

(Unicode fonts)
Bài VI
Thuyết về Khoa-học Tính-dục.(Tiếp theo bài Thuyết lý Âm-Dương).
I. Trong bài thứ 5 (Thuyết lý Âm-Dương) của loạt bài "Chướng ma đời mạt pháp", chúng tôi đã không ngần ngại gì mà không chỉ thẳng ra những chỗ sai trái, dâm ô, tà mị mà Ông Chơn-Quang đã cố tình lợi dụng việc thuyết pháp Phật để lồng vào đó những lời lẽ thô thiển, dung tục, những ý tưởng đồi trụy, đen tối, nhằm khêu gợi lòng ham muốn, tánh tò mò để kích thích tâm ái-dục của người nghe, mà điều xót xa nhất, khủng khiếp nhất là làm khuấy động, làm vẩn đục những tâm hồn trong trắng, trinh bạch của các Tỳ-kheo-Ni trẻ tuổi đang trên đường cầu pháp thanh-tịnh.
Theo sự hiểu biết, qua mắt thấy tai nghe, qua sách vở, kinh điển cũng như kiến thức góp nhặt được trong suốt cuộc đời, tôi chưa từng thấy biết một người con Phật chơn chánh nào, xuất gia cũng như tại gia, có lối giảng pháp dâm tà đến thế, mà rặc chỉ có bọn ma đội lốt Phật mới ưa thích làm những việc như thế này.
"Có bao giờ quí Sư-cô có nghe trong Ðạo Phật giảng lý Âm-Dương chưa? Chưa, không, rõ ràng như vậy. Ðâu có kinh nào Phật nói về lý Âm-Dương đâu? Vậy mà ở chùa tôi, tôi nói về lý Âm-Dương cho đệ tử tôi nghe ! ! !"
(Trích băng Giới luật, do Ông Chơn-Quang giảng).
Nhưng cái "lý Âm-Dương" mà Ông đã thuyết cho các Sư-cô nghe ở đây thì hoàn toàn không có chút gì dính dấp tới lẽ huyền vi trong chỗ khai thiên lập địa (vũ trụ), cũng như chẳng có chút gì đề cập tới lẽ sống "nhơn-nghĩa-trung-chánh" (nhơn sinh) để biểu hiện cái Ðức "nguyên-hanh-lợi-trinh" vần xoay không ngừng nghỉ trong một vòng tròn luôn khép kín nhưng có trật tự và chí Thiện, chí Mỹ của Thiên lý, của Ðạo; cũng có nghĩa là Ông không thuyết gì về vũ trụ quan, và nhân sinh quan, cũng là tính biến-đổi không ngừng nhưng trật tự của Dịch-lý, mà chỉ loay hoay với mớ kiến thức tầm thường, phô bày cái tâm ý đồi-trụy, cái đầu óc bại hoại , luôn xoáy đi xoáy lại trong chỗ bản năng tính dục, sự giao phối của giới tính, giữa các loài trống mái, đực cái, nam nữ mà thôi.
Ông Chơn-Quang đã không biết kiêng tâm, tịnh ý, không biết dùng cái miệng thanh khiết của một Thích tử xuất gia để làm gì, khi tuôn ra những lời quá ư tà dâm, thô tục, mà hàng phàm phu, mới nghe qua, cũng cảm thấy khó chịu, sượng sùng, ái ngại giùm Ông; còn hàng Phật tử chơn-chánh thì xót xa đau lòng khi thấy Ông lợi dụng pháp toạ thanh tịnh của Phật để thuyết ma-pháp, hòng cố tình bôi đen Phật và làm nhơ uế chánh pháp của Ngài.
Ông đã lợi dụng chiếc áo pháp đang mặc làm bình phong để che mắt thế gian, lợi dụng sự tự do của Ðạo-Phật, đã nhân danh Phật và pháp của Ngài để, thay vì xiển dương chánh pháp nhằm dẫn dắt chúng sanh cứu cánh giải thoát, thanh tịnh Niết-bàn, thì Ông lại làm cái việc ngược lại, thuyết ma pháp, cố tình trói buộc, xô đẩy người cùng vào ma nghiệp như Ông.
Ðã thế Ông còn không biết ngượng mồm, ngượng miệng, không sợ tội khẩu dâm, ý dâm phải vướng mắc, phải đeo mang theo nghiệp thức, quên hết cấm giới, luật nghi, cố tình lôi kéo người khác vào ma-đạo để làm dân của Ma-vương, khi dám trắng trợn tuyên bố, rằng, "cái giới dâm này là cái giới hấp dẫn nhứt, Phật pháp xưa nay cấm không cho nói tới, nhưng hôm nay chúng ta phải đào cho thật sâu để tìm hiểu nó".
Chúng ta nào ? Chúng ta là ai? - Những người tu Phật chơn chánh rất sáng suốt mà nói thẳng với Ông rằng, chỉ có Ông, chỉ có mỗi riêng Ông, chỉ một mình Ông đang làm cái việc hủy phá cấm giới, xâm phạm luật nghi của Phật, tự tạo đại ác nghiệp mà thôi; Ông nên đừng cố tình đánh lận con đen trong việc dùng từ ngữ, để hòng đánh lừa mà trói buộc người khác vì vô tình, vì nhẹ dạ, vì không biết chỗ thâm hiểm của ma-đạo mà cùng bôi đen mặt mũi và trước ma-nghiệp vào thân như Ông.
