vainhan.gif - 12.7 K

BÀI V

Thuyết lý Âm-Dương

Qua những cuộn băng thuyết giảng pháp trói buộc của Ông Chơn-Quang, người viết tự nghĩ , những ai có tâm huyết đối với sự hưng nguy của Phật pháp, cũng không thể làm điều gì khác hơn chúng tôi đã làm, nghĩa là không thể làm ngơ, không thể "MẶCKỆNÓ", mà cần phải gióng lên tiếng chuông cảnh tỉnh, không ngoài mục đích bảo vệ sự trong sáng của Giáo lý Thế-tôn, đưa dắt người lạc đường trở về với Chánh-đạo, cũng như đồng thời xiểng dương Chánh-pháp Giải thoát của Ngài.

Theo chúng tôi, loạt bài vừa qua có thể cũng đủ công năng để cho những ai ham thích tu-học đạo Giải thoát của Như-lai, nhưng vì không biết đường đi, vì nhẹ dạ mà trót nghe theo ma thuyết, có cơ quay đầu dòm lại mà dừng bước để tư duy đâu là chơn, giả, đâu là Chánh, Tà, Ma, Phật; rồi tùy căn cơ mà tự chọn lựa cho mình một trong các pháp tu đúng đắn, chơn thật của Ngài mà hành trì, để cứu cánh tận trừ phiền não, viễn ly sanh tử.

Người viết cũng rất tự hiểu rằng, những gì mình đã nói ra, viết ra không phải không có người tán thán, đồng tình, cũng như không phải không có người công kích, phản bác, chê trách, chụp mũ này nọ vì đó là qui-luật tất yếu của hữu tình trói buộc trong nhơn quả nhị nguyên, của khái niệm sáng tối, phải trái,thiện ác, chơn giả, âm dương, thanh trọc v.v….nếu còn ngã chấp.

Tuy nhiên, nếu biết rõ như thật có người đi lầm đường, lạc lối, lại còn dẫn dắt người khác cùng đọa lạc vào chỗ tối tăm, mê mờ của ma đạo mà không phương tiện chỉ giúp; hoặc thấy có chỗ tranh chấp của "hai bên – hai bờ" quả thật khó làm, khó nói mà ngại ngùng, sợ động chạm, không dám nói, không dám viết để tách bạch trắng đen, chơn giả nhằm chỉ vẽ giùm cho người nhận ra lẽ thật, thì cũng đâu phải là đệ tử đầy lòng từ bi, thuần thành và chơn chánh của Phật.

Nếu cứ làm thinh, ai khôn nấy nhờ, ai khờ nấy chịu thì cây đại thụ chánh pháp làm sao có thể tồn tại, huống là có thể sinh sôi nảy nở, ban phát bóng mát giải thoát nhiệm mầu cho cả thế gian đến tận ngày hôm nay. Nếu cứ ích kỷ ngậm miệng, rằng, ai tu nấy hưởng, mọi pháp đều cứ để tuỳ duyên, cứ để tự như, ra sao thì ra, thì làm sao chúng sanh có được lợi lạc, làm sao có thể phát huy được diệu tâm Từ-Bi-Hỷ-Xả của Thế tôn và mười phương Bồ-tát, mà đó cũng là cách báo ơn Tổ, Phật một cách đúng nghĩa.

Nếu chư vị Tổ sư và các Thiện tri thức từ ngàn xưa đến nay, không vì Giáo pháp giải thoát hy hữu, chơn thật của Như-lai mà quên mình, xiểng dương không biết mệt mỏi, thì làm sao ngày hôm nay chúng ta có được chỗ nương núp mát mẻ dưới ánh đạo vàng, làm sao chúng ta có được ánh sáng trí huệ, giải thoát trói buộc khổ đau phiền não, mà qua Phật sử, ai cũng đều biết, Phật pháp đã từng trải qua không biết bao nhiêu là thời kỳ sóng gió, đen tối, suýt nguy vong, suy diệt vì Ma vương và Ma pháp của chúng. Vì ma vẫn có thể biến hoá làm hình Phật để thuyết ma pháp lừa người cách dễ dàng kia mà.

Chúng tôi chỉ biết nói, biết viết trong chỗ bình đẳng, vô tâm, không tư vị, trong chỗ tùy duyên; ai có duyên thì tiếp nhận, không có duyên thì đường ai nấy đi. Chúng tôi chỉ tự khẳng-định một điều rằng, việc làm này không ngoài mục đích bảo vệ sự trong sáng Giáo Pháp của Thế-tôn và xiểng dương chánh pháp giải thoát chơn thật của Ngài.

Chúng sanh là nghiệp thức phải đeo mang, vay trả ba đời trong nhơn quả, thoắt còn thoắt mất, thoắt ẩn thoắt hiện; lời của chúng tôi nói ra cũng vậy, có đó rồi không đó. Ai tin thì đến với chúng tôi; ai không nhận thì thôi, trong chỗ tột cùng chẳng gì dính dấp. Chỉ đến khi nào ai đó tự mình uống nước thì nóng lạnh tự biết mà thôi, còn lời của chúng tôi nói ra, cũng chỉ vì muốn gieo chút nhân lành; những lời nói đó, tự chúng như gió thoảng, mây bay nhưng không vượt ra ngoài giòng đạo pháp; hữu duyên thì bắt gặp, không có duyên thì chẳng chỗ dính dấp, không có chút gì vướng víu, trói buộc với ai cả.

Bỡi quan điểm tu hành của chúng tôi đã khắc sâu vào xương tủy, rằng, như ăn được một miếng ngon, uống được một ly thuốc bổ, không muốn an hưởng một mình mà muốn khắp cả cùng được lợi lạc như mình. Thấy người đang và sắp dùng nhầm thuốc độc, không muốn cho người phải nguy thân mà có đường mách bảo, chỉ vẽ thế thôi. Ai nghe thì tự biết dừng tay khoan uống để khỏi phải chết cách tức tưởi. Cũng như người ham thích tu học mà không biết đường đi, cần nên tư duy, chiêm nghiệm để tự nhận biết đâu là ánh sáng, đâu là con đường chơn thật của Phật đạo, đâu là chỗ tối tăm, mê mờ, ràng buộc, không lối thoát của ma đạo; còn dẫu cho lời của chúng tôi nói ra, có người nghe hay không nghe thì sự thật trước mắt cũng chẳng gì ràng buộc, trói cột nhau vậy.

