

(Unicode fonts)
“Thế-giới Vô hình” của sư Chơn-Quang.
Phần II : Đạo Phật là đạo của sự thật.
Nhằm mục đích giải độc cho việc
bịa đặt, thuyết tà pháp về một cái thế giới vô hình hoang đường, siêu tưởng, ma
mị nào đó để lừa gạt người sơ cơ nhẹ dạ, cũng là cách tự đề cao mình như một
ông thánh có đạo nhãn cao vời, chỗ nào cũng thấy được, chỗ nào cũng chun ra
chun vào được, mà trước đây ông Chơn-Quang đã từng bị nhiều người lên án gay
gắt, nên nay ông ta phổ biến một cuộn
băng mới để thanh minh cho việc làm tà mị của mình.
Nhưng với ý tứ và lời lẽ biện minh cho việc làm của mình
trong cuộn băng này cho thấy, ông ta càng biện bạch, càng cố che dấu cái sai
trái, tà vạy của mình bao nhiêu, thì chính những lời bào chữa thiếu logic, tà kiến,
phi pháp, ngụy biện, lấp liếm, không đủ
sức thuyết phục ấy đã nói lên cái dở của tự thân ông ấy bấy nhiêu, nhất là ông ta càng nói nhiều
thì tự nó càng bộc lộ rõ nét hơn về cái chỗ ông ta chưa sáng tỏ Phật lý, chưa biết
thế nào là lẽ chân thật của lý đạo, cũng có nghĩa là chưa tự “một” được trong
chỗ chân thật ấy mà dám đăng đàn thuyết pháp.
Aáy thế mà mở miệng ra là
nói đạo Phật là đạo của sự chân thật,
trong khi cái chỗ chân thật ấy ông ta hoàn toàn chưa thâm nhập “một” được với nó.
Mà đã không cùng một với nó thì làm sao dám thuyết rằng mình đã tỏ chỗ chân thật
của lý đạo được. Vì chỗ chân thật của lý
đạo thì độc hữu diệu mầu, mà chỉ có tự một với nó thì mới cảm nhận được một
cách trọn vẹn, không hư dối mà thôi. Mà một khi đã tự một với nó rồi, thì chỗ
nói chỗ nín luôn cùng đạo tương ưng, luôn khế hợp với đạo, cùng đạo dung thông,
sự lý vô ngại, chứ có đâu hễ cứ mở miệng ra là mắc quai, ràng buộc, trói cột
vào các pháp tướng như lối giảng thuyết của ông tà sư này. Ông chỉ như người mù
mượn đèn đi trong đêm tối, ấy thế mà lại còn xúi dục, dẫn dắt người khác cùng
đi theo ông, thật là chuyện khôi hài, hoang tưởng vậy.
Đời này mà có chừng mươi, mưới
lăm ông Pháp-sư giảng thuyết kiểu như ông ta, ắt là ma quỉ lộng hành, ngập tràn
khắp nơi, khắp chốn không sai.
Một người mù cả hai mắt đến thăm bạn. Lúc về, gặp trời
tối, bạn đốt cho cây đèn lồng để mang đi. Người mù nói, tôi mù thì dẫu có đèn
hay không đèn cũng như nhau, ông nhọc
lòng đưa đèn mà làm gì?.
Người bạn nói,
đành là ông mù, nhưng ông phải cầm đèn để cho người khác thấy ông mà tránh chứ.
Người mù thấy có
lý, hý hửng cầm đèn đi. Đi được một đoạn
thì … “rầm” một cái, có người đi đụng nhằm, cả hai lăn ra đất.
Người mù càu
nhàu : Bộ ông đui hay sao mà không thấy đèn của tôi?
Người kia cũng
càu nhàu cãi lại : ông cầm đèn mà đèn tắt từ hồi nào rồi, làm sao tôi thấy được.
Quả là chuyện khôi hài, nhưng
lại rất tương thích với việc tu hành và thuyết giảng “Phật pháp” của ông Chơn-Quang
vậy. Đúng là bọn mù tả voi.
Cũng chính vì Phật lý chưa
sáng tỏ, đạo lực còn non kém, đạo tâm chưa khế hợp được một chút nào với pháp
chân thật của Thế-tôn, nhưng vì thân tâm ông ta trong ngoài vọng động, nôn nóng
muốn ra thuyết pháp, muốn mau đắc quả, muốn được người đời ca tụng, sùng bái
như một ông thánh sống mà ông ta đã phải tự chuốc lấy hết sai lầm này đến sai
lầm khác trong các bài giảng rặc mùi ma thuyết, tà đạo mà ông ta cứ tưởng đó là
Phật pháp.
