
Vài nhận xét về những bài "giảng pháp"
Của Sư Chơn-Quang.
BÀI IVHỦY PHÁP - BÁNG PHẬT
Trong cuộn băng "Các pháp môn tu # 4" Ông Chơn-Quang nói :
"Cái trạng thái sơ thiền như vậy nếu mình tiếp tục kín đáo, khiêm hạ, im lặng không nói, tiếp tục tạo phước, thì mình sẽ đạt được cái trạng thái nhị thiền. Cái trạng thái nhị thiền thì nó hoàn tòan là định tĩnh, dứt hết tất cả những cái tâm niệm lăng xăng nhỏ, rất nhỏ, dứt hết, tâm hoàn toàn vắng bặt, thanh tịnh hoàn toàn, những ý nghĩa không còn nữa. Tuy nhiên nó chưa vào sâu được trong vô thức cuả tam thiền. Cái trạng thái này thì nói sơ sơ thôi, chớ quí Phật tử chưa đến, nên tôi cũng không nói kỹ, mà bản thân tôi bị cũng tu chưa được cái gì cho nên cũng không dám nói nhiều* (a) . Quí Phật tử cố gắng, chỉ biết rằng tu mà tâm mình nó nhẹ nhàng, thanh tịnh là mình đang đúng dần dần và ráng kín đáo. Ở trong pháp hội này, cũng có người vào sơ thiền rồi đó, mấp mí cũng sơ thiền, có người vào rồi, cư sĩ đó. Khi một người họ được nhảy một bước nhảy vọt đó, tâm tự nhiên bất ngờ đoạt được một trạng thái thanh tịnh rổng rang, rất là rất là an lạc, rất là đặc biệt, thì người đó có cái cảm giác rằng "À ! cái tâm thanh tịnh này từ lâu rồi, không phải mới đây mới có."
Có trường hợp đó, cái người đó có, nên họ buộc miệng nói như thế này: "Tâm ta từ xưa nay vốn thanh tịnh". Nghe câu này ở đâu ? Nghe câu này ở đâu ? Nghe ở đâu ? Trong "Pháp-bảo-đàn" đó phải không ? "Tâm ta bản lai thanh tịnh". Rất nhiều Thiền sư cũng nói như vậy, cho nên đưa ra một cái lý thuyết là "nơi mình có một cái tâm bất sanh bất diệt", phải không? Nghĩa là mình bị nhiễm ô chứ cái tâm mình nó sẵn thanh tịnh từ xưa, bây giờ chỉ tìm lại". Tại sao họ đưa ra cái lý thuyết đó ? Bỡi vì khi mà họ được cái tâm thanh tịnh đó, họ có cái cảm giác là cái tâm này nó đã thanh tịnh lâu rồi, từ lâu rồi. ÐÂY CHỈ LÀ LỐI HIỂU LẦM. TÔI NÓI CÂU NÀY LÀ TÔI ÐỤNG CHẠM KHẮP HẾT CẢ TỪ XƯA TỚI GIỜ ÐÓ * (b) . Bây giờ thôi, tôi phải giải thích. Là vì cái người mà rơi vào trạng thái đó đó, là cái người đời trước họ đã đạt cái "Ðịnh" rồi, rồi khi sinh lại kiếp này họ mất. Cái người này đó, hồi kiếp trước họ được cái định rồi, họ được cái định rồi, cái sinh qua kiếp này, cái bị quên đi một thời gian, quên đi mười mấy năm, hai mươi năm, ba mươi năm, rồi cái khi họ tu, cái họ đạt được trở lại rất nhanh, thì họ bị cái cảm giác là : "À ! Cái này mình có cái định này lâu rồi, cái thanh tịnh này lâu rồi". Thì nếu mà họ có đạo nhãn riêng đó thì họ sẽ thấy rằng : "À ! Tại vì kiếp trước mình được cái định này, nên bây giờ trở lại nên mình bị cái cảm