Chỉ có Ông, chỉ một mình Ông, chỉ riêng Ông đang chủ-động thuyết tà pháp của lũ Ma-đăng-già dâm-ô, đồi truỵ hòng lôi kéo, xô đẩy những người sốt sắng muốn hướng tâm về với Phật đạo, nhưng vì không biết phân biệt đâu là chánh tà, đang ngồi trước Bảo-tọa thanh tịnh của Như-lai, trong đó có cả những Ni-cô trẻ tuổi, hồn nhiên, trong trắng, ngây thơ đang trên đường tìm hiểu giáo lý giải thoát của Phật.
Chỉ có Ông, chỉ một mình Ông, chỉ riêng Ông phải nhận lãnh ác nghiệp mà thôi, chứ không phải thêm ai khác, nên Ông chớ có vơ đũa cả nắm mà dùng từ "chúng ta" hòng trói buộc người vô tình vào đường ma, lối quỉ. Ông không nên và không được lôi kéo những người còn tinh anh, trong sạch phải nhúng chàm như Ông.
Ông bảo "phải đào cho thật sâu để tìm hiểu nó" ! ?
- Ơi trời! Thưa Ông. Ông là người tu hành, hơn thế nữa lại là một Tỳ kheo, một đệ tử xuất-gia của Phật, là người mà chúng sanh gọi rằng Thầy, là người thay mặt cho Phật, thuyết Pháp thanh-tịnh của Phật để dạy dỗ, dìu dắt người thế gian sớm rời lìa tử sanh phiền não, thế mà Ông lại cứ khoái thuyết về chỗ bất tịnh, cũng là lẽ sống của Ma-vương và đồ chúng.
Ông đã cố tình hủy phạm cấm giới, phá vỡ luật nghi của Phật đặt ra, khi nói : " À, tôi xin lỗi trước, là khi mà chúng ta nói về giới, nhất là nói về cái giới dâm, thì chúng ta đào về những vấn đề này nó khá nhiều, nói nhiều vấn đề mà nhiều khi chúng ta cấm kỵ mà hồi nào tới giờ mình không dám nói phải không, mình không dám nói, không dám hỏi. Nhưng mà hôm nay khi chúng ta nói về điều này, buộc chúng ta cứ phải nói thẳng, nói thẳng tơí, chúng ta phải đối diện với nó một cách rõ ràng ra để hiểu nó, thì có những người ở đây, ngồi đây cũng rất kinh nghiệm, cũng có những người không có kinh nghiệm, thì chúng ta cứ trao đổi với nhau. Mà nhất là những vị có kinh nghiệm, nếu thấy tôi nói điều gì sai, thì cũng xin góp ý giùm để mọi người cùng, cùng được hiểu biết. Ở đây chúng ta phân biệt hai loại là tham dục và luyến ái . . . ."
Thưa Ông! Với những lời tanh tưởi, thối tha, sỗ sàng, trân tráo, thể hiện cái tâm ý đồi trụy, nhơ nhớp, rặc mùi tà ma, quỉ mị của lũ Dâm-Ma, thốt ra từ miệng Ông, chúng tôi có cảm tưởng dưới mắt Ông dường như không còn có Phật, không còn Tổ, không còn gì là giới luật Ba-la-đề-mộc-xoa cũng là Thầy cõi thế của Ông trong đời này nữa. Dưới mắt Ông dường như không có Giáo-hội, không có Tín đồ, Phật tử, bá tánh, cũng là cái nôi, cái bình sữa, miếng cơm manh áo nuôi dạy, cưu mang Ông tới ngày hôm nay. Dưới mắt Ông, tự Ông như một con ngựa hoang buông thả, không ai có thể kềm chế nổi.
Ðạo Phật vượt hơn tất cả các Tôn-giáo khác trên thế giới, là ở chỗ, nó là một Ðạo tự do. Ai muốn tìm hiểu chơn lý giải thoát của Phật để có thể tự rời lìa khổ đau, phiền não, tử sanh cho chính mình thì vào, thì cứ tìm hiểu và nương theo pháp chơn chánh đó mà tu hành. Không thích, không muốn nữa thì ra, không ai trói buộc, ngăn cản hay cấm đoán. Không ai có quyền năng ban phước hay tha tội cho ai, mà chỉ có tự mình gieo nhân nào thì tự mình gặt quả nấy mà thôi. Aáy chính là chỗ tự-do của Ðạo Phật.
Nói tự do, nhưng trong Giáo-pháp vẫn có luật nghi, cấm giới rõ ràng minh bạch, và phân-định khác nhau cho từng đối tượng phát tâm tu hành trong hiện tại: Giới-luật dành riêng cho Sa-di, cho Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-Ni, cho thân cận nam, thân cận nữ vv…không sao kể hết. Nhưng tất cả những giới luật, giới cấm này không ra ngoài mục đích bảo vệ sự trong sáng, sự an-nguy tồn-vong của Phật đạo, kích thích sự tinh tấn cho mọi đối tượng được tiến tu, thân tâm được an lạc, trí tuệ được khai mở, để tùy công phu của mỗi người mà có chỗ cao thấp, lâu mau tự thành tựu công đức, cứu cánh Niết-bàn, viên mãn giải thoát như Phật không khác.
