó.
Còn cái thấy biết chúng sanh trong cõi vô hình của ông Chơn-Quang thì sao ? Ôâng đã dùng vọng tâm sanh diệt đang kết buộc với vô minh mà khởi phân biệt để thấy biết, nghĩa là dùng huyễn thức sanh diệt để mà suy lường các pháp sanh diệt, để thấy biết trần cảnh hư vọng, nên mới có huyễn cảnh huyễn tướng như ông mô tả, nào là vui hơn, tốt đẹp hơn cõi người mình vv và vv… Nên nói gút lại, chỗ thấy biết này của ông hoàn toàn sai lầm, khác xa và chẳng chút dính dấp tới cái điều mà chư Tổ muốn đề cập trong câu nói bất hủ, vượt thoát tri kiến phàm tình: “Đạo Phật là đạo như thật”.
Lý đạo ông chưa sáng tỏ, mở miệng ra là nói quàng nói xiêng, nói cho đã miệng mình, mà không biết những gì mình nói đó là đúng hay sai, xa lìa hay tương ưng với lẽ đạo, cũng là Phật đạo.
Đâu phải nghĩa của câu nói “đạo Phật là đạo như thật” như ý ông nghĩ , để mà ông to giọng một cách vô tội vạ rằng, sự thật như thế nào thì chúng ta phải cần biết đúng như thế, nói đúng như thế, không thêm, không bớt”.
Cái chỗ thấy biết mà ông đã dông dài mô tả trên kia, phàm phu ai mà chẳng biết, vì đâu phải là cái thấy biết chân thật nhờ giác tri mà thấy, cũng là cái thấy biết của tánh thấy, tánh biết. Vì một khi đã có cái thấy biết hoàn toàn chân thật, thể hiện trên tánh thấy, tánh biết, thì trong đời hay nhiều đời nhiều kiếp cũng chỉ có một cái thấy biết chân thật này một lần mà thôi. Oâng không thể nói, hôm qua tôi thấy biết thế này, còn thấp; nay tôi thấy biết sáng hơn, cao hơn, thì là sái, vì cái thấy biết chơn thật chỉ có một mà thôi. Như người mù từ thuở mẹ sanh, một khi được sáng mắt thì nhìn thấy rõ mọi vật một cách chân thật, chứ không thể nói hôm trước tôi thấy nó là con trâu, nay tôi thấy rõ hơn thì ra nó không phải con trâu mà là cái nhà. Lẽ chân thật của lý đạo đâu có thể như thế được.
Hễ tự tỏ ngộ bổn lai diện mục, thì ngay đó liền có chỗ thấy biết như thật của tánh mà thôi.
Cho nên phải nói, Oâng thật là hổ lốn ! Vì cớ sao ? Vì một khi ông biết như thật, thấy như thật thì ngay chỗ thấy biết chân thật đó, miệng mồm của ông còn đâu để mà ông có thể mở, lưỡi ông ở chỗ nào mà có thể động để ông có thể chỉ ra được giùm cái chỗ chân thật đó khi mà với ông, và nó tự một và “đang là” với nó trong thể tánh sáng trong, lặng lẽ, không khác, không hai, như chính ông là sóng mà cũng là nước, chẳng phải một cũng chẳng phải hai mà cũng không phải khác. Đến lúc ấy, năng sở chỉ một mới thấy biết được thế nào là chân thật của đạo Phật, và cũng ngay đó, ông tự một trong lẽ chân thật ấy cũng là một trong đạo, thì ông là nó, nó là ông thì lấy ai mà chỉ trỏ đây? Đó là lẽ thật của lý đạo vậy.
Oâng còn chỉ ra được cái mà ông cho là chân thật, thì chỗ chân thật ấy chẳng còn chân thật nữa, vì ông liền tự hữu ngã. Mà đã có chỗ hiện tướng thì chơn ngã tự lìa. Mà chơn ngã đã lìa, thì chỗ chỉ trỏ, mồm miệng của ông đó cũng đều là tướng hư huyễn, là gãi ngứa ngoài giày, làm sao với tới chỗ chân thật được.
Oâng đã nhận ra chỗ sai quấy, tà kiến, trước tướng, phi pháp, còn trói buộc hoàn toàn trong vô minh của ông chưa, thưa ông Chơn-Quang.
Chỗ thấy mà ông huyênh hoang chỉ giúp cho chúng sanh nào là về điện, về laser, về chúng sanh trong cỗi vô hình kia, thì phàm phu ai mà không thấy được, vì đó chỉ là cái thấy cũa căn, trần và thức, kết buộc theo tà kiến, dính mắc với thế pháp sanh diệt. Vì sao ? Vì như Phật dạy “ Bằng lấy sắc thấy ta, lấy âm thinh cầu ta, kẻ ấy hành đạo tà, chẳng thấy được Như-lai” , thì chỗ chỉ trỏ của ông đó làm sao có thể cho là cái thấy, cái biết như thật được, thưa ông Chơn Quang?