giác đó" * (c) .Nhưng mà không, họ, vì chưa thấy được điều đó, họ bị cái cảm giác là " Tâm này thanh tịnh lâu rồi", họ đưa ra một cái lý thuyết mới, lý thuyết là : "Mỗi con người đều có sẵn một cái tâm thanh tịnh từ xưa, bây giờ chỉ tu để tìm lại". Nên chúng ta bắt gặp cái cảm giác, cái lý luận đó rất nhiều trong Thiền-Tông Trung hoa,NGAY CẢ NGÀI HUỆ-NĂNG CŨNG LÝ LUẬN NHƯ VẬY. RẤT NHIỀU THIỀN SƯ ÐỀU LÝ LUẬN NHƯ VẬY * (d). Còn những người mà tu mà đạt cái định dần dần, cái định bằng như vậy, nhưng vẫn không có cảm giác "Tâm này sẵn thanh tịnh" tại họ mới đạt được cái định của kiếp này, nên họ không có cảm giác đó. Nên chỉ nhiều khi là mình với cái, cái kết quả chủ quan của mình mà mình lập ra một lý thuyết hẵn, một lý thuyết khác luôn trong đạo Phật luôn, cho nên Thiền Tông tại sao cứ xuất hiện cái câu mà "Tâm ta vốn xưa nay vốn sẵn thanh tịnh" là vì vậy đó. Vì các Thiền-sư mà khi ngộ, lại bị cái cảm giác "À ! Cái tâm này sẵn thanh tịnh rồi". Mà đâu có hay rằng tại vì kiếp trưốc, cái này là cảm giác của kiếp trước rớt lại, mới có đó, chớ còn người khác không bị đâu. Thí dụ người khác tu tiến dần dần, dần dần, cái định bằng như vậy, nhưng không có cảm giác là tâm này thanh tịnh lâu rồi, MỚI THANH TỊNH ÐÂY À ! * (e) .
Thưa Ông Chơn Quang ! Không còn cách nào khác hơn là chúng tôi đành phải ghi lại toàn bộ những lời Ông nói, để cho những ai đã trót nghe cùng những ai chưa có dịp nghe Ông "giảng thuyết", thì chỉ với những dòng chữ trên cũng đủ để họ nhận ra được chân tướng của Ông, rằng đó là ma đội lốt Phật, đang thuyết tà pháp của ma vương, là trùng trong thân sư tử ăn thịt sư tử, như dự ngôn của đức Thế-tôn hai ngàn rưởi năm trước.
Phật dạy "Khi thiên ma có cơ hội thuận tiện, chúng liền cho tinh thần nương gá vào thân người khác và dùng miệng người đó giảng nói kinh pháp. Người này không biết mình bị ma gá vào, tự tuyên bố mình đã chứng được Vô thượng Bồ-đề. Nó đến bên những hành giả ưa thích và tham cầu hiểu biết, trải toà ngồi thuyết pháp.
. . . . Ma thích nói rằng: "Từ kiếp trước vào đời nọ, ta đã độ người kia, lúc đó là vợ hay chồng, hoặc là huynh đệ của ta, nên kiếp này ta lại đến để độ nhau. Ta sẽ cùng các ngươi đưa nhau đến cảnh giới tốt đẹp kia để cúng dường đức Phật nọ vv… và vv…."
(Thủ Lăng-Nghiêm Kinh – Phân biệt các Aám ma - Quyển 9, 10 )
Lại nữa, chỉ một đoạn thuyết ngắn của Ông ở trên đã minh chứng cho lời của Ðạo-hữu Pháp-Chánh là hoàn toàn không sai và cũng không hề oan uổng cho Ông chút nào :"theo tôi thì có lẽ CQ. chưa hề theo học một khoá Phật học sơ cấp nào" (Bài II Phần góp ý – Pháp-Chánh).