Một điều mà chúng tôi luôn tâm niệm và ước nguyện, rằng, nếu ai đó trót lầm nghe theo ma pháp, mà qua những bài viết này, chợt hiểu ra, nhận ra chỗ chơn, ngụy, tự thấy biết mình đã lầm, rằng từ lâu đã uổng phí công phu bỏ ra trong đời này một cách vô bổ, lại vì chỗ không biết, vì vô tình mà đắc tội lớn với Phật và Pháp của Ngài, cũng như với chư vị Tổ sư, chứ chưa nói là vì chỗ nhận lầm ấy mà họ phải tự đeo mang ma nghiệp vào thân, thì đó cũng là phước đức vô cùng to lớn mà người viết tích góp được trong hiện kiếp, và đó cũng là cách báo ơn Phật và chư Tổ một phần nhỏ nhoi trong muôn một vậy.

Bằng ngược lại, dù không được cảm thông mà phải bị búa rìu chê trách, thì người viết cũng xin đưa đầu, ngửa cổ mà vui vẻ nhận lãnh không hề than oán vậy.

Thân còn chẳng kể sá chi đầu,
Trên gót là ai thật "Nó" đâu?
Ngửa cổ gươm đưa, gươm chém bóng,
Trên cao trăng vẫn sáng làu làu.

Thể theo tâm ý của một số bạn đạo thân thiết, mong muốn người viết nên tiếp tục loạt bài này đến chỗ rốt ráo, để cho những ai còn đang chỗ ngả ba đường hết còn hồ nghi, hết còn phân vân, đâu là tà pháp đưa dắt người vào ma đạo, và đâu là chánh-pháp giải thoát chơn thật của Thế-tôn, nên chúng tôi đành phải viết tiếp cho hết ý, để rạch ròi trắng đen, chơn-giả, chánh-tà, Ma-Phật.

Ngoài ra không chỗ ác tâm, ác ý hay cố tình bôi nhọ cá nhân, mà trên đầu có mười phương, ba đời chư Phật chứng minh.

Trong cuộn băng "Giới luật#4", Ông Chơn-Quang nói : "Trong đạo Phật có lý Âm-Dương không? Có không ? Có không ?
Trong đạo Phật có lý Âm-Dương không ? Có bao giờ , quý Sư cô có nghe trong đạo Phật giảng lý Âm-Dương chưa? - Chưa! Không! Rõ ràng như vậy. Ðâu có kinh Phật nào nói về lý Âm dương đâu ! Vậy mà ở chùa tôi, tôi nói về lý Âm-Dương cho đệ tử tôi nghe. …"

Thưa Ông Chơn-Quang! Qua câu thuyết giảng cũng như pháp hành của Ông lồng trong đó mà chúng tôi vừa trích nêu, chúng tôi thấy Ông đã hoàn toàn đi lệch mục tiêu của một người (với hình thức là chức danh của một Tỳ-kheo) đang nhận lãnh trọng trách xiểng dương chánh pháp giải thoát của Phật, có nghĩa vụ phá tà hưng chánh, cứu thế độ nhơn, khi Ông tự hào tuyên bố rằng Phật và chư Tổ không hề thuyết lý Âm-Dương, chỉ có Ông ngày nay là làm được việc đó, nghĩa là đi ngược lại những gì Phật dạy.

1). Trước hết, với tư cách một Tỳ-kheo, một đệ-tử xuất gia của Phật, trong chỗ thuyết mà Ông tự cho là mình đang thuyết giảng Phật pháp, qua câu tuyên bố vừa nêu, tự nó bộc lộ và xác quyết rằng, chính Ông đang tách rời khỏi Giáo lý của Thế-tôn, đang tự quay lưng và lìa xa chánh pháp, làm ngược lại tâm ý của Tổ, Phật.

Ông đã không dòm lại chính mình, nên hoàn toàn quên rằng, ngay khi tuyên bố một cách cao ngạo, đầy ngã mạn như vừa nêu, cũng chính là lúc Ông đang mang trên mình một sứ mệnh to lớn (một trong ba báu : Tăng-Bảo) được Thế-tôn và mười phương chư Phật trao phó , không ngoài mục đích xiểng dương chánh pháp giải thoát, cũng là pháp viễn ly phiền não, vượt lìa sanh tử (Tăng # cũng có nghĩa là Thanh-tịnh) của Phật, thuyết pháp Phật để giúp cho chúng sanh hữu tình cứu cánh thanh tịnh, Niết-bàn giải thoát; thế mà trong đây, Ông lại đi thuyết pháp kết buộc với hư vọng, huyễn hoá, phiền não của sắc tướng, của Âm-Dương sanh diệt, đối nghịch lại tâm ý của Tổ, Phật là cần phải "Ly nhứt thiết tướng" để có thể thâm nhập không tánh, cũng là pháp giới tánh, thật tánh thật tướng của tất cả các huyễn pháp mà tự giải thoát.

a). Thưa Ông Chơn-Quang! Ông có biết tại sao đức Thế-tôn và các đệ tử của Ngài, cũng là chư vị Tổ sư từ ngàn xưa đến nay không ai thuyết về lý Âm-Dương chăng?
Tôi sẽ nói cho Ông rõ. Chẳng phải Phật và Chư Tổ không thuyết vì không biết thế nào là lý Âm Dương; sở dĩ các Ngài không thuyết vì điều đó không cần thiết. Bỡi cho dù mọi người trên thế-gian này có biết rành rẽ, hiểu thấu đáo lý thuyết này tới đâu đi nữa, thì chỗ hiểu biết ấy cũng chẳng giúp ích được cho ai vượt lìa Tam-giới, giải thoát khỏi luân hồi sanh tử cả, vì tự thân lý Âm-Dương này cũng hoàn toàn trói buộc trong nhơn quả, sanh diệt của nhị nguyên.

Còn pháp của Thế-tôn thuyết là pháp chơn không, là vượt lên trên nó (vượt thoát khỏi Âm Dương, sanh tử, sáng tối, dữ lành, có không, thường đoạn vv…nói chung là hai bờ sanh diệt cũng là khái niệm nhị nguyên của Âm-Dương) để giải thoát sự ràng buộc của nó.

Ngã thường thuyết Không-pháp
Viễn ly ư Ðọan, Thường
Sanh, Tử như Huyễn, Mộng
Nhi bỉ, nghiệp bất hoại.

Ta thường nói pháp Chơn-Không
Xa lìa Ðoạn và Thường (Âm, Dương, Có, Không, Sanh, tử vv.)
Vì Sanh, Tử đều như huyễn, như mộng (Âm, Dương,Sanh, Tử cũng đều huyễn hoá)
Mà nghiệp tánh chẳng hoại mất. (Lăng-Già Kinh).