Do thân tâm ông chưa thanh tịnh,
còn quá gắn bó với lợi danh trần tục, tham trước sự tướng mà những ma sự vi tế
nhỏ nhiệm đã có cơ hội tăng trưởng và nương gá vào ông, khiến ông phụng sự cho
ma nghiệp mà ông hoàn toàn không hay biết, vẫn cứ luôn tưởng rằng mình đang vì
Phật sự mà hành đạo, đang vì lợi ích của chúng sanh mà thuyết Phật pháp.
Chúng ma nương gá vào ông, trước
tiên thuyết những điều đạo lý thường tình của thế gian mà ai ai cũng biết, cốt
để cho người ta tin là ông đang thuyết pháp Phật, rồi dần dà chúng chuyển
hướng, dẫn dụ chúng sanh khởi lòng ham muốn, mong cầu những cảnh giới khác lạ
với thế gian, như những gì mà ông đã từng thuyết : “nào là cái thế giới đó nó nhẹ nhàng hơn, nó làm cho mình an lạc vui hơn,
nào là cái thế giới đó có nhiều điều và chân lý sáng tỏ hơn, tôn ti trật tự và
ổn định hơn là cái thế giới của cõi người mình vv và vv…không sao nói hết”.
Thưa ông Chơn-Quang ! Ông có
biết rằng, như lời của Phật đã từng thuyết, sanh được làm người thì khó tới mức
nào chăng ? Như con rùa mù ngoài biển cả
mà tìm gặp được mảnh gỗ mục để gát đầu lên đó mà sống vậy.
Kiếp nhân sanh cũng như con
rùa mù tìm gặp được mảnh gỗ mục ngoài biển khơi, và cái kiếp phù du năm bảy nươi năm trong cõi thế cũng chẳng
khác con rùa mù nương tựa vào miếng gỗ mục. Tại sao Phật không nói con rùa
mà nhấn mạnh là con rùa muø? Tại sao
Phật không nói mảnh gỗ mà lại nói là mảnh gỗ
mục ?
Vì chúng sanh trong cõi hồng
trần đang bị nghiệp thức dẫn dắt, xô đẩy mà không biết tự làm chủ được mình,
như con rùa mù, nghĩa là không tự nhận ra bổn lai diện mục không giảm không
tăng, không còn không mất vậy. Và chỉ có Phật
pháp chân thật thì mới có thể làm cho người mù từ muôn kiếp được sáng mắt
ra để tự làm chủ và luôn tồn tại. Cũng như cái thân do bốn món hòa hợp, nay còn
mai mất có khác chi miếng gỗ mục phải bị ngâm nước và lúc nào cũng bị sóng to
gió lớn dập dồi không dừng nghỉ thì làm sao mà không dễ bị hư nát?. Thân người
hư dối, có không, còn mất cũng như miếng gỗ mục trôi lăn ngoài biển kia không
khác.
Nhưng ông có biết vì sao được làm thân người
là quí nhất chăng ? Vì chỉ ở loài người mới có Phật pháp vậy.
Aáy thế mà ông bị chúng ma nương
gá, khuyến dụ chúng sanh đi vào đường ma lối quỉ, thì biết đến bao giờ những
chúng sanh lỡ trót nghe theo ma pháp của ông
mới thoát khỏi nghiệp ma, để sanh lại làm người mà tu học Phật pháp hầu
giải thoát luân hồi sanh tử đây. Ông thật là vì tư lợi mà làm hại người quá lớn.
Đức Đạo-sư đã
từng ưu tư, lo lắng điều này sẽ xảy ra trong đời Mạt pháp, nên trong Pháp-hội
giảng thuyết kinh Lăng-Nghiêm, Ngài đã ân cần dặn dò Tôn-giả A-Nan và các Thánh
chúng : “Các ông còn chưa biết những ma
sự nhỏ nhiệm có thể xảy ra lúc tu Chỉ và Quán, đó là do việc thanh tịnh tâm ý
của các ông không khế hợp với pháp chân
thật, nên phải bị rơi vào tà kiến.
Do trong khi tu
tập, các ông cảm thấy hài lòng, thoã mãn khi có chút ít thành quả. Thí như Tỳ-kheo
Vô-Văn mới đạt được tứ thiền, nhưng lại vọng ngôn cho rằng mình đã chứng Thánh.
Khi phước báo cõi trời hết, tướng suy xuất hiện, liền nổi tâm sân giận mà phỉ
báng: “Chứng quả A-la-hán mà còn phải chịu tử sanh!”. Ngay đó ông ta liền rơi
vào ngục A-tỳ”.