1). Ông nói : "Cái trạng thái sơ thiền . . . cái trạng thái nhị thiền thì nó hoàn toàn là định tĩnh. . . . Tuy nhiên, nó chưa vào sâu được trong vô thức của Tam thiền. Cái trạng thái này nói sơ sơ thôi, chớ quí Phật tử chưa đến, nên tôi cũng không nói kỹ, mà bản thân tôi bị cũng tu chưa được cái gì cho nên cũng không dám nói nhiều.
Thưa Ông Chơn Quang! Những gì Ông nói trên đều trật cả, chỉ có một phần tư câu cuối cùng là trúng thôi "bản thân tôi bị cũng tu chưa được cái gì cho nên cũng không dám nói nhiều". Cũng may là Ông còn biết chính bản thân Ông tu chưa được cái gì, nên không dám nói nhiều; Ông chỉ mới "nói sơ sơ " mà đã trật đến mức đó, đã làm khổ không biết bao nhiêu người vì lầm nghe theo Ông dẫn dắt mà vào ngõ cụt của tà kiến, ma đạo; nếu Ông còn nói nhiều hơn nữa thì ắc thiên hạ và ngay cả chúng tôi đây nghe Ông thuyết, nếu chẳng thành ma như Ông thì cũng điên điên, khùng khùng hết thảy.
Ðã biết mình tu chưa được cái gì mà dám lập đạo tràng để thuyết pháp Phật. Ông nghĩ là Phật không còn hiện hữu trong cõi này, theo cách thấy biết tà mị của Ông, để rồi Ông muốn nói gì thì nói, làm gì thì làm, vì cho rằng Phật không còn mồm miệng để có thể quở trách Ông chăng? Ông đã quên một bài học nằm lòng và tối quan-trọng của một Thích-tử xuất-gia rằng, tuy Phật đã không còn tại thế, chẳng những hai mươi lăm thế kỷ đã qua,mà còn sang đến đời Phật Di-lặc hạ sanh ở tương lai nữa, nghĩa là thời gian còn rất lâu xa, nhưng ánh sáng của đạo Ngài không hề mất, vì giới-hạnh Ba-la-đề-mộc-xoa chính là "Phật tại tiền" đối với Ông không khác.
Người Thích-tử chơn chánh phải biết luôn tin tưởng, và tùy thuận căn cơ, hạnh nguyện mà thọ trì như pháp một trong các pháp môn mà Phật đã dạy suốt bốn mươi chín năm Ngài còn tại thế, cũng như phải thật hành chơn chánh những gì mà Ngài đã răn trong di-giáo lần cuối cùng trước khi Ðại-Niết-bàn. Một người con Phật chơn chánh không bao giờ dám quên điều này dù là trong một phút giây, bỡi vì rời lìa giới bổn Ba-la-đề-mộc-xoa cũng là tự rời lìa ngã Phật vậy.
Cho nên, một Phật tử có chút hiểu biết bình thường chỉ cần nghe qua những lời "giảng thuyết" của Ông, cũng thấy rõ được tất cả phẩm hạnh và giáo đức của một Tỳ-kheo chơn chánh hoàn toàn không có ở nơi Ông, và pháp hành mà Ông đang theo đuổi hoàn toàn đi ngược lại những gì Phật dạy. Những lời Ông thuyết và tự cho rằng đó là "Phật pháp"ù, đều là những lời hoang đường của ma thuyết, và không ai có thể tưởng tượng nổi, một người tự nhận mình là Thích tử mà có thể thuyết ra những lời bổ báng Tổ, Phật và hủy phạm chánh pháp của Ngài như thế. Xem phim Tây-du-ký mà hồi tưởng, Ông có khác chi bọn ma vương giả Phật để ăn thịt Ðường tăng đâu.