Cho nên, không thể nói rằng: Phật diệt độ đã nhiều ngàn năm, giới luật của Phật đặt ra đã lỗi thời, ngày nay không còn thích hợp nữa, rồi ai muốn nói gì thì nói, thuyết gì thì thuyết. Trong luật nghi mà Tổ, Phật đặt ra, theo thông lệ xưa nay, nếu có chỗ nào, có điều gì không phù hợp với thật tế, theo hoàn cảnh lịch-sử của từng không gian và thời gian, thì đã có Giáo-hội trách nhiệm lo liệu. Giáo-hội là những người, trong chỗ tín tâm, đại diện tối cao cho ba ngôi Tam-bảo, cho toàn thể tín đồ Phật-tử trong cõi Ta-bà này, sẽ tu chính, sửa chữa luật nghi sao cho phù hợp với thật tế trước mắt, mà sau đó người tu Phật phải tuân thủ, chứ hoàn toàn không phải nói đạo Phật là Ðạo tự-do, rồi ai muốn nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm, vượt ra ngoài giòng đạo pháp, và luật nghi của Phật đặt ra được.
Một người tu Phật mà tự thân vượt quá luật nghi, cấm giới còn pháp hành thì xa lìa chánh đạo, thì làm sao có thể gọi là một Phật tử chơn chánh được, mà đó là chỗ hành của Ma-vương và đồ chúng vậy.
Không biết trước khi Ông nói tiếng Phật, trước khi Ông bước lên Ðại hùng Bửu điện lễ Phật, trước khi Ông thăng toà thuyết pháp Phật, Ông có thành kỳ tâm, hoà kỳ ý với mười phương Như-lai, ba đời chư Phật, chư Bồ-tát không, có nhớ đến chơn ngôn Phật dạy, để biết thế nào là tịnh tam nghiệp thân-khẩu-ý mà tự lìa nhứt thiết nghiệp chướng chăng? Chứ riêng kẻ viết những bài này, tuy trong chỗ vô tâm, không ngoài mục đích làm trong sáng giáo-pháp của Thế-tôn, làm cho chúng sanh thấy biết đâu là chỗ sáng sủa thanh tịnh của Phật, đâu là chỗ đen đủi, tối tăm, đọa lạc của ma-vương, để làm thức tỉnh mà lợi lạc chúng sanh, chúng tôi cũng đã phải trăn trở, suy tư, ăn năn, sám hối, và rất sợ, rất sợ tam nghiệp phải tự đeo mang, nếu những gì mình nói ra là sợi dây trói buộc trả vay trong nhơn quả, nếu những gì mình viết ra không hợp tâm ý Tổ Phật, đắc tội cùng các Ngài và Pháp của các Ngài.
Chỉ là một Phật tử, một thân-cận nam tu Phật bình thường như bao người khác, nhưng khi nghe những cuộn băng Ông thuyết giảng, thật sự chúng tôi không tìm thấy ở Ông một điểm son nào để có thể tin-tưởng rằng Ông đang thuyết pháp Phật cách chơn thật để có thể dẫn dắt người vào chánh đạo cả. Những lời Ông nói, Ông thuyết hầu hết đều sáo rổng, nhai lại, cường điệu, khoa trương, giảng sai ý kinh, nói và làm ngược lại tâm ý Tổ Phật và Pháp của các Ngài (sẽ phân tích tỉ mỉ trong những bài kế tiếp qua những cuộn băng Ông thuyết), mà một phần lớn những gì Ông thuyết đều có lồng vào chỗ kích khởi dục tình người nghe mà thôi.
Thật ra, do tâm sinh lý, đặc biệt là trạng thái tính dục trong Ông bị ức chế quá mạnh mẽ nên Ông cần phải tìm cách nói ra để giải toả, cho vơi bớt, cho hạ hỏa chứ không thể nói rằng những chỗ Ông nói như vừa nêu là những bài thuyết pháp Phật, để có thể khiến người nghe, người ham cầu đạo nương đó học hỏi mà giải thoát phiền não, sanh tử được.
Tự chính Ông cũng đã biết rất rõ rằng, mở miệng nói chuyện gái trai, âm dương, tính dục, ái dục là hủy-phá luật nghi, xâm phạm cấm giới mà từ ngàn xưa pháp Phật đã nghiêm dạy, nó phải được giữ gìn cách trong sáng, không được sai sót, thế mà Ông cũng còn "cố phạm"; chỉ bấy nhiêu đó thôi cũng đủ cho thấy Ông là hạng người nào.
Ðã thế mà đến giờ này vẫn có người còn mê mờ, lầm lạc, không biết, không thấy chỗ tà mị, dâm ô, bại hoại của Ông Chơn-Quang , còn suy tụng Ông ta mà cho rằng : "Phật-giáo đi vào cuộc đời để góp sức xây dựng một thế giới an vui, đạo đức - qua lối giảng của Thầy Chơn-Quang". !!!
Câu nói vừa nêu hoàn toàn đúng ở vế trên, vế thứ nhất : "Phật-giáo đi vào cuộc đời để góp sức xây dựng một thế-giới an vui, đạo-đức", đúng một trăm phần trăm không sai chạy, vì đó là chân lý, mà tự ngàn xưa, từ lúc đức Thế-tôn chuyển Pháp-luân, hoằng dương Chánh pháp cho đến ngày nay, không ai có thể chối cãi thật tế này. Vì Phật pháp là như vậy; chẳng phải vậy thì chẳng phải là Phật pháp, chẳng thể hiện lòng từ bi vô lượng của chư Phật, chư Bồ-tát.
Còn vế thứ hai, vế sau, "qua lối giảng của Thầy Chơn-Quang" , thì mọi người trong chúng ta nên tự sáng suốt, tư duy để tìm ra lẽ thật, chớ vì để chút cảm tính xen vào tri giác mà làm mờ tuệ giải thoát, uổng phí công phu mà mình đã bỏ ra khi tin theo ma pháp mà tự dấn thân vào ma đạo.