Không ít những người con Phật tu Chỉ, tu Quán phản chiếu
tự tâm, đạt được chút ít thanh tịnh, có chỗ khởi tâm ngã mạn, thì cũng liền
ngay đó đi lệch chánh kiến giải thoát “ly
nhất thiết tướng” của Như-lai, để phải bị rơi vào tà kiến, do các ma sự nhỏ
nhiệm tiềm ẩn trong tâm thức một cách vi tế phát sinh. Tình trạng của ông Chơn Quang
cũng không ra ngoài trường hợp này, mà đó là điều không sai chạy vậy.
Xét về tướng mà nói, ông Chơn-Quang
chỉ được cái “lợi khẩu” khác hơn người, dạn miệng ăn nói trong chỗ đám đông thì
không ai phủ nhận, chứ những gì ông ta thuyết nếu không phải là các pháp ràng
buộc của thế gian thì cũng đều là nói phi
pháp, tà kiến một cách vô tội vạ mà thôi. Chúng tôi hy vọng sau này sẽ có nhiều
thời gian để mổ xẻ tất cả những mầm ung nhọt mà ông ta đã từng gieo rắc trong
thời gian qua cho chúng sanh bá tánh.
Khi mạnh dạn viết lên những điều
này, chúng tôi cũng biết rằng, ắt hẵn phải có nhiều người đặt dấu hỏi : “ông Chơn-Quang
có động chạm, thù oán gì với ông mà ông viết như thế?”. Xin thưa. Chúng tôi
không hề động chạm đến cá nhân ông ta, chúng tôi cũng chưa từng biết ông ta là
ai, ở đâu, mà chúng tôi chỉ nói cái chỗ lạc giòng của ông ta đối với đạo pháp,
nhất là ông ta thuyết tà pháp, dẫn người đoạ lạc vào ma nghiệp, đi ngược lại
chân lý giải thoát của Như-lai mà thôi.
Thật ra, đâu phải chỉ có mỗi
một mình ông ta là Tỳ-kheo, mà có cả hàng vạn, hàng triệu tỳ kheo đó chứ. Mà trong hàng vạn hàng triệu tỳ kheo
ấy, được bao nhiêu người biết đúng, làm đúng giáo pháp của Thế-tôn để tự giác
ngộ và độ người giác ngộ . Con số đi lạc chắc là không nhỏ, nhưng mà có ai động
chạm tới họ đâu, vì trong chỗ riệng tư,
thì nên hư, phước tội chỉ một mình người ấy thọ lãnh trong chỗ tâm linh, với tự
Phật của chính người ấy mà thôi.
Đằng này, đối với trường hợp
ông sư Chơn-Quang thì lại hoàn toàn khác với những người kia. Chẳng những ông ta
bị lạc đường mà ông ta không hề hay biết mình bị lạc, lại còn hô hào, dẫn dụ người khác cùng vào nẻo tà
như mình thì không một người nào có chút lòng từ mà không xót xa, không dè chừng,
không lên tiếng cảnh giác giùm cho những người đang ở giữa ngả ba đường của
chánh tà, ma Phật vậy.
Trong cuộn băng mới này, có đoạn
ông nói : “Đạo Phật là một đạo như
thật. Sự thật như thế nào, chúng ta phải cần biết đúng như thế, nói đúng như
thế, không thêm không bớt. Tinh thần của đạo Phật là như vậy; và trong cuộc
sống này, trong vũ trụ này, có những điều chúng ta không thấy nhưng không phải
không có, nó vẫn hiện hữu, ví dụ như sóng radio, mắt chúng ta không thể thấy
mặc dầu nó đang phát hằng ngày, hằng giờ ở trong cái không khí này, trong cái
trái đất, trong vũ trụ này, mà tuy nhiên nó là điều có thực mà người ta đã tạo
ra nó để xử dụng nó để truyền đi những cái thông tin, hình ảnh, mọi điều đến
với nhau trong cái khắp mọi cái ngõ ngách của trái đất này, cũng như truyền thông
tin liên lạc giữa cái vệ tinh ở ngoài vũ trụ về với trái đất.