Bỡi cái thấy biết như thật thì không biến, không hiện, không sanh không diệt, không thỉ không chung, như như, bất động vậy !
Còn cái thấy biết của ông đó có đủ cả năng tri sở tri, năng kiến sở kiến, là hai là khác, là biến hiện, tương ưng theo giòng vọng thức vọng tưởng kết buộc với nhị nguyên sanh diệt thì làm sao gọi là chân thật được. Oâng hoàn toàn lầm lạc, và không thể hiện được chút nào tánh biết của tự Phật trong ông vậy. Mà người chưa sáng mắt, sáng lòng lại dám đương cái việc dẫn dắt cho người thì phải nói ông đáng được ghi vào sách kỷ lục “Liều Siêu Hạng” của thế gian mà không ai sánh kịp . Chê Phật chưa đủ, ông còn đem cả thầy của mình là một bậc đức cao đạo cả ra để bêu rếu trước thiên hạ. Oâng thật là điếc đặc nên hết biết sợ súng rồi.
Đã gọi là chỗ thấy biết chân thật thì, năng kiến sở kiến chỉ một, thì ai người nói thấy biết? Tới chỗ này thì miệng mồm cùng tri thức chẳng thể với tới, thì lấy gì nói thấy với không thấy, thế mà ông lại đem huyễn pháp ra chứng minh cho cái thấy bằng con mắt và thức ý hư vọng, sanh diệt của mình.
Oâng có biết vì sao chúng tôi mạnh dạn nói mà không sợ lầm, rằng ông chưa thông Phật lý, mắt tâm chưa mở, đi trật đường, mà chỉ có cái miệng thuyết liều chăng ? Vì chẳng những tự thân ông còn chưa giải thoát khỏi tri kiến giải thoát, mà ngay cả tri kiến giải thoát ông đang theo đuổi cũng bị lệch lạc, phi pháp, chẳng phải là chánh kiến giải thoát.
Chính vì lẽ cần phải giải thoát chính cái tri kiến giải thoát mà mình đang thọ trì, để được thăng hoa, mà Phật mới hỏi gạn ông Tu-bồ-đề về chỗ thấy biết chân thật, mà không lời diễn tả : “Này ! Tu-Bồ-đề ! Như có người nói Phật nói : Ngã kiến, Nhơn kiến, Chúng sanh kiến, Thọ giả kiến. Ýù Ông nghĩ sao ? Người ấy có thấu tỏ nghĩa lý ta nói chăng ?
- “Bạch Thế-tôn ! Không ạ ! Người ấy không thấu tỏ nghĩa lý Như-lai (muốn) nói vậy.
Bỡi cớ sao ? Vì Phật nói, Ngã kiến, Nhơn kiến, Chúng sanh kiến, Thọ giả kiến nhưng chẳng phải (thật) Ngã kiến, Nhơn kiến, Chúng sanh kiến, Thọ giả kiến, mà chỉ tạm cưởng gọi là Ngã kiến, Nhơn kiến, Chúng sanh kiến, Thọ giả kiến (mà thôI).
Chỗ thấy biết chơn thật cũng là tánh thấy biết, thì lìa cột buộc của tri kiến, không sở không năng, rổng rang sáng suốt, lặng lẽ mà thường sáng soi, làm chủ tất thảy, phi sanh diệt, hoàn toàn khác hẵn với những gì ông Chơn-Quang đã “thuyết” mà chỗ thấy biết của ông này thì đầy dính mắc, trói buộc với tri kiến, mà nếu nói cách chính xác hơn là tà kiến, chứ chẳng phải tri kiến giải thoát .
Chỗ thấy mà lìa bốn kiến, chính là cái thấy của trí sáng Bát nhã, mà trong chỗ cùng tột, không tuổi không tên, không hình không tướng, nói Bát nhã đó cũng chỉ là tạm mượn danh từ giả lập để nói, chứ nếu thật còn có chút tướng Bát nhã nào thì cũng còn có chỗ thấy quấy, không chân thật vậy, huống là những gì ông Chơn-Quang đã thuyết. Nghĩa là sao ? Nghĩa là như Phật đã nói, Phật thuyết Bát nhã Ba-la mật, nhưng chẳng phải (thật có tướng nào là) Bát-nhã Ba-la mật, mà chỉ tạm cưỡng gọi (tạm muợn lời, giả danh mà nói) là Bát nhã Ba-la mật mà thôi. Hễ ai chợt ngộ thì liền nhận ra chỗ chân thật của nó, tự một với nó, cũng là trí sáng Bát nhã, chứ ngôn từ chẳng thể với tới được.