Chúng ta học hỏi được gì "qua lối giảng của thầy Chơn-Quang", khi chính ông ta đang thuyết ma-pháp để dẫn người vào ma-đạo, làm dân cho ma-vương, đọa lạc vĩnh kỳ trong ma nghiệp?
Không phải chúng ta không nên thuyết, hay không nên nghe thuyết về lý Âm-Dương, về tâm sinh lý học, hay về khoa-học tính-dục. Không chỉ riêng các Sư-cô mà ngay cả các Tỳ-kheo trẻ tuổi cũng cần phải biết qua môn học này để tự thấy rõ mọi chuyển biến tâm-sinh lý của thể chất xảy ra từng giai đoạn trong cuộc đời của chính mỗi người, để mà lường trước hết mọi việc. Biết, đó là điều có lợi để nhận ra chỗ huyễn sanh, huyễn diệt, các pháp vui, khổ đều không thật, đều hư vọng, đều ảo hoá, có đó không đó để mà tự khẳng định ý chí mình, tự kềm chế bản ngã và tin tưởng tuyệt đối vào pháp Phật để tự khép mình vào giới luật mà tu hành cho tinh tấn.
Nhưng chỗ thuyết này tự chính nó phải thật trong sáng, phải tương hợp, tương thích cách chính xác, nghĩa là khi thuyết phải đúng đối tượng, đúng nơi, đúng lúc và nhất là đúng pháp. Một Tỳ kheo trẻ dù có chỗ chứng đắc tới đâu, có là Á thánh ngay trong cõi này đi nữa, dù là đã tự thể hiện vô ngã trước mắt (riêng Ông thì chưa là gì caû) thì chỗ thuyết đó cũng không được ra ngoài luật nghi, qui tắc của Phật đặt ra.
Không ai cấm cản, không ai thắc mắc việc Ông thuyết về lý Âm-dương,thuyết về tâm-sinh-lý, về giới tính và tính dục của con người cùng vạn loại chúng sanh cho các sa-di, các Tỳ kheo trẻ, các ưu-bà tắc, các Ưu-bà di già, (nhưng không được theo kiểu xoáy vào tiêu đề của nghĩa đen hai chữ Âm-Dương để kích thích, khuấy động tình dục của người khác phái trong chỗ có tư tâm, tư ý như Ông đã làm),nếu chỗ thuyết đó của Ông xuất sanh từ cảnh giới giải thoát, từ chỗ không tâm mà từ bi vô lượng, không ngoài mục đích tối hậu là cứu cánh khai mở Phật tâm, làm bừng sáng tuệ nhãn của chúng sanh.
Còn ở đây, "qua lối giảng của thầy Chơn-Quang", qua những lời "giảng thuyết" của Ông ta như vừa nêu, tự chúng chẳng phải là những lời rổng rang thanh tịnh, xuất sanh từ cảnh giới giải thoát của Như-lai, chẳng phải từ chỗ không tâm mà từ bi vô lượng, mà hoàn toàn trong chỗ trói buộc của sắc tướng, tăm tối của dục lạc, phi đạo phi đức của lũ Ma-đăng-già. Thế thì chúng ta học được những gì của ông ta ở đây để có thể xây-dựng một thế giới an vui, đạo đức, huống là có thể giải thoát luân-hồi?
Ðối với các Sư-cô, các Tỳ-kheo-Ni trẻ tuổi, ngây thơ, hồn nhiên, trong trắng, Ông phải nên biết tự giữ mình, kẻo vì sự quá sốt sắng của Ông (dù không biết chỗ thuyết đó có hợp với tâm ý Tổ, Phật hay không, có ở trong giòng đạo pháp hay không, hay là nó tự phát do tư tâm, tư dục của người thuyết) mà với những con mắt thế gian, với cái tâm phàm phu, tuệ nhãn chưa khai mở như chúng tôi, ắc Ông dễ bị hiểu lầm mà bị gán cho những danh từ không mấy tốt đẹp chứ chưa nói là ác nghiệp mà Ông phải tự đeo mang, gánh vác trong chỗ tâm linh. Ðây là sự chân thật nhất mà chúng tôi nói với Ông, nếu Ông biết ngoảnh đầu dòm lại chính mình vậy. Còn nếu chúng tôi nói không phải, nói oan khuất cho Ông, thì Tự-Phật của mỗi người trong chúng ta minh chứng cho vậy. Thiên đường, địa ngục chính tại chỗ này mà không còn nơi nào khác vậy!
Thật ra, với các Ty-kheo-Ni trẻ tuổi, việc thuyết giảng về Tâm-sinh-lý cũng rất cần thiết, rất đáng nên làm, nhưng nên dành chỗ thuyết này lại cho các Sư-bà, các Sư-cô lớn tuổi, cũng như không thiếu những thân-cận nữ tri-thức có thể chỉ dạy cho họ trong các trường cơ-bản thì hay hơn, bỡi tự nó thể hiện cách trong sáng, tương hợp, tương thích hơn. Bỡi vì cùng phái nữ với nhau, người thuyết, người nghe thuyết không có chỗ ngượng ngùng, hay khó nghe khó nói, nhất là không sợ bị người khác hiểu lầm, đặc biệt nếu trong pháp-hội có sự tham dự của các Ưu-bà-tắc hay ngoại đạo đến nghe pháp, thì tăm tiếng dị nghị, không hay ho lọt ra ngoài, vô tình làm mất uy đức của người thuyết, nếu không muốn nói là làm nhơ uế sự thanh tịnh của pháp toà. Ðiều đó chí ít cũng là về mặt hình thức, mà người thuyết pháp Phật cần phải làm để bảo vệ sự trong sáng giáo-pháp của Thế-tôn, cũng như tránh được sự hiềm nghi, ngờ vực, hiểu lầm từ bên ngoài, chứ chưa cần đề cập tới nội dung và những khúc mắc tiềm tàng, ẩn chứa trong chỗ thuyết đó, nếu có tư tâm, tư dục .