Có những điều không
có, không thấy nhưng mà nó có, nó có hiện hữu, có lợi ích, có tác dụng, và thế
giới siêu hình cũng vậy là một điều mà đức Phật đã nói rất nhiều. Hiện nay
chúng ta ít nói thôi, nhưng mà chúng ta phải hiểu thế giới siêu hình, cái cuộc
sống của những người trong thế giới siêu hình có tác dụng, có tác động, có ảnh
hưởng đến cái cuộc sống của những người trong thế giới hữu hình này; và ngày xưa,
chúng ta không biết về điện, chúng ta không biết về sóng siêu âm, về tia laser,
về người ở thế giới cõi âm cũng vậy, khi mà chúng ta không biết chúng ta đã không
được lợi ích, chúng ta đã sống có một cái điều sai lầm từ cái sự không biết đó.
Ngày hôn nay, chúng
ta cần lọc lại điều đức Phật đã nói, và áp dụng trong cái ngôn ngữ, trong cái
hoàn cảnh của hoàn cảnh hiện tại, để chúng ta biết được một sự vật đang hiện
hữu và khi biết được điều đó chúng ta sẽ có cái đời sống, có cái cư xử nó đúng
hơn, nó tốt đẹp hơn. Nên điều đó không có gì lạ, khi mà chúng tôi chỉ nói một
số cuộn băng về vấn đề thế giới siêu hình, về những người cõi âm, những người
đã mất thì hoàn toàn là điều phù hợp với đạo Phật, là đức Phật cũng như cả với
tinh thần khoa học. . . .”.
Thưa ông Chơn-Quang. Chỉ qua
một đoạn trích ngang trong cuộn băng dài lê thê, lếch thếch, nói linh tinh mà không
biết trọng tâm ông muốn nói gì ngoài cái
việc biện minh dài dòng cho ma thuyết về cái thế giới vô hình yêu mị, bịa đặt
của ông; sự thật đã quá rõ ràng, được biểu hiện trên ngôn ngữ của ông, cho thấy, ông hoàn toàn dốt đặc về
Phật pháp, hoàn toàn không có một chút kiến thức tối thiểu nào về Phật lý,
ngoại trừ chỗ “lợi khẩu” mà ma quỉ đã ban cho ông, để ông nói lung tung, linh
tinh mà không biết thật ra mình đã nói gì, và cũng chẳng cần quan tâm đến người
nghe có hiểu được những gì ông đã nói
hay không.
Từ ngàn xưa đến nay, những bậc
Thầy, Tổ chơn chánh, vì lòng từ thương xót chúng sanh, cũng như để báo đền ân
đức Tổ, Phật trong muôn một, mà sau khi đã đạt ngộ, đã đắc pháp, các Ngài thường
“hạ sơn”, mượn một chốn thanh tịnh u nhã nào đó để thuyết pháp. Trong việc
hoằng hóa độ sanh, thông thường (chúng tôi nói là thông thường) các Ngài cũng lấy ngôn ngữ, văn tự làm phương
tiện độ người, xiểng dương Chánh-pháp.
Thế nhưng, mỗi lời các Ngài nói ra là mỗi lời vàng ngọc, mà dẫu cho châu báu
chất đầy khắp cả tam thiên thế giới cũng sánh không bằng được.
Tại sao như thế ? Vì mỗi lời của các Ngài nói ra, tuy ngắn gọn,
nhưng lại là những bài pháp thâm sâu, cao viễn, tuông chảy từ cảnh giới giải thoát,
từ Phật địa của tự tâm, không dính không mắc, không ràng buộc, như như, bất
động, nhưng lại có công năng làm mát ruột mát lòng chúng sanh đang bị nghiệp
thức vô minh dày vò, đốt cháy. Mỗi lời
của các Ngài nói ra như gươm bén toả hào quang, như điện xẹt, như tia chớp chực
chờ soi rọi, cắt đứt, phá nát, đốt cháy, tận gốc dây mơ, rễ má của tri thức kết
buộc với vô minh đã ăn sâu trong cốt tủy của mỗi người, để chúng sanh tự chuyển
tâm mà lìa tối ra sáng, tự mở trói buộc mà thoát.
Thế cho nên, trong kinh điển,
chúng ta thường thấy Phật nói, thiện nam tín nữ nào chỉ cần thọ trì bốn câu kệ,
là những lời vàng của Phật dạy trong kinh, thì phước đức của người này lớn hơn
gấp ngàn vạn muôn ức lần so với người lấy bảy báu của thế gian là vàng, bạc,
lưu-ly, xà cừ, mã não, san hô, hổ phách được chất đầy cả tam thiên đại thiên
thế giới ra bố thí. Vì cớ sao ? Vì một
Phật tử chơn chánh biết “như pháp thọ trì” chỉ bốn câu kệ, nghĩa là biết nương
lời vàng của Thế-tôn thể hiện qua bốn câu kệ mà được thấy tánh, cũng là ngộ
Phật tánh, thì phước đức của người này là hy hữu đệ nhất rồi, còn sá kể chi đến
chút phước đức hữu lậu do chỗ bố thí bảy báu trên kia. Bỡi cớ sao ? Vì phước
đức mà người thọ trì chỉ bốn câu kệ mà sanh được thật tánh, chính là “Tánh
phước đức”, là phước vô lậu, cũng là công đức hy hữu, vô lượng vô biên bất khả
tư, bất khả nghị vậy. Còn phước đức của người thí báu kia, tuy cũng to lớn
nhưng còn có ngằn mé, vì là phước hữu lậu, hữu vi, là “Tướng phước đức” còn bị
trói buộc trong chỗ có không, tăng giảm, mất còn, biến hiện trong sanh diệt pháp
vậy.