Ðọc cả một trang giấy ghi chép chi chít những lời Ông nói đó, tự nó chứng tỏ, Ông như người mù đi trong đêm tối, ngay cả chính bản thân mình cũng còn chẳng tỏ đâu là chông gai, hầm hố, không biết mình đang lầm lũi cất bước về đâu, huống là dẫn dắt người khác theo cùng.
Thật là chuyện đại hý luận; cho dù người giàu tưởng tượng tới đâu, kể chuyện giả tưởng thu hút người nghe hay cách mấy, có lẽ cũng phải tôn Ông làm sư-phụ, bỡi họ cũng không cách nào nghĩ ra nổi việc làm tương tự như Ông.
Ngay pháp "Thiền" phàm-phu, nào là sơ thiền, nhị thiền, tam thiền vv… mà Ông đề cập và chỉ dẫn cho chúng sanh đó, chính Ông cũng chẳng biết nó là gì, sự lý, tánh tướng nó ra làm sao, hoàn toàn chưa tự thể nhập một trong nó, thế mà cũng nói trăng, nói cuội, không chút dính dấp, trúng trật vào đâu cả.
Ông nói : "Cái trạng thái nhị thiền thì nó hoàn toàn là định tĩnh, … thanh tịnh hoàn toàn".
Thưa Ông, chưa hoàn toàn định tĩnh, chưa thật sự hoàn toàn thanh tịnh đâu. Trạng thái Nhị thiền chỉ mới là chỗ "Ðịnh sanh hỷ lạc", nghĩa là sau khi thâm nhập Sơ thiền thì cái vui mừng của Sơ thiền (Ly sanh hỷ lạc – nhờ tự lìa mà sanh vui mừng) vẫn còn làm cho tâm hành giả chao động (vì còn chỗ được hỷ lạc) nên cần phải diệt trừ . Nhờ vào định màø cái vui còn thô phù của Sơ thiền chấm dứt, để ngay đó cái vui vi tế của nhị thiền hiển lộ. Nhưng ngay chỗ này, tâm vẫn chưa hoàn toàn thanh tịnh, vì còn thấy có hỷ, lạc dù là hỷ lạc vi tế vậy.
Nhưng rồi Ông lại nói : "Tuy nhiên nó chưa vào sâu được trong vô thức của tam thiền".
Nhị thiền là nhị thiền, chứ làm sao có cữa nẻo để lẫn lộn được mà nói là nhị thiền chưa vào sâu được trong vô thức của tam thiền.
Thưa Ông, vào trạng thái Tam thiền là đã lìa được hỷ lạc vi tế của Nhị thiền mà bắt gặp một thứ vui mừng khác mầu nhiệm hơn phát sanh, cũng còn gọi là "Ly hỷ diệu lạc". Chỉ bốn chữ này cũng đã đủ nói lên trạng thái tâm thể khi thâm nhập Tam thiền, là tự rời lìa cái mừng còn chao động để bắt gặp cái vui diệu mầu vô vi vậy.
Vả lại, hai chữ "Vô thức" mà Ông dùng trong đây, nên dành cho các nhà triết học thì có lẽ chính xác hơn, bỡi nó chỉ cái trạng thái của "Vô ký không", u u minh minh đường đi lối về không tỏ vậy. Chỗ vô thức mà Ông đề cập ở đây hoàn toàn trái ngược với "Vô niệm" hay "Ðương niệm" hay "Nhứt niệm" của Nhà Phật.
Vô niệm, Ðương niệm, hay Nhứt niệm là trạng thái sống của tâm thể, thấy biết rõ ràng trong chỗ "hiện thực tuyệt đối", "Ðang-là", tự làm chủ, mà nói không thể tới vì năng sở chỉ một.
Còn vô thức hay vô ký là trạng thái của cái tâm chết, đắm chìm trong vô minh, u u mê mê, bị dẫn dắt theo nghiệp lực mà không tự biết, vì hoàn toàn không tự làm chủ.