Chỉ đưa ra một bài kệ ngắn Phật thuyết trong kinh Lăng-Già Ðại-Giải-thoát, cũng đủ thấy cách rõ ràng rằng Ông đang lặn ngụp và chết chìm trong pháp Âm-Dương, Sanh-Tử, Thường-Ðoạn, Vô minh mà Ông đang tự hào hiểu biết về nó. Không chỉ riêng Ông thôi đã đành, Ông còn miệng mồm lôi kéo người khác vào chỗ vĩnh kỳ phiền não, tử sanh như Ông. Thật là tội nghiệp!

Mục đích duy nhất và tối hậu của Thế-tôn sau khi đắc thành Vô-thượng Chánh-đẳng-Giác là chuyển pháp luân để phương tiện chỉ đường cho chúng sanh tự cởi trói, tự giải thoát khỏi sợi dây cột buộc của phiền não, tử sanh, của Âm-Dương hai bờ, để cứu cánh Niết bàn Thanh-tịnh như Phật, chứ không vì một mục đích nào khác.

Phật pháp có muôn vạn pháp môn cũng không ngoài mục đích để tùy duyên mà đối trị từng ngần ấy trần lao phiền não trói buộc từng mỗi nhơn sanh trong chỗ hai bờ (Âm-Dương, Chết-Sống, Sanh-Hoá…) mà căn cơ, duyên nghiệp của từng người phải tự gánh vát, đeo mang nặng nhẹ theo nghiệp thức .

Chúng sanh vì vọng nghiệp, vọng thức mà có thân, có khổ phải đeo mang và cùng nó trôi lăn vĩnh kỳ trong sống chết, huyễn sanh huyễn diệt, hết kiếp này đến kiếp khác, hết đời nọ đến đời kia, không sao thoát khỏi hai bờ Âm Dương, sanh tử .

Cho nên, chỗ Âm Dương hai bờ, cũng là chỗ sanh tử phiền não này, không khác mũi tên độc găm vào người. Mục đích tối hậu trong việc cứu người của bậc Ðại Y-vương và sau này là các đệ tử đắc pháp của Ngài nối tiếp thừa đương, là làm sao trục xuất được mũi tên độc ra khỏi thân người càng nhanh càng tốt, rồi dùng dược liệu quí báu và pháp chữa hy hữu để chữa lành con bệnh, chứ không phải chỉ ngồi đó mà bàn về mũi tên độc : vì sao có mũi tên này, nó được làm bằng gì, cấu tạo thể và tánh ra sao, ai bắn, hay bắn từ hướng nào, bắn vào thời điểm nào, khi găm vào thân thì người bị bắn có cảm giác vui khổ, hay sướng đau ra sao? vv… và vv.

Những điều này hoàn toàn không cần thiết, vô bổ trong việc cầu giải thoát. Vì thế, Phật và chư Tổ sư không quan tâm, không đề cập tới, chứ chẳng phải vì các Ngài không biết mà không nói, không thuyết. Bỡi dù có am hiểu thâm sâu, có tự huyền đồng một trong nó đi nữa thì cũng không ra ngoài lý sanh diệt của lẽ Âm-Dương, hoàn toàn không thoát khỏi Tam-giới. Thế mà Ông tự hào về chỗ thuyết của Ông, quay lưng lại với pháp giải thoát của Phật, khi đưa dắt người cùng ngụp lặn trong sanh tử của Ma-đạo. Thật là quái đãn!

b). Lại nữa, ở đây, chính tự Ông chưa phải là một Y-vương, lại cũng chưa phải là một đệ tử đắc pháp của bậc Y-vương, thế mà Ông tự rời lìa Y pháp hy hữu, tuyên bố một cách đầy ngã mạn và cao ngạo, rằng, Ðại Y-vương và các đệ tử đắc pháp của Ngài chưa từng thuyết về tiến trình hình thành mũi tên độc, mà chỉ có Ông, chỉ ở chùa Ông là có thuyết về nó cho các sư-cô nghe; còn trong đây, phương pháp để cứu người như chữa cháy thì Ông hoàn toàn không có, không biết vì chính Ông chưa học tới, chưa tự thâm nhập chỗ diệu pháp trị liệu này cùng như Tổ không khác. Thế thì việc nói, việc thuyết ra đó, đối với Ông chỉ là cách vun bồi, tô đắp thêm dày, thêm lớn vô minh của tự thân, của bản ngã để mưu cầu danh lợi huyễn hoá thế gian mà thôi, còn người nghe thuyết thì chỉ để biết cho thoã mãn tò mò trong chỗ làm giàu tri kiến, chứ nào có ích gì cho con bệnh đang nằm chờ chết kia đâu?

2). Tuy nhiên, trong chỗ thuyết về lý Âm Dương, mặc dù nó nằm ngoài Giáo pháp giải thoát của Phật, nhưng sự thuyết đó nếu đúng hướng, hợp đạo thì chúng ta vẫn chấp nhận được, vì chỗ thuyết đúng ấy vẫn có thể làm lợi lạc cho người ham muốn tu học theo Thiên-đạo (Lão, Ðạo-học) , hay Nhơn-đạo (Khổng-học) để nhân-sinh quan hành xử hợp lẽ đạo mà tự thâm nhập, tự huyền đồng "một" với Thiên-lý, cũng là Thiên-đạo hay Nhơn-đạo, thì dù không thể cứu cánh thanh tịnh, Niết bàn giải thoát, nhưng vẫn có thể trở thành Thánh-giả hay Hiền-giả, của một trong hai cữa này.

Nhưng thưa Ông! Nếu một khi muốn thuyết về lý Âm-Dương, trước hết Ông phải rành biết, rằng thuyết Âm-Dương là một Triết-thuyết không ra ngoài nguyên lý Dịch học Ðông-phương cổ, chủ yếu xuất phát từ Trung hoa Cổ-đại, mà người thuyết Dịch lý, ở bất cứ không gian và thời gian nào cũng đều phải nói lên được một cách nhịp nhàng hai phần chính yếu trong chỗ tương đồng, tương dữ giữa "Vũ trụ quan và nhân sinh quan" .

a). Về vũ trụ quan: Cần phải thuyết hai phần chính nói về danh và sắc, tức là đề cập về Tánh và Tướng của sự vật, cũng có nghĩa là thuyết về hình thái muôn vật mà ngũ quan cùng ý thức có thể cảm nhận, nắm bắt được và thứ đến là triết lý sâu xa, cao rộng không thể nghĩ bàn mà chỉ có trực giác, mới có thể huyền đồng trong chỗ tự nhiên của Âm-Dương, trời đất.