Với các Ngài, tuy nói ít nhưng
công năng làm chuyển tâm Phật tử, làm cho chúng sanh được lợi lạc thì lại rất
nhiều. Bỡi cớ sao? Vì phàm phu thính pháp
chẳng phải chỉ có dùng cái tai mà nghe thôi đâu, mà thường là dùng đến cả các
căn khác để mà thính pháp và có lúc nhờ một trong sáu căn ấy mà tỏ ngộ, chứ đâu
phải chỉ tai, mắt hay ý không thôi. Mà một khi bất cứ một căn nào sáng tỏ, thì
tất thảy các căn khác cùng nó tương ưng, cùng tự “một” khế hợp với lý đạo, cũng
là liền ngay đó tất thảy sáng suốt, vì chỉ
một căn thông thì tất thảy dung thông, cùng
tự “một” đồng pháp giới tánh vậy.
Đó chính là cái hay, cái giỏi,
cái chỗ bất khả tư nghì của các Ngài
vậy.
Còn với ông Chơn-Quang thì
sao ? Thật tình mà nói, với cái tài
“thuyết pháp” tràng-giang đại hải, với hàng nhiều trăm đầu băng Cassette
“thuyết pháp Phật” của ông Chơn-Quang như trên mạng có quảng cáo, và chúng tôi
cũng đã có nghe qua một số băng, thì tự có chỗ khẳng định, kết luận cho riêng
chúng tôi :
1. Ông Chơn-Quang nhờ trời phú
cho cái miệng hay nói, được cái số “Lợi Khẩu”, bị ma nương gá nên “nói pháp” mà
không cần biết trúng trật, đúng sai vẫn cứ nói, miễn là được nói cho thoã thích
và chỗ nói ấy có lợi cho tự ngã, củng cố lợi danh, phát triển ma nghiệp là
được.
2. Ông Chơn Quang không hề biết
sợ là gì, vì trong chỗ thật tâm hành trì Phật pháp, ông chưa đạt được đến chỗ
sáng bổn tâm, tỏ tự tánh, thông Phật lý, cùng “một” với lẽ đạo, sự lý tương
ưng, để có thể nói là tùy thuận nhân duyên mà độ sanh; thế nhưng ông vẫn cứ
thuyết càn. Cho nên, vì chưa đắc pháp, chưa thật sự tỏ ngộ thật tánh, chưa tự
độ được mình, trong khi tâm vọng của lục trần lôi kéo, tham trước sự tướng, ông
ta đã nhanh chóng bị chúng ma lợi dụng nương gá mà thuyết tà pháp để làm lợi
cho Ma nghiệp vậy.
Chúng tôi sẽ giải thích cặn kẽ những điều đã
nêu vào một dịp khác, riêng trong khuôn khổ của bài viết này, chúng tôi đặt
trọng tâm vào câu ông ta nói, rằng, “Đạo
Phật là một đạo như thật”, xem trường hợp ông ta nói ra câu bất hủ đó, ông
ta có thật sự hiểu như thật được ý
nghĩa đích thực của câu nói ấy hay không, hay là ông ta chỉ biết nói như vẹt. Bỡi
câu nói, đạo Phật là đạo như thật, tức
là dùng con mắt tâm để thấy, để biết như thật hay không như thật, chứ chẳng phải
dùng nhãn căn, nhãn thức và thế trí hư huyễn mà có thể thông tỏ, thấu suốt được.
Vì một khi đã nói là chân thật, thì chỉ có một chân thật duy nhất mà thôi, đó
là đạo, không tăng không giản, không diệt không sanh, không chung không thỉ
vậy.
Trước hết chúng ta nên tìm hiểu
xem thế nào là “Đạo Phật là đạo như thật”.