Cho nên, "Qua lối giảng của thầy Chơn-Quang",như vừa nêu trên, tự chúng có thật sự làm cho người nghe thuyết có thể đoạn trừ phiền não, viễn ly sanh tử chăng, hay chí ít có thể giúp gì cho người nghe "Xây dựng được một thế giới an vui, đạo-đức chăng?" Câu hỏi riêng dành cho mỗi người trong chúng ta tự chiêm nghiệm để biết phân biệt đâu là chánh-tà, ma-Phật, đâu là trói buộc và giải thoát mà tự có lối đi chơn chánh cho chính mình để cứu cánh giải thoát.
Trong hầu hết các băng từ, nếu không muốn nói là toàn bộ những gì mà nhiều người lâu nay đã lầm tưởng, cho rằng Ông Chơn-Quang đã thuyết "pháp Phật", thật ra đó là những lời dẫn dắt của Ma-thuyết, đều là pháp trói buộc, hoàn toàn vướng mắc vào sắc tướng, hệ lụy trong sanh tử hai bờ, đều có tư tâm, tư dục hàm chứa trong đó, đều bị ma nghiệp cấu trước để dẫn người vào ma đạo. Còn thuyết để dẫn dắt người cứu cánh giải thoát, xuất sanh từ chỗ thanh tịnh không tâm mà từ bi vô lượng, đối với tự thân Ông thì còn cách ngàn trùng xa thẳm.
Tự thân ông Chơn-Quang còn bị đắm chìm trong chỗ đen đủi của dục lạc, tối tăm của ma nghiệp, chưa thể tự vượt thoát khỏi sự trói buộc của sắc tướng, của danh lợi trần thế, cũng có nghĩa là chưa tự mình thành tựu hạnh giải thoát, thế thì làm cách nào Ông có thể thuyết pháp giải thoát cách chơn thật để dẫn dắt người giải thoát được đây?
Một người hoàn toàn chưa biết bơi mà dạy những người khác bơi được để có thể thoát hiểm khỏi nạn nước là điều khôi hài và khó có tin vậy.
II. Trong cuộn băng "Tinh thần và Vật chất", quả thật người nghe pháp có cái cảm giác như đang trước mặt mình là một nhà y-học, một nhà tâm-sinh-lý học trứ danh của thế-giới (vì chủ quan của người đang thuyết pháp, rằng cái gì mình nói ra đều đúng) đang thuyết về tâm-sinh lý của con người và vạn vật, chứ không có chút gì tự nó biểu hiện là một bài thuyết pháp Phật cả.
Ông nói : ". . . . Rồi trường hợp một cái nội tiết tố khác. Nó có những nội tiết tố mà nó làm thành cái tình yêu thương nữa. Ví dụ như khi người mẹ mà sinh con, thì trong cơ thể người mẹ tiết ra một cái loại, một cái nội tiết tố làm cho người mẹ thương con mình rất là mạnh mẽ. Tình mẹ thương con mạnh mẽ, cho nên tình mẹ thương con là một bản năng, bản năng của thiên nhiên . Nó là tinh thần mà sự thật là do vật chất tạo thành. Nên nói là tình mẹ là thiêng liêng là vì vậy đó. Nó tự nhiên lắm, không lý giải được. Ngưới mẹ, người vợ có thể bỏ chồng mình được một cách nhẹ nhàng (???), nhưng mà không bỏ con mình được. Còn trường hợp những người mẹ bỏ con mình được, thì những người đó là quá đáng, quá đáng.
Nghĩa là cái nội tiết tố trục trặc, cái đầu óc đạo đức làm sao, chứ bình thường những người đàn ông thì họ dễ vô trách nhiệm với con cái (???) , chứ người phụ nữ là không, vì cái nội tiết tố tạo ra cái tình mẹ thương con nó mạnh, còn người đàn ông khổng có.