Chỗ thuyết về triết lý cao sâu, vi tế, mênh mang không gốc gác, chỉ có tự nhận bằng trực giác, được thành tựu từ công phu tu học để tự đồng một với tự nhiên, cũng là Ðạo, được mệnh danh là Hình nhi thượng học.

Chỗ thuyết thô phù, đến đi động tịnh của sắc tướng, của lục dục, thất tình mà con người có thể dùng ngũ quan và tri thức để có thể cảm nhận, nắm bắt, được mệnh danh là Hình nhi hạ học.

Trong hai phần hình thượng và hình hạ này, tự chúng có sự tương quan không thể tách rời nhau, tự chúng dung thông, hoà đồng tương ứng với nhau. Ðó cũng là nghĩa của câu "đời không lìa đạo, đạo chẳng thể lìa đời" tánh và tướng, tâm và thể luôn luôn đi bên nhau, tương đồng tương thích với nhau, mà không bao giờ ngại nhau vậy. Bằng ngược lại, hễ ngại nhau là bị trói buộc.
Lão-tử đã thuyết về nó (Âm-Dương) cũng là lẽ đạo, chỉ trong chỗ úp, mở thoắt ẩn, thoắt hiện vì ngôn ngữ chẳng thể với tới nơi cùng tột của lý này:
"Vô danh Thiên, Ðịa chi thỉ. Hữu danh vạn vật chi mẫu. Cố, Thường vô dục dĩ quan kỳ diệu. Thường hữu dục dĩ quan kỳ kiếu. Thử lưỡng giả đồng. Xuất nhi dị danh. Ðồng vị chi huyền. Huyền chi hựu huyền. Chúng diệu chi môn".
Tạm dịch nôm na cho dễ hiểu: "Không tên có thể gọi (ngôn ngữ, tri thức chẳng thể với tới) , đó là chỗ khởi nguyên của Trời Ðất. Có tên, là mẹ của hàm linh, muôn vật. Cho nên, chỉ trong vô dục (tự thể hiện chơn thật vô ngã, không-vô tướng-vô tác) mới có thể thâm nhập được tới chỗ cùng cực diệu mầu. Còn hễ có tư dục (Chợt chấp, khởi tưởng hữu ngã) thì tự lìa mà vào chỗ tối (của vô minh). Cho nên Có, Không (Cũng là nhị nguyên : Âm, Dương) tuy chỉ một, nhưng vì từ chỗ Một (Ðộc-Diệu) xuất sanh mà có tên gọi khác. Ðồng tức là chỗ huyền mầu. Huyền rồi lại huyền (Cũng là chỗ huyền diệu của Ðạo vậy). (Ðạo-Ðức Kinh).

Ðề cập chỗ tương đồng tương dữ của Tánh và Tướng, Tâm và thể, Hình-Thượng và và Hình-Hạ, Nhân sanh và Vũ trụ, ông Thiệu-Khang-Tiết cũng có nói :

"Thiên thính tịch vô âm,
Thương thương hà xứ tầm?
Phi cao, diệc phi viễn.
Ðô chỉ tại nhơn tâm.
Nhơn tâm sanh nhứt niệm,
Thiên, Ðịa tất giai tri.
Thiện ác nhược vô báo.
Càn, Khôn tất hữu tư !

Tạm dịch :

Trời nghe (trong chỗ) bặc tiếng tăm,
Ông xanh tìm đâu thấy ?
Không cao, cũng chẳng xa
Mà chỉ tại ngay tâm.
Chợt khởi một niệm tưởng
Trời, Ðất đều rõ thảy
Thiện, Aùc bằng không trả
Càn, Khôn ắc tư tâm?

Theo quan niệm vi Nhân, vi Hiền của Khổng-học, đó chính là chỗ huyền đồng, ảo diệu của tâm và tướng, nhơn và thiên, một mà hai, hai mà một nhưng không hề ngăn ngại nhau vậy.

Chỗ cần phải thuyết của lý Âm Dương, sáng tối, nặng nhẹ, trọc thanh, có không, còn mất vv. . . đều không thể không qua những lời tương tự sau đây (sách vở của ngày xưa còn bé đi học mà ai cũng đều biết qua), để từ đó người thuyết đem cái tri thức đã từng thu thập được qua học hỏi, qua kinh nghiệm, qua tu học hoặc qua tự chứng mà mình chưa hoặc đã tự một trong chỗ cần đề cập đó mà triển khai thêm, rộng mở ra, để hướng dẫn cho người nghe học hỏi mà thấy biết, cảm nhận chỗ tinh túy, huyền vi, mầu nhiệm của lẽ Âm Dương, cũng là chỗ huyền mầu của Thiên-lý (Ðạo Trời) để tự thật hành mà cứu cánh Chơn-Thiện-Mỹ (nhưng vẫn chưa giải thoát, vì còn trong tam giới).

"Hỗn độn sơ khai, Càn – Khôn thỉ điện. Khí chi khinh thanh thượng phù giả vi Thiên. Khí chi trọng trược hạ ngưng giả vi địa. Nhật, nguyệt, ngũ tinh vị chi thất chánh. Thiên, Ðịa dữ Nhơn vị chi tam tài. Nhật vi chúng dương chi tông, nguyệt nãi thái âm chi tượng".
Tạm dịch "Cái thuở mà khí mông mờ hỗn độn vừa khai mở, thì trời đất bắt đầu phân định. Chất khí trong trẻo và nhẹ nổi lên trên, làm trời. Cái khí mờ đục, nặng nề ngưng đọng ở dưới, làm đất. Mặt trời, mặt trăng và năm vì sao (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) được gọi là ngôi Thất-Chánh.
Trời, Ðất và Người gọi là Tam-Tài (Con người vốn bẩm sanh thọ dụng đầy đủ cả hai khí Âm lẫn Dương, cũng là tinh anh của Trời Ðất; Người ở khoảng giữa Trời và Ðất, cộng giúp dưới trên mà điều hoà, trưởng dưỡng, giúp muôn vật nảy nở sanh sôi, tăng trưởng không ngừng, nên được xếp làm một trong ba bậc cực tài năng vậy) .
Mặt trời là nơi hướng về phần cực Dương của muôn vật. Mặt trăng là hình tượng biểu trưng của khí cực Âm". (Aáu học quỳnh lâm).