Đây là lời của Phật và chư Tổ
ngàn xưa đã nói, và chỉ có những người đã đắc pháp, hay nói chính xác hơn, bất
cứ những Phật tử nào chợt tỏ ngộ, nghĩa là kiến tánh, là chợt sáng tỏ Phật tâm
cũng là nhận ra bổn lai diện mục thì liền tự có chỗ thấy biết như thật, rõ ràng
minh bạch “đạo Phật là đạo biết như thật”
mà trong đây không có thể dùng lời lý giải. Và dẫu cho có lý giải cũng chỉ là làm cái việc gãi ngứa ngoài
giày mà thôi.
Ơû đây cũng vậy, chúng tôi cũng chỉ tạm mượn ngôn từ
làm phương tiện mà nói chuyện ngoài da, nhưng cũng đủ công năng để tách bạch trắng
đen cái chỗ ông Chơn-Quang đề cập, là ông ta thật tình biết như thật mà nói hay
là ông ta nói vẹt, nói thuộc lòng .
Thế nào là biết
như thật? Nghĩa
là vừa chợt tỏ ngộ tự tánh, thì chỗ thấy biết ấy tự một trong hiện thực tuyệt
đối, một trong pháp giới tánh, không trước không sau, không năng không sở,
không thỉ không chung, vượt thoát không gian và thời gian, nghĩa là thời gian
và không gian không chỗ dính dấp phi khái niệm, liền ngay đó mình là đạo, đạo
là mình, vạn pháp chu lưu trước mắt như huyễn, nói mắt mà không có mắt mà thật
ra không đâu không thấy, chỉ một Phật tâm này là thật, không giảm không tăng,
không sanh không diệt, không sạch không nhơ, không còn không hết, mà như như
sáng trong bất động.
Ngay lúc ấy mà nhìn lại mình
và vạn pháp, rất thật chẳng khác như sóng với nước.
Vừa chợt động một niệm thì liền
là chúng sanh; tự như trong thể tánh độc hữu diệu mầu thì liền tỏ rõ Phật đạo, thanh tịnh, sáng suốt.
Trọn một trong tánh quang ấy
là thánh trí, thì dẫu có đem miệng mồm ra nói pháp, nói suốt ngày, suốt buổi thì
nói sao cũng vẫn trúng; nói gãy lưỡi, mỏi miệng cũng không ra ngoài giòng đạo
pháp, không chỗ ràng buộc, dính dấp, vì tự như với vạn pháp, như bụi trong ánh
sáng. Chúng sanh, vạn pháp như huyễn, biến hiện, mất còn là bụi; thể tánh chơn
như, sáng trong lặng lẽ, không sanh, không diệt, không biến không hiện ví như
ánh sáng.
Bằng chưa tỏ ngộ tự tánh mà cứ
dùng thế trí hư vọng, hay tưởng tượng ra mà nói như trường hợp ông Chơn Quang
thuyết về điện, về laser, về chúng sanh trong cõi âm, trong cảnh giới vô hình
vv. . . , rồi cho đó là chỗ thấy chân thật, thì đó là chỗ thấy biết sai lầm, là
lối giảng pháp tà kiến, trói buộc, dính mắc, lầm lạc vào tất thảy các pháp
tướng. Cho nên, câu nói “đạo Phật là đạo
như thật” đối với ông ta thật vô nghĩa, vì chỗ thấy như thật ấy của ông ta
hoàn toàn sai lầm, trước tướng, chẳng chân thật như ý Tổ, Phật muốn nói. Câu ông nói ra đó chỉ là sự bắt chước, học
thuộc lòng, như con vẹt nó cũng có thể nói được huống là chú sa di bảy tuổi.
Oâng ta chỉ biết mượn câu nói ấy để làm vốn nói, chứ chẳng phải thật sự tự
“một” trong chỗ như thật, hay biết như thật, thấy như thật của con mắt
pháp, không đâu không có mắt. Nói không đâu không có mắt, nhưng thật ra chẳng
có con mắt nào ngoài một tánh thấy độc hữu diệu mầu của Phật tự tâm.