Qua những gì Ông nói ở trên, tự nó biểu lộ Ông không biết và chưa tự thâm nhập được một chút gì của một trong bốn bậc thiền từ Sơ thiền đến đệ Tứ thiền của phàm phu cả.
Tôi thật sự không hiểu, ngay chính bản thân Ông, Ông cũng còn không biết thật mình là ai, đang làm gì, đang nói gì, thì những chúng sanh nghe Ông nói, nghe Ông giảng chẳng biết họ lãnh hội được những gì từ nơi Ông và theo Ông đi về đâu nữa. Qua những cuộn băng Ông "giảng thuyết" đó, có chăng chỉ là việc Ông báng Tổ, chê Phật, hủy Pháp và ca tụng vô minh cùng ma đạo mà thôi. .
Thật ra những gì Ông nói đó đều là ma nói. Ông hoàn toàn không tự biết là mình đã nói gì. Ma đang nương gá vào thân tướng của Ông để nhờ miệng Ông hủy Phật báng Tổ, làm bại hoại Phật pháp cũng là cách củng cố cái thế giới của chúng ma mà thôi.
Ðã biết là tu chưa được cái gì mà dám đăng đàn thuyết pháp Phật. Ông thật là bạo gan, lớn mật.
Ông chớ nên có tư tưởng: "cũng vì lòng từ bi mà tôi biết được chút nào tôi nói ra chút nấy để làm lợi lạc cho chúng sanh". Cái chỗ "biết được chút nào" đó của Ông có phải đã là cái biết chơn thật chưa, có phải là cái biết không đúng sai, không thiện ác, không phàm thánh,. . . hợp với ý chỉ của Thế tôn, chư Tổ và Giáo pháp giải thoát chưa, hay là cái biết còn trói cột trong vô minh nhơn quả, nếu không muốn nói là cái biết, cái nói, cái làm của Ông đang hoàn toàn trái ngược những gì Thế-tôn thuyết trong Giáo pháp của Ngài. Chỗ thuyết pháp của Ông không có một đích đến rõ rệt nào, không những không có chút gì làm lợi lạc cho chúng sanh, không dẫn dắt được chúng sanh đến bờ giải thoát, mà trái lại còn đưa họ vào ma đạo, vào tà kiến nữa.
Ông nói : "Quí Phật tử cố gắng, chỉ biết rằng tu mà tâm mình nó nhẹ nhàng, thanh tịnh là mình đang đúng dần dần và ráng kín đáo. Ở trong pháp hội này cũng có người đã vào sơ thiền rồi đó, mấp mí cũng sơ thiền, có người vào rồi, cư sĩ đó. Khi một người họ được nhảy một bước nhảy vọt đó, tâm tự nhiên bất ngờ đoạt được một trạng thái thanh tịnh rổng rang rất là, rất là an lạc, rất là đặc biệt, thì người đó có cái cảm giác rằng: "À, cái tâm thanh- tịnh nầy từ lâu rồi, không phải mới đây mới có".
Ðọc qua đoạn "thuyết giảng" trên, cho thấy Ông chỉ có tu bằng miệng, lừa người nhẹ dạ, hoàn toàn không có một chút công phu nào trong việc thật hành chơn chánh một trong các pháp môn của Thế-tôn.
a). – Ông khuyên bảo Phật tử hãy cố gắng tu đi, nhưng không biết tu cái gì, tu làm sao, tu pháp nào; Ông lại cũng không biết quán tâm chúng sanh, tùy duyên phước, tuỳ trí tuệ căn cơ cao thấp của từng người mà chỉ cho họ nên tu một pháp nào rõ rệt nhất, thích hợp nhất để có được kết quả tốt nhất, trong khi chính Ông cũng tự nhận là Ông cũng chưa tu được cái gì (bản thân tôi bị cũng tu chưa được cái gì cho nên cũng không dám nói nhiều)!