Theo Dịch-học, cái mà con người gọi là vũ-trụ, khởi thỉ chỉ là một khối khí to lớn vô biên, mông mờ hỗn-độn, nhưng trong đó có cái lẽ huyền vi, linh diệu vô cùng, cũng là lý "Ðạo", Thiên-đạo, mà ngũ quan và tri thức con người chẳng thể với tới, chỉ tạm mượn danh từ cõi thế mà đặt cho cái tên gọi là Thái-Cực, là chỗ cùng tột, cực kỳ mênh mang to lớn mà không hình hài, gốc gác.

Thái-Cực thì độc hữu, huyền vi, chí linh, chí diệu, ẩn ẩn, hiện hiện mà man man không rõ, mới tự biến hoá mà sanh ra Âm và Dương.

Trong Dịch học, cũng là thuyết Âm Dương, khởi đầu chỉ có Nhứt Âm, Nhứt Dương. Âm, Dương tương hoà mà sanh vũ trụ, người và hàm linh, vạn vật.

Khởi thỉ, trong lúc loài người chưa phát minh ra chữ viết, vua Thánh trí đời thượng cổ là Phục-Hy đã hình tượng hoá Nhứt Dương bằng một vạch liền, và Nhứt Âm bằng một vạch đứt đoạn ở giữa. Từ một vạch liền, và vạch đứt này (Cũng là Nhứt Dương, Nhứt Âm), tương hoà nhau mà sanh ra ngũ hành, là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ . Trong chỗ tương hoà của Âm-Dương, các Hành mà nó sinh ra, tương sanh, tương khắc nhau để tự điều hòa nhịp nhàng với nhau mà có sanh hóa và hủy diệt, cũng là cách trưởng dưỡng sự tồn tại của lưỡng nghi, để từ đó lại sinh sinh hoá hoá không ngừng nghỉ trong chỗ có sanh, có diệt của lưỡng nguyên.

Cho nên, khi đề cập đến thuyết Âm-Dương, cũng có nghĩa những gì muốn nói, đều không ra ngoài Dịch học. Mà đã thuyết về Dịch, thì không thể không đề cập đến hai yếu tố chính, đại biểu cho toàn bộ triết-lý Dịch học này, đó là Ðạo-Càn, và Ðức-Khôn cũng là chỗ cùng cực của lưỡng nghi Âm và Dương vậy.

Càn là Trời, mà theo ý nghĩa và chữ của Văn-vương, là người tiếp nối trong việc khai phá để hình thành lẽ Dịch (Chuyển động không ngừng của vũ trụ) của vua Thánh trí Phục-hy trước đó, được đóng khung trong năm chữ mà vô cùng thâm sâu, uyên áo.

"Thuần" Càn : Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh.

Chỉ năm chữ nầy mà thâm nhập được trong nó, tự huyền đồng trong nó, thì sự-lý, đến đi, động tịnh đều hợp lẽ Ðạo, không ra ngoài chỗ sống tự nhiên mà tất thảy đều diệu dụng, cùng Ðạo thành tựu không hai, không khác vậy.

Khôn là Ðất, mà theo ý và chữ của Văn-vương, cũng chỉ gồm trong một câu có mấy chữ. Một người thâm nhập lý đạo trong đây (cũng là uyên thâm lẽ Âm-Dương), thì không thể nói rằng chỉ đồng một trong Ðạo-Càn, cũng là lẽ huyền vi, linh diệu của vũ trụ, của Ðạo trời, mà không đồng một trong Ðức-Khôn, cũng là nhân sinh quan tương hợp Thiên-lý. Bỡi trong Ðạo đã sẵn chứa Ðức, trong Ðức đã sẵn có mầm Ðạo. Cho nên, nếu chỉ tỏ một bên thì chẳng thể gọi là huyền đồng, vì tự trong Ðạo-Càn đã ngầm chứa Ðức-Khôn, tự trong Ðức-Khôn đã ngầm chứa Ðạo-Càn; Càn-Khôn tương đối nhau để sinh hóa, huyền vi linh diệu, mà lời không thể nói; tạm dụ, như nói nước nóng, thì trong chỗ nóng ấy đã sẵn ẩn chứa khái niệm lạnh của nước, trong chỗ lạnh đã có ẩn chứa sẵn mầm nóng vậy. Như nói thiện, thì ngay chỗ thiện đã ẩn chứa mầm ác rồi. Vừa nói ác là đã có mầm thiện nảy sinh rồi. Ðó chính là lẽ tương đối của âm dương vậy.

Nhưng đây lại chính là chỗ mà Phật và chư Tổ thường dạy chúng sanh tự vượt khỏi nó để viễn ly sanh tử, cũng có nghĩa rời lìa chỗ nhị nguyên Âm-Dương, Thiện-Aùc, Thánh-Phàm, Thị-Phi, Lành-Dữ … vv, vì chúng còn trói bó trong nhơn quả nhị nguyên vậy.

"Thuần" Khôn : Nguyên, Hanh, Lợi, tẩn mã chi Trinh.

Trong Ðức-Khôn (Âm) có đầy đủ các đức Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh như Ðạo-Càn (Dương), nhưng lại có thêm hai chữ "Tẩn mã", ý là nói Khôn-Âm thừa thuận nơi Càn-Dương mà cùng sanh hóa, trưởng dưỡng cùng làm lợi ích cho hàm linh muôn vật vậy. Thừa thuận chính là cái Ðức Nhu của Khôn để tương đối với Ðức Cương, Kiện của Càn mà muôn vật được sanh hoá vĩnh cửu vậy.

Thâm nhập thấu suốt năm chữ trên, không chỗ ngại, có thể nói cách không ngoa rằng, trong chỗ cần giảng rộng ra thì nói suốt đời cũng không hết lẽ biến hoá của Âm-Dương, vì mỗi thời, dù chỉ sát na cũng sanh mỗi động, mỗi biến đổi.

Nói về Hình Nhi Thượng, tức cũng là nói về Vũ-trụ quan, thì Thái-Cực sanh Âm-Dương là lưỡng nghi. Lưỡng nghi sanh tứ tượng là Thái Âm, Thái Dương, Thiếu Âm, Thiếu Dương.

Tứ tượng tương hoà mà sanh bát quái, bát quái tương giao sanh sáu mươi bốn quái, ba trăm tám mươi bốn hào và kế tiếp theo thời (thời gian) mà biến đổi không ngừng.