Bỡi cớ sao ? Vì ông Chơn-Quang đưa câu nói chân thật của Tổ,
Phật ra để thuyết, để lòe, nhưng khi giảng thuyết lại tự trói buộc với pháp sanh
diệt, hoàn toàn không có chỗ dính dấp với Đạo vậy. Vì sao, vì chúng, như ông đã tự nói ra, là khoa
học, mà chính xác hơn phải gọi là huyễn pháp sanh diệt. Không thể cho rằng điện,
laser, hay chúng sanh trong cõi âm, trong cảnh giới vô hình nào đó mà không ai
nhìn thấy được, nhưng mà nó có thật, rồi cho rằng chỗ thấy biết ấy là thật, rồi
phán rằng đạo Phật là đạo như thật được. Hoàn toàn không phải ý của câu nói
trên như vậy đâu, thưa ông Chơn-Quang. Oâng chỉ biết dùng cái con mắt thịt
(Nhục nhãn) cùng cái thế trí hư vọng bị ma nương gá để nhìn sự vật một cách
trói buộc mà phát ngôn rằng thấy chân thật, thì ông đã lầm to rồi. Chỗ thấy
biết của ông đó còn trói buộc trong tri kiến, hoàn toàn khác xa với cái thấy
biết chơn thật bằng tuệ nhãn, pháp nhãn không đến, không đi của người xưa, của
những vị ngộ tánh. Chỉ có ai vừa chợt mở được con mắt tâm thì mới thấy như thật,
biết như thật thế nào là đạo Phật là đạo
như thật, mà không thể dùng lời lý giải vậy. Bằng lý giải được thì hoàn
toàn tự xa lìa chỗ chân thật ấy rồi.
Oâng không thể đem những cái
thấy biết của kiến, văn, giác, tri ấy ra mà chứng minh cho cái thấy biết chân thật
của con mắt tâm được. Ngàn lần không được và hoàn toàn không phải như ông đã
thuyết.
Đó điều chân thật mà cũng là
ý chúng tôi muốn nói, mắt tâm ông chưa mở mà dám đăng đàn thuyết pháp, cũng như
không sợ bị mang tội vậy. Oâng nương vào cái lợi ích của huyễn pháp sanh diệt
để làm chi, và hô hào người khác trụ vào chỗ lợi ích đó có giúp cho ai vượt
thoát được sanh tử chăng ?
Do ông chưa tỏ ngộ lý đạo nên
ông mới có chỗ thuyết ràng buộc, trước tướng, lầm lạc như thế. Chứ nếu một khi
ông đã tỏ ngộ rồi, thì dòm lại ông mới thấy công phu ông tu học vừa qua, cũng
như sự thuyết giảng hàng ngàn cuộn băng đó chỉ là pháp trói buộc, hoàn toàn vô
bổ, không chỗ dính dấp tới đạo vậy.
Vì cớ sao ? Vì ông chỉ đem chút
ít kiến thức của thế gian, của cái mà ông gọi là khoa học đó và cái chỗ lợi
khẩu của ông ra thuyết càn, để bịp người, chứ ý nghĩa của câu “Đạo Phật là đạo
như thật” hoàn toàn chẳng phải như ông nói.
Chỉ có người ngộ tánh thì mới
có chỗ thấy biết thế nào là “NHƯ THẬT” được. Cái chỗ “NHƯ THẬT” này chẳng khác
“NHƯ THỊ” ở mỗi đầu kinh vậy.
Một khi thấu tỏ được như thật,
không chỗ dối lòng, không chỗ lừa tự-Phật hai chữ “Như Thật”, “Như Thị” này thì
chắc chắn lúc đó ông cũng sẽ tiếc lời như chư Tổ ngày xưa không khác, thật cần
nói mới nói, vì mỗi lời ông thốt ra không ngoài mục đích khai thị cho người,
hay giúp người bỏ tối tìm sáng, mà tâm ý, căn cơ, pháp hành của những chúng
sanh đối diện, ông đã rõ thảy, và luôn
luôn cẩn trọng từng lời một vậy.
Tại sao chư Tổ nói đạo Phật là đạo như thật. Cũng có
thể nói, vì chợt ngộ tánh thì thấy tất thảy các pháp đều như huyễn, chỉ có thể tánh
là chân thật. Nhưng nói như vậy cũng chưa thật trọn vẹn và sáng tỏ lắm.
Phải nói rằng, đạo Phật là đạo như thật ở chỗ, các huyễn
pháp không thể dối lừa tánh thấy, tánh nghe, hay chính xác hơn, thật tánh là
chủ của vạn pháp vậy.
Một khi đã tỏ ngộ tự tánh, thì thấy như thật, biết như
thật chỗ vạn pháp xuất sanh, từ chỗ chơn không mà sanh diệu hữu, từ chỗ thanh
tịnh như như mà liền có chỗ động tay múa chân, xuất sanh vạn pháp, chẳng khác
như sóng cùng nước, tự chẳng phải một, chẳng phải khác, lại cũng không
hai. Đó chính là chỗ, sắc tức thị không,
không tức thị sắc, sắc bất dị không, không bất dị sắc, dùng con mắt tâm mà nhìn
thì thấy như thật, biết như thật chứ đem nhục nhãn và thế trí ra mà thấy biết như
ông đã thuyết đó cũng chỉ là ngoài da, là trước tướng thôi, chẳng phải tự mình đồng một trong nó vậy.