Nên thường người đàn ông mà muốn thương con (????) (kinh nghiệm "muốn thương con" này chắc chắn Ông rút ra được từ chính bản thân Ông, và chẳng biết có được bao nhiêu đứa con mà Ông có thể "muốn thương" và "không muốn thương", cũng như chẳng biết có bao nhiêu đứa con mà Ông có thể "nhẹ nhàng bỏ con mình được", cũng như "vô trách nhiệm" với chúng, chứ hàng phàm phu như chúng tôi, và có thể nói đàn ông cả thế gian, muôn vạn phần chỉ có một hai người nhẹ nhàng "phủi tay" vô trách nhiệm như Ông nói ra đó) là do lý trí thôi, người đó biết suy nghĩ nên thương con cái, là người đó không có cái nội tiết tố nào buộc ổng phải thương con ổng, bị con ổng, ổng không có đẻ ra. Khổ vậy ! (???) . Nhưng nếu mà ổng suy nghĩ, và ổng nói đây là con mình, à mang cái "gene" mình, gọi là có giòng máu mình, mình phải nuôi nấng, dạy dỗ nó nên người. Ðó là do như cái suy nghĩ như vậy, nên ổng "ráng nuôi con" (???) . Còn người mẹ khỏi còn suy nghĩ điều đó, đẻ con ra rồi là tự lòng thương con mãnh liệt liền, tự nhiên liền, là do cái nội tiết tố đó. Biết nói vậy có đúng hay không ? (???) - Nói đúng không mấy cụ ? Ðúng ! Mấy Ông đúng không ? Mấy Ông nói đúng thì nghe kỳ . Sự thật, sự thật là vậy. (???) . Rồi cái nội tiết tố mà nó gây rắc rối, đau khổ, đủ thứ chuyện trên đời này hết, là nội tiết tố sinh dục người nữ. Cái nội tiết tố sinh dục, nó tiết ra từ buồng trứng, làm cho người nữ luôn luôn có khuynh hướng là muốn được người nam thương yêu mình. Mà nó hiện ra điều đó rõ lắm. Hiện ra ở chỗ nào ? Thì người nữ không nói nên lời cái điều đó được. Cái nội tiết tố đó tiết ra, cái nội tiết từ cái buồng trứng nó tiết ra, nó có khuynh hướng là muốn cho người nam thương yêu mình. Nhưng mà đâu có thành lời. Giờ làm cách nào để bày tỏ điều đó? Ði mua bộ đồ cho đẹp, phải hông? Mua cái môi son đánh cho hồng, đánh cho má, kẽ lông mày, cắt móng tay, đi ẹo qua ẹo lại. Ðó là cái mà dụ người nam đó, là cái đó thực sự là do nội tiết tố sinh dục nó tạo ra, nó tạo ra đủ trò rắc rối hết. Cho nên gặp cái ông nào mà ổng cũng có vẻ đáp ứng điều đó, thì bắt đầu là "giây phút ban đầu ngày ta gặp nhau" liền, rắc rối liền, đủ thứ chuyện xảy ra sau đó.
(Ông giỏi lắm, Ông kinh-nghiệm chỗ này còn giỏi hơn cả phàm phu, thuyết hay hơn cả những nhà y-học, tâm-lý học, tâm sinh-lý học, thuyết hấp dẫn hơn cả những thi sĩ tả tình lãng mạn, đặc biệt là về "chuyện của phòng the - không nói ra mà ai cũng biết" của khoa tâm-sinh-lý, tính dục học, ngoại trừ các tu sĩ chơn chánh thì không nên biết và cũng chẳng cần phải biết) .
a). Thưa Ông! Những bài "thuyết pháp" thuộc loại này, Ông chớ nên hỏi những cụ, những ông trong pháp-hội là đúng hay sai, vì câu hỏi của Ông ở trong một hoàn cảnh rất khó trả lời cho những người được hỏi. Tốt hơn hết Ông nên đưa chúng lên mạng hay lên báo để hỏi những nhà y-học, các chuyên gia về khoa tâm-sinh-lý học, hay tính dục học thì Ông sẽ được trả lời cách chính-xác hơn. Ðặc biệt hơn nữa là Ông cũng đừng nên quên hỏi những bậc Tôn-túc, Ðức cao, Ðạo cả, những Thiện-tri-thức trong Ðạo, hay những bậc Thầy đắc pháp của thế gian đại-biểu cho Phật và Pháp của Ngài ở cõi này, rằng những bài thuyết pháp thuộc loại này của Ông là đúng hay sai, là ở trong chánh pháp Phật hay xa lìa giòng đạo pháp, là ma thuyết hay Phật thuyết? Và Ông chắc chắn cũng sẽ được thõa mãn về những câu trả lời này, mặc dù các Ngài có bận bịu trong tu hành hay trăm công ngàn việc trong chỗ hoằng pháp tới đâu đi nữa, các Ngài ấy cũng sẽ bỏ bớt thì giờ mà nói cho Ông rõ, cũng là cách các Ngài bảo vệ sự trong sáng của Giáo-pháp Thế-tôn, bảo vệ sự an-nguy của Phật đạo, trước sự xâm hại,chống phá, hủy phạm Phật-pháp của Ma-vương và đồ chúng.
b). Ông nói : "Người mẹ, người vợ có thể bỏ chồng mình được một cách nhẹ-nhàng (?) nhưng mà không bỏ con được. Còn trường hợp những người mẹ bỏ con được, thì những người đó là quá đáng, quá đáng! Nghĩa là cái nội tiết tố trục trặc, cái đầu óc đạo đức làm sao, chứ bình thường những người đàn ông thì họ dễ vô trách nhiệm với con cái, chứ người phụ nữ là không, vì cái nội tiết tố tạo ra cái tình mẹ thương con nó mạnh, còn người đàn ông khổng có. Nên thường người đàn ông mà muốn thương con (?) là do lý trí thôi, người đó biết suy nghĩ nên thương con cái, là người đó không có cái nội tiết tố nào buộc ổng phải thương con ổng, bị con ổng, ổng không có đẻ ra . . . ".
Chỉ một câu thuyết ngắn của ma-pháp vừa nêu, tự nó biểu-hiện sự lệch lạc của chính thân tâm Ông.
*Chỗ Ông thuyết hoàn toàn chủ quan, vơ đũa cả nắm, miệt thị sự thủy chung, đạo đức của người đàn bà khi nói rằng "người vợ có thể bỏ chồng mình được một cách nhẹ-nhàng nhưng mà không bỏ con được". Không có một người đàn bà nào trên thế-gian này mà có thể bỏ chồng một cách nhẹ nhàng như Ông nói đâu, nếu trong đó không có những lý do vượt khả năng của sự dàn xếp, cùng những uẩn-khúc nặng nề đè nặng lên tâm lý cũng như cái khổ về thân xác của người vợ. Ông là người Á-đông mà hoàn toàn không biết một chút gì về đạo-đức của người đàn-bà Á-đông, là những người đã chịu ảnh hưởng lâu dài và sâu sắc trong giáo-lý Khổng-Mạnh và đạo Phật.