Nếu nói rằng cần phải thuyết về lý Âm-Dương, chí ít phải thuyết qua chỗ này, mà không cần đề cập tới khoa bói toán. Ðó mới đáng gọi là thuyết về lý Âm-Dương, cũng là thuyết về Dịch-học một cách đúng đắn, chơn thật nhằm giúp người sống đồng với diệu dụng của tự nhiên vậy.

b). Về nhân sinh quan : tức cũng có nghĩa là nói về Hình Nhi Hạ,thì Ðạo-Càn thuần Dương, cực kiện, chỉ cho nam, cho giống đực. Ðức-Khôn thì thuần Âm, cục nhu, chỉ cho nữ, cho giống cái. Hình thượng là phần tinh túy, huyền vi của Ðạo, Hình hạ là những hành động thiết thực trong đời sống trước mắt, nhưng chỗ cao thấp, cương nhu này luôn luôn tương hoà, tương dữ, tương giao mật thiết, không rời lìa nhau thì mới hợp với lẽ Ðạo, cũng là Thiên-lý vậy.

Với Dịch, cũng là thuyết Âm-Dương, khi nói về nhân sinh quan cũng là nói về khuôn mẫu đạo đức, về chính danh, giữa người và người trong chỗ trật tự tôn ti, nghĩa-nhân-trung-chánh, khoan-ái-nhân-hoà, giữa người và hàm linh vạn vật, hành xử với nhau trong đức bình đẳng.

Hàm linh, vạn vật, âm dương giao hoán mà nối tiếp nảy nở sanh sôi, hết đời này đến đời khác, hết kiếp nọ đến kiếp kia, sanh sanh khó hoá không cùng.

Thế nhưng đây lại chính là chỗ trói buộc của tử sanh, mà Thế-tôn, khi Ngài còn là vị Thái tử đã ưu tư, trăn trở vì nó. Cho nên, đang trong chỗ nhung lụa, ngọc ngà, vợ đẹp con ngoan mà Ngài đã phải dứt áo ra đi, từ bỏ tất cả để tìm phương giải thoát khỏi nó, (âm-dương, sanh-tử) và sau khi đắc thành đạo Bồ-đề giải thoát, Ngài đã phải bôn ba lận đận suốt bốn mươi chín năm trường đi giáo hoá, không ngoài mục đích chỉ đường cho chúng sanh tự cởi trói buộc của nhơn quả nhị nguyên, cũng là chỗ có tướng sanh diệt của lý Âm-Dương này mà tự thoát luân hồi sanh tử vậy.

c). Cho nên, nếu thấy cần phải thuyết về lý Âm dương, người thuyết cũng phải tuần tự nói về vũ trụ quan, rồi đến nhân sinh quan. Thuyết về hình nhi thượng, rồi thuyết về hình nhi hạ hay ngược lại. Ðó mới là chơn thuyết lý Âm-Dương, mới không ra ngoài Dịch học.

Người thuyết phải có mục đích rõ ràng, chơn chánh là hướng dẫn người nghe đi lần từ chỗ hiểu biết của tri thức, cảm nhận của giác quan, đến chỗ thâm tỏ bằng trực giác, huyền đồng với lẽ Âm-Dương, cũng Ðạo trời, cũng là chỗ tự nhiên như nhiên của Thiên-lý, mà tự thâm nhập để tùy công phu mà nên Thánh nên Hiền, nên Thiện nên Mỹ (Nhưng cũng vẫn chưa vượt thoát khỏi tam giới) .

Còn trong những bài thuyết về lý Âm-Dương của Ông Chơn-Quang thì sao ?

Ở đây, Ông Chơn-Quang chỉ giảng xoáy về phần hình nhi hạ, về nhân sinh quan, về chỗ lục dục, thất tình, về sắc tướng trói buộc trong nhơn quả.

Ông chỉ xoay đi, xoay lại chỗ bản năng tính dục và hành dâm của hai giới tính đực cái, trống mái, nam nữ, âm dương mà hoàn toàn không có chỗ thuyết nào về chỗ huyền vi, linh diệu để cho người nghe có thể thâm nhập vào phần cốt tủy vô vi của hình nhi thượng để cứu cánh huyền đồng cùng "Ðạo", cùng với Thiên-lý không hai.

Ông thường lập đi lập lại những lời tương tự như : "Thường con người ta ai cũng có cái bản năng tình dục. Cái bản năng tình dục tự nhiên của muôn loài, cả cây cối, hoa cỏ cũng có nữa. Nó cũng có sự giao-phối giữa cái giống khác, phần tử đực và phần tử cái để nó thành, nó duy trì cái nòi giống, và nơi con người cũng vậy. Ðó là bản năng, một cái qui luật để duy trì cái nòi giống, nó thành một cái bản năng tự nhiên trong con người. …." (Nghe phần âm thanh)
Thật ra những điều Ông "thuyết giảng" ở trên, ai mà chẳng biết, vì đó là chuyện của phàm tục kia mà.
Hoặc Ông nói : "Bây giờ chúng ta nói cái giới quan trọng nhất mà hấp dẫn nhất, là giới gì ? Giới gì ? – Giới dâm. Khi một người xuất gia trong giới sa-di đó, thì cái giới dâm nằm ở giới thứ ba, nhưng mà ở Tỳ-kheo thì đó là giới thứ nhất, nên ở đây mình thôi, người tu nào mình cũng xem giới dâm là quan trong cho nên mình nói đầu tiên. Ví dụ như nói rằng, trong cái giới điều qui định rằng là người tu không được hành dâm dục, đó là cái giới ngăn cấm không được làm như vậy.

Vì sao ? Vì cái dâm dục, nó là một cái khoái lạc rất mạnh, nó làm cho tâm hồn mình trở nên ích kỷ, rất loạn động, và như vậy làm cho mình không thể tiến đạo được.

Ðây chúng ta phân biệt hai điều, hai điều nó có liên quan đến cái giới dâm này, là "Tham dục" và "Luyến ái".

Tham dục thì nó đơn thuần, tức là cảm giác nơi chính bản thân mình, gọi là tham dục.

Còn luyến ái nó đòi hỏi một cái đối tượng, một cái người khác phái nào đó để mình có cái tình cảm thương yêu vào cái đối tượng đó.

Còn cái tham dục đó là mục đích của nó là tìm cái khoái cảm nơi chính mình mà đôi khi mình có nhờ vào một cái đối tượng bên ngoài.