Chính vì sợ chúng sanh dính mắc, cột buộc với các pháp tướng, cho dầu là phi pháp hay phi phi pháp đi nữa, cũng phải lìa rời mới mong được bước đi trên con đường chơn thật của đạo pháp, lìa tất thảy tướng gọi là chư Phật, mà Thế tôn đã nhiều lần căn dăn : “Phàm chỗ nào có tướng đều là hư vọng. Bằng thấy các tướng chẳng phải tướng, mới rõ được Như-lai”.
Sáng nghĩa Như-lai ở đây cũng chính là tỏ ngộ và tự một trong tánh sáng chơn như của tự Phật, không từ đâu đến cũng chẳng đi về đâu, mà viên dung vô ngại, sáng trong vô nhất vật.
Đó chính là chỗ thấy như thật, biết như thật mà không chướng ngại vậy.
Còn chỗ thấy biết của ông Chơn-Quang thì sao ? Như chúng tôi đã trình bày ở trên, một người đã làm chủ kho vàng ròng vô giá có đâu lại ăn mặc rách rưới, tự thân cơ hàn, lại dùng rác rưởi mà bố thí cho thiên hạ. Điều ấy làm sao có thể xảy ra được. Vậy chỉ có người khốn khổ cơ cực thì mới tự thân dùng rác rưởi, và bố thí rác rưởi cho người mà thôi. Xem thế đủ biết lâu này ông Chơn-Quang thuyết hàng ngàn cuộn băng mà trong ấy có chứa kho vàng ròng nào hay không, hay chỉ là rác ruởi của chúng ma thì ai cũng có thể tự đoán ra được vậy.
Chỗ thấy lầm lạc của vọng tâm sanh diệt kết buộc vào các pháp tướng tà mị trong những thế giới vô hình mà ông cho là chân thật, để rồi gân cổ lên nói : “sự thật như thế nào chúng ta phải cần biết đúng như thế, nói đúng như thế” thì thật là hết chỗ chê ông tà này rồi.
Đã thế còn dám đem cả các bậc Trưởng thượng ra để lòe, rằng mình là đệ tử thầy này thầy nọ . Thật là đem bôi tro trét trấu vào Tôn sư là người đã từng cưu mang mình, làm hổ cả Tông môn. Oâng chỉ có cái miệng to mà đầu óc thì quá rỗng ,quá thiếu trí vậy.
Chúng tôi muốn cầu pháp ông Chơn-Quang một câu . Ông nói rằng, chỗ thấy biết những người trong thế giới vô hình đem lại lợi ích cho ông, thì đó là lợi ích gì ? Còn không biết, không thấy nó thì thiệt cái gì cho người tu hành chơn chánh cầu đạo giải thoát tử sanh ?
Hỏi đó, mà cũng trả lời giùm cho ông đó, là biết như ông, thấy như ông để mà kết bạn với dân ma chăng, để đoạ lạc vĩnh kỳ trong ma nghiệp mà hết đường giải thoát nghiệp sanh tử chăng ?
Hay biết đó để rồi tuyên truyền mê tín, đầu tư làm nhà máy sản xuất nhà lầu, ô tô, tivi, tủ lạnh, điện thoại di động…vv…bằng “vàng mã” để đốt cho người cõi âm mà mình biết là người ta đòi hỏi, yêu cầu, thương nhớ, hay là biết để van xin, lạy lục một thần quyền,một ma lực nào đó ban cho phước lộc hư huyễn để rồi chết chìm muôn đời, ngàn kiếp với chúng?
Ơi ông Chơn-Quang ơi là ông Chơn-Quang! Cái chỗ thấy biết tà kiến, phi pháp rặc mùi ma mị như thế mà ông đem ra huyênh hoang lừa người nhẹ dạ thì tội ông đối với Phật đạo thật không sao nói hết vậy. Ông nên bình tâm mà tu cho sáng mắt chính mình trước đã. Sáng mắt rồi, tự thấy chỗ nói hay nín đều vô ngại, đều lợi lạc cho chúng sanh chứ không phải mở miệng ra là vướng mắc, tà kiến như bây giờ đâu.
Chướng Ma Đời
Mạt Pháp – Bài 8
Chướng Ma Đời
Mạt Pháp – Bài 7
Chướng Ma Đời
Mạt Pháp – Bài 6
Chướng Ma Đời
Mạt Pháp – Bài 5
Chướng Ma Đời
Mạt Pháp – Bài 4
Chướng Ma Đời
Mạt Pháp – Bài 3
Chướng Ma Đời
Mạt Pháp – Bài 2
Chướng Ma Đời
Mạt Pháp – Bài 1
Nghe Phần Aâm
Thanh
Triích đoạn những
bài giảng của “sư” Chơn Quang
Trang Quan
Điểm
Trang Chánh