Sự bộp chộp, nông nổi, nói càn, thiếu suy nghĩ của Ông đã làm tổn thương danh dự của đa phần phụ nữ Việt-nam nói riêng và phụ nữ phương đông nói chung, là gáo nước lạnh tạt vào mặt hầu hết những người đàn bà suốt đời nương núp, an phận trong khuôn khổ của "tam tòng tứ đức", mà trong đó có vị nữ Bồ tát của riêng tôi mà cũng là mẹ tôi, và vô số nữ Bồ-tát khác cũng là mẹ,là vợ của nhiều người, mà trong đó có thể có mẹ của Ông?
*Ông nói : "Còn trường hợp những người mẹ bỏ con được thì những người đó là quá đáng, quá đáng". Câu thuyết của Ông trong chỗ này, có cũng như không, hoàn toàn ba phải. Không bỏ con được là lý của Ông (nội tiết tố trong người nữ), còn bỏ được thì Ông đổ cho khách quan, là quá đáng, là tại cái đầu đạo đức có vấn đề, tại cái nội tiết tố của người đàn bà trục trặc. Nói như thế, ai mà không nói được, và tôi đây cũng có thể nói được, ví dụ rằng, "cái Ông A kia tự ổng có sẵn tánh Phật. Tánh Phật thì rổng rang thanh tịnh, không sạch nhơ, không thêm bớt, không sanh không mất. Tự thỉ nó là như vậy (chẳng khác tình mẹ thương con) . Ðó là cái tánh sẵn có trong Ông A, nhưng ổng không biết sống cách chơn chánh, không biết tự sống một trong nó, vì cái đầu đạo đức ổng trục-trặc, vì cái tâm tham đủ thứ trên đời nên ổng mới tự rời lìa Phật tánh của ổng, ngôn hành của ổng lẫn lộn với ma đạo, thuyết ma pháp để dắt người vào ma nghiệp, trôi lăn trong tam đồ sanh tử, ổng thật quá đáng, quá đáng". Nói như Ông, rằng, không phải đúng thì ắc là sai, chẳng phải sai là vì nó đúng, cũng là lẽ nhị nguyên của sanh tử, thì ai mà nói chẳng được.
Ai người trong nhơn quả mà không nói được như thế, cần gì phải mượn đến Ông nói pháp trói buộc với tử sanh. Thuyết pháp Phật phải là thuyết pháp lìa hai bên, cũng là pháp chơn không. Có làm được như thế mới có thể dẫn người vào Trung-đạo mà nhận ra chính mình, nhận ra tự Phật để vượt thoát tử sanh, chứ thuyết mà cứ như đem dây trói mình cùng trói người, trong chỗ nhơn quả hai bên như Ông thì người thuyết, kẻ nghe thuyết đều phải cùng chung số phận một thuyền sanh tử, không lối nào có thể thoát ra khỏi nó.
* Ông lại nói : "Nên thường người đàn ông mà muốn thương con (?) là do lý trí, người đó biết suy nghĩ nên thương con cái, là người đó không có cái nội tiết tố nào buộc ổng phải thương con ổng, bị con ổng, ổng không có đẻ ra".
Ðọc một đoạn thuyết ngắn của Ông ở đây, tự nó biểu hiện hai vấn đề rất rõ rệt :
a). Hoặc là bị ức chế về tâm lý vì chính mình bị bỏ rơi, nên cần phải nói ra để giải toả phần nào sự ấm ức, khó chịu trong tâm tư, làm vơi đi sự thù hằng của mình đối với người cha bất đắc dĩ đã không làm tròn thiên chức (đối với mình), nên gượng ép đổ lỗi cho khách quan là người cha, người đàn ông không có "cái chất" thương con sẵn có tự trời sanh như người mẹ, mà sẵn sàng tha thứ cho ông ta.
b). Hoặc là âm thầm, kín đáo (bóng gió truyền tín hiệu với người trong cuộc) biện bạch cho việc "phủi tay" vô trách nhiệm của người đàn ông, rằng tình mẹ thương con là thiên phú, vì chỉ có người đàn bà mới tự sẵn có chất thương con, chứ người đàn ông thì "hổng có", "bị con ổng, ổng không có đẻ ra" để người khác phái đành lòng cam chịu nuôi con, mà không oán trách, không làm khó dễ gì kẻ bạc tình hay chí ít là sợ những người đàn bà nhẹ dạ kia liệng bỏ con cái cho chết cũng là cách làm to thêm ác nghiệp cho người đàn ông.
Người đàn ông như vừa nêu, do tâm sinh lý bị bệnh hoạn, bị ức chế nhiều thứ nên mới có những ý nghĩ lệch lạc, thiếu đạo đức, vượt ra ngoài luân thường đạo lý của người Á-đông, chứ chưa cần nói những gì mà ông ta cho là đang "thuyết pháp Phật" đều ngược lại với tâm ý Tổ, Phật và pháp của các Ngài.
Thưa Ông ! Theo chỗ hiểu biết cạn cợt của tôi, thì không một người cha nào trên thế gian này mà có lối nghĩ suy bệnh hoạn và thiếu đạo đức như Ông đã thuyết, hay nói chính xác, trong muôn vạn người hoạ hoằng mới có một, hai ngoại lệ như Ông nói . Chỗ ngoại lệ này chỉ dành cho những người quá ư tồi tệ mà ngôn ngữ thế gian không còn lời nào để có thể diễn tả.