Chúng ta không nên lầm, rằng, đó là một câu nói khiêm hạ của một người đạt đạo, hay là một câu nói chơn thật từ tự tánh rổng rang thanh tịnh của cảnh giới giải thoát : "Vô pháp khả đắc thị danh đắc pháp – không một pháp có thể được, đó chính là chỗ được pháp" . Vì những gì Ông thuyết trong hầu hết các băng giảng đều bị trói buộc trong pháp tướng, trong nhơn quả huyễn hoá, sanh diệt, chứ chẳng phải từ chỗ rỗng lặng "không một pháp có thể thuyết, ấy là chơn thuyết". Chúng ta lại chớ lầm tưởng một lần nữa, rằng không một pháp có thể thuyết là cứ phải luôn ngậm miệng không nói. Một khi tâm còn chỗ trói buộc, thì dù nói hay nín đều bị vướng mắc trong nhơn quả nhị nguyên. Ngược lại, một khi đã tỏ ngộ tánh chơn thật của tất thảy các pháp, tùy căn cơ của từng đối tượng mà thuyết, thì dù nói hay nín cũng đều là chỗ diệu thuyết, để mở, bày mà dẩn dắt người thâm nhập tự tánh Phật.
Trong bài thuyết giảng này, Ông nói Thiền Phàm phu mà không biết một chút gì về lý tánh của nó , không tự biểu lộ có chỗ thâm nhập một trong nó, mà chỉ nói bằng ngôn ngữ khơi khơi thì việc nói đó có làm lợi lạc gì cho ai chăng, nếu không muốn nói là dẫn dắt người chạy theo tướng của ngôn ngữ, theo trí tưởng tượng dồi dào của Ông để cùng vào lầm lạc?
Nói như Ông rằng, cứ ráng mà tu đi, tu lâu tâm sẽ thanh tịnh lần lần, ai mà chẳng nói được như vậy. Tôi cũng có thể nói "Thầy Chơn-Quang ráng tu đi, cố gắng tu đi để mai kia thành Phật". Nhưng tu làm sao, tu pháp nào thì chính bản thân tôi cũng hoàn toàn mù mịt, chẳng biết đường nào mà lần, vì tôi cũng u, a, ấm, ớ thì làm sao có thể chỉ vẽ được cho Ông. Bỡi tôi chỉ là con vẹt biết nói giỏi mà thôi. Ðây là một căn bệnh nan y, thời thượng và dễ lây lan. Hoá ra lâu nay một ông mù mà làm hướng đạo dẫn dắt người đi trong đêm tối, thật là chuyện đại khôi hài, khó ai tin nổi.
b). - Ông nói : "Ở trong pháp hội này cũng có người đã vào sơ thiền rồi đó, mấp mí cũng sơ thiền, có người vào rồi, cư sĩ đó".
Ông nghĩ Sơ thiền có tướng tam cấp, có cữa nẻo, ban bệ hay sao màbiết người có chỗ "mấp mí cũng Sơ thiền". Chính Ông còn chưa tự thâm nhập (như Ông xác nhận ở trên), còn chưa thấy nhàm chán và xa lìa được chỗ nhiễm ô của thế tục, còn trói buộc trong tất thảy các pháp tướng, chưa tự biết cách chơn thật thế nào là vị hỷ lạc do ly dục mà sanh (thể hiện sự nhiễm ô trong tất cả các bài giảng thuyết) thì làm sao Ông có thể biết mà chỉ người này, người kia đã thâm nhập hay đã mấp mí Sơ thiền rồi. Ðó chỉ là một cách đánh lừa người nhẹ dạ, dễ tin hòng lôi kéo họ vào ma đạo mà thôi.
c). – Ông nói : "Khi một người họ được nhảy một bước nhảy vọt đó, tâm tự nhiên bất ngờ đoạt được một trạng thái thanh tịnh rổng rang, rất là an-lạc, rất là đặc biệt, thì người đó có cái cảm giác rằng "À, cái tâm thanh tịnh này từ lâu rồi, không phải mới đây mới có".