À! Tôi cũng xin lỗi trước là khi chúng ta nói về giới, nhất là nói về cái giới dâm, thì chúng ta đào về những vấn đề này nó khá nhiều, nói nhiều vấn đề mà nhiều khi chúng ta cấm kỵ, mà hồi nào giờ mình không dám nói phải không, mình không dám nói, không dám hỏi, nhưng mà hôm nay chúng ta nói về điều này, buộc chúng ta phải nói thẳng, nói thẳng tới  (ai buộc Ông, nếu không phải là chính cái tâm dâm dục đang lừng lẫy trong Ông, mà Ông nói ra đó cũng là cách để giảm thiểu ức chế cho Ông? Ðâu có Phật pháp nào, đâu có môn Dịch-lý học nào dạy Ông dùng cái miệng thanh tịnh của một Tỳ-kheo để thuyết cách tà dâm, ô mị, thô tục phàm tình như thế ? Ai buộc Ông, Ông cứ nói thẳng ra xem. Chính xác hơn thì tự Ông muốn nói ra để thoã mãn ý dâm, và đồng thời làm khuấy động tính dục của người khác thì có !) Chúng ta phải đối diện với nó một cách rõ ràng để hiểu noù  (hiểu để làm gì, hiểu bằng cách nào, bằng thật dụng chăng ?) , thì có những người ở đây, ngồi đây cũng rất là kinh nghiệm (nhưng họ đều không kinh nghiệm bằng Ông, vì  Ông giảng quá hay, quá rành rõi, đến phàm phu như chúng tôi cũng phải rùng mình bái phục sự kinh nghiệm rành rẽ của Ông)  cũng có những người không có kinh nghiệm thì chúng ta cứ trao đổi với nhau (Ðối với những người đã đến chùa nghe pháp Phật, pháp giải thoát, thì trao đổi kinh nghiệm chỗ tính dục này để làm chi? - Không có kinh nghiệm chỗ này, cũng tức như gần với á thánh rồi, thế mà Ông lại đem cái kinh nghiệm của Ông ra để đầu độc người, dìm người xuống bùn nhơ, dẫn dắt người vào chỗ đen tối, dâm ô, dục lạc ! Than ôi! Ðang là đời mạt pháp chăng? ) . Mà nhất là những vị có kinh nghiệm, nếu thấy tôi nói điều gì sai thì cũng xin góp ý giùm để mọi người cùng, cùng được hiểu biết (góp ý cho nhau để hiểu biết rành rẽ chuyện gái trai, đực cái, trống mái …trong chỗ thanh tịnh, trước ngôi Tam bảo để làm chi, có ích lợi gì, nhất là trước mặt Ông là những Sư-cô già có, trẻ có đang trên đường đi tìm chơn lý giải thoát sanh tử, chứ đâu có muốn nghe Ông thuyết pháp dâm ô, thô tục của Ma vương? ) .

Ðến giới luật của Phật mà cũng bị Ông đem ra đùa bỡn trước mắt Thế-tôn và mười phương chư Phật, thì thật là hết biết.

"Nghe Phật sắp Ðại Niết-bàn, ngài A-Nan tiến đến hỏi Phật :
*Bạch Thế-tôn ! Sau khi Phật diệt-độ, hạng nữ nhân đến xin giáo-huấn thì cần được đối xử ra sao ?
Phật dạy : - Ðừng gặp họ.
*Giả sử phải gặp, (không thể thoái thác) thì sao ?
Phật dạy : - Chớ cùng nói chuyện.
* Giả sử phải cùng nói chuyện (không thể thoái thác) thì sao ?
Phật dạy : - Hãy tư nhiếp tâm ý.

Ðọc qua những lời vàng ngọc mà Phật đã răn dạy lần cuối cùng trước khi diệt độ, chúng ta thấy giới-luật trong chỗ tiếp-xúc nam-nữ được Ngài xem trọng biết là dường nào.

Còn bây giờ là thời-đại của văn minh cơ khí, của vi tính, cách xa Phật những hơn hai ngàn rưởi năm dư; sự giao thiệp giữa hai phái, nhất là đối với người xuất gia, cũng không nên đặt nặng vấn đề này lắm, và trên thật tế, tự nó cũng không đến nỗi khó khăn như thời Phật còn tại thế.

Nói không khó khăn lắm, nhưng giới hạnh của Tỳ-kheo, Tỳ-kheo Ni cũng không thể cho phép vượt quá luật nghi, mà cũng cần phải được giữ gìn, tuân thủ. Có như thế Phật đạo mới luôn trong sáng và bền vững, Ma vương và đồ chúng mới không có cơ hội thâm nhập mà làm trùng từ trong thân Sư-tử .

Nếu đã tuân thủ luật nghi, thì đâu có thể nói rằng, hễ bước lên đạo tràng thuyết pháp là muốn nói gì thì cứ tuỳ tiện, không biết e dè, kiên nể giới luật, tự cho mình như một vị thánh, muốn thuyết sao thì thuyết, nói gì thì nói cách vô tội vạ, thuyết ma cũng phải mà thuyết Phật cũng được.

Thật ra, những gì Ông Chơn-Quang vừa thuyết (ở trên), đối với một thích tử xuất gia, không có kinh nghiệm về tình dục, về sắc ái thì làm sao giảng nói cho thật, cho đúng như mong đợi của người nghe, để người nghe học hỏi, hiểu biết thêm. Mà nếu giảng nói ra được cho thật hay, thật chính xác như phàm phu mà Ông đã tự thể hiện trong những bài thuyết tương tự như trên, thì tự nó tố cáo chính Ông đã phạm vào giới cấm ấy vì giảng quá rành, đến phàm phu cũng phải học hỏi ở Ông trong môn khoa học về tâm sinh lý và về tính dục này. Thật bái phục Ông lắm lắm.

Lại nữa, Ông nói trong kinh Phật không có chỗ nào thuyết lý Âm-Dương, chỉ riêng có chùa Ông và chỉ có Ông là có giảng nó cho đệ tử nghe. Chỉ một câu này đã nói lên sự cao ngạo, ngã mạn của Ông, muốn vượt Phật vượt Tổ, quay lưng lại với chánh pháp. Mà lý Âm-Dương Ông thuyết trong đây nào có gì hay ho, mới mẻ cho cam. Ðiều mà Ông luôn lập đi lập lại nhiều lần, cũng không ra ngoài chỗ giao phối của trống mái, đực cái, nam nữ để duy trì nói giống, huyễn sanh huyễn diệt vĩnh kỳ trong nhơn quả, âm dương mà thôi, không có gì khác lạ. Không thuyết ra thì phàm phu ai cũng biết. Mà dẫu có thuyết như Ông, thì phàm phu cũng chẳng học hỏi được gì ở Ông, ngoài chỗ Ông dắt họ cùng vào ma đạo, sinh tử vĩnh kỳ.