Tình của người cha với con cái là cái tình thiêng liêng, cao cả; tuy không phải chính mình sanh con, nhưng một khi có đứa con chào đời (đúng là con của mình), tự nó đã sẵn có một tình yêu thương to lớn không làm sao có thể nói ra hết trong lòng người cha dù là đứa con thứ mấy đi nữa. (Trường hợp ngoại lệ là đối với những tay sở khanh, những lũ bạc tình, những bọn ăn vụng hòng chùi sạch miệng, muốn quất ngưạ truy phong, không muốn để lại dấu tích oan nghiệt mà mình đã trót gây ra, bọn vô liêm sĩ, mất tính người, thiếu đạo đức thì không cần bàn ở đây làm chi, vì theo Ðạo Phật, gieo nhơn nào ắc gặt quả nấy. Dù có cố chùi miệng sạch tới đâu, thì, như cây kim trong túi, có lúc cũng phải lòi ra . Nhơn quả đáng sợ ! Ðáng sợ ).
Vì tình yêu thương đó là thiên phú, là tánh trời ban cho muôn vật hữu tình khắp trong cõi này, chứ không riêng chỉ có loài người mới có. Tình cha thương con như trời thương muôn vật, không có hai chữ trách nhiệm trong đây. Nếu có hai chữ trách nhiệm thì chẳng phải là tánh trời vậy. Hai chữ trách nhiệm chỉ nói về mặt hình thức mà thôi, và đó cũng là ngoại lệ, chẳng phải tánh trời.
Cũng như đạo trời, Càn là cái khí toàn dương cực kiện, cùng hiệp với Khôn là cái bản chất toàn âm cực nhu, mà hoá sanh muôn vật. Nhưng, cái khí âm nhu-thuận mà thiếu cái khí dương cương-kiện thì muôn vật cũng không sinh hoá ra được, huống là có thể nảy nở tràn ngập thế gian như trước mắt chúng ta. Bỡi đó là cái thiên-chức chí thiện, chí mỹ, hằng có của Càn-Khôn, trời đất, Âm-Dương vậy. Con người là một trong ba thể tánh cực tài năng (Tam-tài giả : Thiên, Ðịa, Nhơn), thọ bẩm hoàn toàn khí thiên của trời đất, nên những gì trời đất có, thì con người gồm trọn đủ, không thiếu món nào. Cho nên, Càn-Trời, Thuần-Dương, toàn cương cực kiện ví như người Cha, người Ông; Khôn-Ðất Thuần-Âm, Nhu-Thuận ví như người Mẹ, người Bà . Người mẹ thương con mình sinh ra, không khác cái lòng yêu thương chở che của đất mà vạn loại chúng sanh từ đất sinh ra. Khí thiên của trời bao hàm che chở cho muôn vật từ trời đất sinh ra, không khác cái tình người cha đối với những đứa con ruột của mình. Nếu chỗ hành của con người mà trái với Thiên-lý, thì tự sái, chẳng phải hợp Ðạo trời vậy. Những gì Ông thuyết ở trên đều đi ngược lại với tánh trời cũng là Thiên-lý.
Cho nên trong bài trước, chúng tôi đã không ngần ngại mà nói thẳng ra rằng Ông hoàn toàn không biết gì về lý Âm-Dương, mà chỉ dùng cái tri thức hẹp hòi, cái tâm-sinh-lý bị ức chế, cái đầu óc đạo đức bị lệch lạc thuyết quanh đi quẩn lại trong chỗ dục tình, là vì lẽ đó vậy.
* Những chỗ thuyết như : "Cái nội tiết tố sinh dục của người nữ, nó tiết ra từ cái buồng trứng, thì làm cho người nữ luôn luôn có khuynh hướng là muốn được cho người nam thương yêu mình . . .. (được lập lại hai lần trong một câu nói của Ông) . . . Ði mua bộ đồ đẹp, mua cái môi son đánh cho hồng, đánh cho má, kẽ lông mày, cắt móng tay, đi ẹo qua ẹo lại mà dụ người nam ,…" vv…và vv nhiều lắm trong hầu hết các bài "giảng thuyết" của Ông. Những lời quái đãn, yêu mị đó chúng tôi không cần lập lại ở đây nữa, vì nó làm nhơ mắt và bẩn tâm hồn người đọc.
Thưa Ông! Những điều mà Ông tự cho là mình đang "thuyết pháp Phật", ngay trong đạo tràng thanh tịnh của Phật nhưng chẳng có một chút gì dính dấp tới Phật pháp, như vừa nêu ra đó, sẽ dẫn dắt người nghe thuyết hiểu biết được gì về Phật pháp, và sẽ đưa họ đi về đâu ?
Dù người viết không nói ra, thì ai cũng đều biết, Ông đang dẫn dắt người ta tới đâu: không ra ngoài hai bờ sanh tử và trước vào ma nghiệp vào thân, bỡi vì Ông đang thuyết pháp trói buộc của lũ Ma-đăng-già đó.
Cư-sĩ Chơn-Chánh.
Chướng Ma Ðời Mạt Pháp – Bài 8
Chướng Ma Ðời Mạt Pháp - Bài 7
Chướng Ma Ðời Mạt Pháp – Bài 5
Chướng Ma Ðời Mạt Pháp – Bài 4
Chướng Ma Ðời Mạt Pháp – Bài 3
Chướng Ma Ðời Mạt Pháp – Bài 2
Chướng Ma Ðời Mạt Pháp – Bài 1
Nghe phần âm thanh
Trang Mục Lục - Trích đoạn những bài giảng của "Sư" Chơn Quang
Trang Quan Ðiểm
Trang chính