Ðây là một vấn đề lớn có liên quan đến suốt chiều dọc bài thuyết giảng này của Ông. Ðể phân tích ý nghĩa câu nói và tâm ý của Ông C.Q , cùng những câu tương tự mà Ông đã giảng trên kia, chúng tôi xin dành cho phần sau cùng của bài viết. Ở đây chúng tôi chỉ đề cập đến hai chữ "cảm-giác" mà Ông dùng trong trường hợp này.
Khi một người bất ngờ nhận ra chính mình "một" trong chỗ tự thể rổng rang, thanh tịnh, tròn đầy sáng trong, không đến đi, không còn mất, vô chung vô thỉ, như như bất động kia thì đó là trạng thái tâm thể của người hốt nhiên nhận ra tự tánh, cũng còn gọi là ngộ tánh. Ðặc biệt Thiền tông thường dùng hai từ này để chỉ cho người chợt nhận ra tự Phật.
Mà đã ngộ tánh thì ngay đó tri thức đã tự lìa, không năng không sở, hay nói chính xác năng sở chỉ một, không khác cũng không hai, tự biết mà nói không thể tới. Như hư không tự nó xưa nay vốn sẵn là hư không, mà hư không chẳng thể nói được chính nó là hư không vậy.
Còn như Ông Chơn-Quang nói, "người đó có cái cảm giác rằng", tức người đó còn có chỗ thấy biết của tri thức, của giác quan, của năng tri; có cái "cảm-giác" tức là còn có chỗ bị thấy mà tri thức cảm nhận lên nó, nghĩa là còn có sở tri để được năng tri, còn có tự ngã để thấy đối tượng của tự ngã qua cái cảm giác của thức ý (cũng là vọng thức, vọng tưởng, vọng chấp mà thôi). Chỗ "cảm giác" mà Ông mô tả đó, hoàn toàn sai khác với trạng thái của hành giả hốt nhiên tự "một" trong hiện thực tuyệt đối, chơn thật, vượt tri thức, lìa ngôn ngữ, cũng là tự tánh Phật, là bổn lai diện mục của chúng sanh.
Lại nữa,đang trong chỗ giảng nói về pháp Thiền phàm-phu, nào là Sơ thiền, . . . Tam thiền, Ông nhảy một bước thật xa qua tối thượng thừa pháp, trong chỗ hốt nhiên ngộ tánh của Thiền-tông, một pháp Thiền tối siêu việt của Phật giáo, thì người nghe làm sao có đủ căn cơ trí tuệ để mà "bắt kịp" Ông nổi. Mà chính chỗ Ông đề cập này, tự Ông còn mờ mịt, còn bị trói cột, vướng mắc trong tướng chấp, vì còn ngã tướng, chúng sanh tướng trong chỗ có cảm giác. Thật ra hành giả bắt gặp trạng thái "hốt nhiên tự bừng sáng"này (ngộ tánh) ngay đó tự một trong nó, không còn có chút gì dính dấp tới khái niệm đối đãi trong chỗ thấy biết của tri thức nữa, vì tất cả đã tự lìa, mọi pháp tướng đều cháy tiêu không lưu dấu,năng sở không hai, nên nói không thể tới. Mọi lời cũng chỉ là bên ngoài, không thể nói là có cảm giác được, vì còn có ai trong đây nữa ngoài tánh sáng độc hữu diệu mầu này mà có chỗ tri kiến. Ðây chính là chỗ hoàn toàn chơn thật mà Phật đã dẫn dắt tôn-giả Tu-bồ-đề tự thể hiện cái thấy biết mà nói không thể tới, vượt lìa tứ tướng mà chỉ những ai tự một trong nó thì mới rõ như thật lời Ngài.