Lại nữa, khi thuyết lý Âm dương, đáng lẽ phần cơ-bản phải thuyết là Hình nhi thượng, là phần cốt tủy của thuyết này hầu giúp người nghe thuyết thâm nhập Thiên-lý, sống hoà một cùng Ðạo-trời; thế mà ông hoàn toàn không đề-cập. Ðiều đó chứng tỏ Ông chỉ rành về phần Hình nhi hạ, mà trong chỗ nhân sinh quan, Ông chỉ biết giảng xoáy về ái dục, (mà không nói gì về nhơn, nghĩa, trung, chánh), tự cột buộc trong tướng sanh diệt, nhơn quả hai bên; Ông chỉ đặt nặng mỗi một điểm về sanh dục tính của con người và vạn vật mà thôi. Thật ra, Ông không có một chút hiểu biết nào về lẽ thật của lý Âm-Dương vũ trũ, chứ chưa cần nói là Ông đã có thể tự thâm nhập, huyền đồng "một" trong chỗ cùng tột vô vi của thuyết Âm-Dương chưa, cũng có nghĩa là Ông đã sáng tánh trời chưa, mà dám đi thuyết lý Âm-Dương là việc làm của các bậc Thánh trí .

Ông chỉ thuyết về nhân sinh quan mà không thuyết gì nhiều về vũ trụ quan, cũng là phần quan yếu tạo nên trời đất, muôn vật, hàm linh chúng sanh như trong Dịch học mà Phục hy đã khám phá,và các vị Văn vương, Chu công, Khổng tử sau này làm sáng nghĩa thêm hơn, để người thế gian hoc tập, chiêm nghiệm tự thân mà sáng trí trong chỗ trí tri, cách vật, để rồi lần lần nhận ra chỗ tương ưng giữa mình và vũ trụ, nhân sanh và thế giới mà khám phá ra chính cái tiểu ngã, để cứu cánh là đồng một trong chỗ huyền vi của đại ngã, cũng là Thiên-lý. (Ðạo) .

Thật ra, trong pháp hội này, ai là người có chút tri thức đều tự thấy biết Ông đang muốn gì khi cứ giảng xoáy vào chỗ đực cái, trống mái, đàn Ông, đàn bà, về bản năng sinh dục, luyến ái của chúng sanh.

Những gì Ông thuyết đó hoàn toàn không đem lại cho người nghe được chút lợi lạc nào trong chỗ giải thoát tử sanh, nếu không muốn nói là Ông chỉ dùng cái miệng để kích thích người nghe phát khởi bản năng tham đắm dục lạc, khởi tâm trói buộc vào dục tình. Chỗ thuyết này có thể nói cách không ngoa rằng, đó là cách hành dâm của khẩu và ý mà Ma-vương và đồ chúng thường làm vậy.

Chỗ Ông giảng làm sao có thể nói cách trọn vẹn là thuyết về lý Âm-Dương được, mà chỉ có thể nói rằng Ông đang bàn về tâm sinh lý trong sự giao phối của con người nói riêng và hàm linh vạn vật hữu tình nói chung, thì đúng hơn.

Bỡi vì, nếu thuyết về lý Âm-Dương không thể nào có một phát minh khác được, cho đến thời điểm hiện tại này, chính xác và hay hơn Dịch học được. Còn những gì Ông thuyết ra đó thì hoàn toàn không dính dấp tới Dịch học, hay Lão học.

Mà nếu nói tới Dịch học thì sự giảng nói của Ông trong băng từ cũng chỉ nhỏ nhoi như một hạt cát trong sa mạc, người nghe sẽ không nhận lãnh được từ nơi Ông một điều gì hy hữu, vượt thoát, xuất trần, hay tự khám phá Tiểu-ngã để huyền đồng Ðại-ngãõ, nếu không muốn nói là Ông càng thuyết thì càng trói buộc người nghe vào trong nhân quả hai bên, Âm-Dương sanh tử.

Nói rằng thuyết Âm-Dương, thì chí ít cũng không thể bỏ qua mà không thuyết về cái Ðức Nguyên to lớn, bao la ôm trùm và xuyên suốt muôn vật, muôn pháp của Càn-đạo. Vạn vật, vạn pháp cũng đều không ra ngoài Ðức này. Và một khi nói về chỗ cùng tột của Ðạo-Càn, và Ðức Nguyên thì cũng có nghĩa là thuyết về Thiên-lý vậy (Lão-Giáo). Sau Ðức Nguyên, lại phải thuyết về các Ðức Hanh, Lợi, Trinh nữa, thì mới trọn vẹn cả về nhân sinh lẫn vũ trụ, đó mới có thể gọi là thuyết về lý Âm-Dương cách chơn chánh vậy .

Ðể kết thúc bài nhận xét về câu tuyên bố : "Ðâu có kinh nào Phật nói về lý Âm-Dương đâu? Vậy mà ở chùa tôi, tôi nói về lý Âm-Dương cho đệ tử tôi nghe" và nội dung trong bài thuyết về lý Âm-Dương của Ông Chơn-Quang, chúng tôi xin trích một đoạn ngắn Phật thuyết trong Kinh Lăng-Nghiêm, để người đọc tự hiểu thế nào là Chánh, Tà, Ma, Phật :

"Có loại ma thường nói đến thần thông và tự tại, hoặc khiến cho người khác thấy được cõi Phật. Nhưng cõi ấy không thật, chỉ hiện ra do ma lực để huyễn hoặc người khác.
Nó tán thán dâm dục, không từ bỏ hạnh thô tục. Nó dùng những việc và lời sỗ sàng này để thuyết pháp".

Phật gia Cư-sĩ
Chơn-Chánh.

 
bullets08.gif - 0.2 KChướng Ma Ðời Mạt Pháp - Bài 8
bullets08.gif - 0.2 KChướng Ma Ðời Mạt Pháp - Bài 7
bullets08.gif - 0.2 KChướng Ma Ðời Mạt Pháp - Bài 6
bullets08.gif - 0.2 KChướng Ma Ðời Mạt Pháp - Bài 4
bullets08.gif - 0.2 KChướng Ma Ðời Mạt Pháp – Bài 3
bullets08.gif - 0.2 KChướng Ma Ðời Mạt Pháp – Bài 2
bullets08.gif - 0.2 KChướng Ma Ðời Mạt Pháp – Bài 1
bullets08.gif - 0.2 KNghe phần âm thanh
bullets08.gif - 0.2 KTrang Mục Lục - Trích đoạn những bài giảng của "Sư" Chơn Quang
bullets08.gif - 0.2 KTrang Quan Ðiểm
bullets08.gif - 0.2 KTrang chính