Oâng còn chưa mở mắt, lối giảng thuyết của ông còn quá trói buộc với các pháp
tướng, thế thì làm sao có đủ công năng
để có thể khiến người mở mắt được. Rõ là, kẻ mù mà dẫn người đui, thật tội nghiệp.
Nói về lẽ thật, nhân đây chúng tôi xin cử ra vài câu
nói của chư Tổ để ai có duyên thì ngay đây cũng được hé mắt chút ít, vì chỉ là chỗ
đùa bỡn của chư Tổ để phương tiện giúp người trong chỗ tiểu nghi, tiểu ngộ vậy.
“Một vị Tổ hỏi
chúng :
- Như ba người
lầm lũi đi trong mưa, hai người ướt sao một người chẳng ướt?”
Cái chỗ thấy biết như thật cỏn con ở đây, rõ
ràng không có gì che dấu phải không ?
Hoặc : “Thí như con trâu kia, đầu sừng, bốn chân, mình mẩy qua lọt, sao cái đuôi
qua không lọt?”
Cái chỗ như thật ở đây nào có ai che dấu, bưng bít hay
làm cho khuất lấp đâu, chỉ có do tự mình khởi sanh vọng niệm mà mới không thấy
nó là như thật mà thôi.
Hoặc : “Có người hỏi một vị Tổ : - Người đã tỏ ngộ khi chết đi về đâu?
Tổ đáp : - Ta không biết, vì ta chưa chết.
Một sự thật quá rõ ràng như thế,
mà đó lại là Phật pháp mới chết chứ, nhưng ít người nghĩ tới.
Hoặc : “Một vị Tổ giỏi vẽ. Có người đến trêu :-Bạch Hoà thượng, vẽ giùm con cảnh
“Trực chỉ nhân tâm, Kiến tánh thành Phật”.
Tổ vẽ đầu tóc mặt
mũi xong, rồi đưa bức ảnh ấy cho ông ta.
Ông khách thắc mắc : - Đây chỉ mới có ảnh trực chỉ nhơn
tâm. Thế còn bức ảnh “Kiến tánh thành Phật” đâu ? Tổ bảo : Người đưa tánh ra đây cho ta thấy thì
ta mới vẽ được”.
Rõ ràng tất thảy đều là sự thật mà.
Qua vài câu nói đơn sơ, mộc mạc của chư Tổ ngày xưa,
một điều mà chúng ta thấy rõ nhất là các Ngài rất hà tiện lời nói, nhưng mỗi lời
nói ra đều như vàng ròng để dành sẵn, chực chờ ban bố cho những kẻ cơ hàn. Bỡi
cớ sao ? Vì các Ngài là những người đã
thật sự biết như thật, thấy như thật như
nhìn thấy chính bàn tay của mình, vì đạo Phật là đạo biết như thật mà.
Còn việc giảng pháp trói buộc, lầm lạc, tà kiến, phi
pháp của ông Chơn-Quang thì sao ? Giống như
ông tích lũy hàng vạn bao bụi trần, để sẵn sàng ban phát cho những người ham
thích tu Phật, nhưng vì không biết mà lầm vào cữa ông, để họ phải ôm nợ nhiều
đời vậy. Những gì ông thuyết, chẳng những không đem lại được chút lợi ích nào
cho chúng sanh trong sự nghiệp giải thoát thì chớ, mà còn dẫn dắt người khác
đọa lạc vào đường ma, lối quỉ như ông ta nữa.
Thật là tội nghiệp.
Chướng Ma Ðời Mạt Pháp
" Ba i 10
Chướng Ma Ðời Mạt Pháp
" Ba i 9
Chướng Ma Ðời Mạt Pháp
" Ba i 7
Chướng Ma Ðời Mạt Pháp
" Ba i 6
Chướng Ma Ðời Mạt Pháp
" Ba i 5
Chướng Ma Ðời Mạt Pháp
" Ba i 4
Chướng Ma Ðời Mạt Pháp
" Ba i 3
Chướng Ma Ðời Mạt Pháp
" Ba i 2
Chướng Ma Ðời Mạt Pháp
" Ba i 1
Nghe phần âm thanh
Trang Mục Lục - Trích đoạn những
bàii giảng của "Sư" Chơn Quang
Trang Quan Ðiểm
Trang chính