"Tu-bồ-đề ! Nhược nhơn ngôn : Phật thuyết ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến . Tu-bồ-đề ! Ư ý vân hà? Thị nhơn giải ngã sở thuyết nghĩa phủ?
-"Phất dã, Thế-tôn. Thị nhơn bất giải Như-lai sở thuyết nghĩa. Hà dĩ cố? – Thế-tôn thuyết ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến, tức phi ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến, thị danh ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến.
"Tu-bồ-đề ! Bằng có người nói Phật nói ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến. Tu-bồ-đề! Ý Ông thế nào ? Người ấy có thấu tỏ nghĩa lý của Ta nói không?
-"Bạch Thế-tôn, không ạ! Người ấy chẳng tỏ thấu ý nghĩa lời Phật dạy. Bỡi cớ sao ? – Bỡi Phật nói ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến nhưng chẳng phải (có thật) là ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến, mà chỉ tạm gọi là (mượn lời-giả danh) ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến (để nói pháp phương tiện) mà thôi.
Chúng tôi mượn lời Tôn-giả Tu-bồ-đề trả lời Phật trong chỗ thấy biết chơn thật của Ngài khi được Thế tôn thuyết giảng Bát-nhã Kim-cang, là lìa tất cả các pháp tướng, cũng như tứ kiến, không ngoài mục-đích chỉ ra chỗ nghĩ tưởng sai lầm về cái "cảm giác" của Ông đề cập ở trên, mà tới chỗ này người viết cũng không còn lời nào để có thể nói hơn được nữa.
2). Ông Chơn-Quang nói : "… thì người đó có cái cảm giác rằng "À, cái tâm thanh tịnh này từ lâu rồi, không phải mới đây mới có". Có trường hợp đó, cái người đó có, nên họ buộc miệng nói như thế này: "Tâm ta từ xưa nay vốn thanh tịnh". Nghe câu này ở đâu? Nghe câu này ở đâu? Nghe ở đâu? Trong Pháp Bảo-đàn đó phải không? "Tâm ta bản lai thanh-tịnh". Rất nhiều Thiền-sư cũng đều nói như vậy cho nên đưa ra một cái lý thuyết là "Nơi mình có một cái tâm bất sanh bất diệt". Phải không ? Nghĩa là mình bị Ô nhiễm chứ cái tâm mình nó sẵn thanh tịnh từ xưa, bây giờ chỉ tìm lại". Tại sao họ đưa ra lý thuyết đó? Bỡi vì khi mà họ được cái tâm thanh tịnh đó họ có cái cảm giác là cái tâm này nó đã thanh tịnh lâu rồi, từ lâu rồi. Ðây chỉ là lối hiểu lầm. Tôi nói câu này là tôi đụng chạm khắp cả từ xưa tới giờ đó…".
Ở đây chúng tôi không cần bàn về hình thức những lời thuyết giảng của Ông CQ., mặc dù cách sắp đặt câu cú trước sau, trên dưới rất lộn xộn, mà chúng tôi chỉ muốn đề cập về chỗ tâm ý mà Ông muốn nói, cũng là cách lý luận mập mờ được Ông đưa ra để phủ nhận lời Phật cùng Giáo-pháp của Ngài, cũng như đối với Lục Tổ Huệ-Năng và kinh Pháp Bảo-đàn.
Như trên chúng tôi đã nói, đây là một vấn đề lớn, có liên quan và ảnh hưởng trực tiếp tới tận gốc rễ Giáo lý Ðại-thừa của Phật. Nếu không vì quá bức xúc thì người viết cũng không cầm bút, vì nếu chỉ một hai người hiểu lầm như Ông Chơn Quang thì cũng là việc thường tình thế-gian, không ngại lắm, vì ai gieo nhân nào thì người ấy nhận quả nấy. Ðằng này, Ông CQ đem cái vọng tâm, chỗ suy nghĩ phàm tình lệch lạc của mình mà đánh giá lời Phật, lời Tổ, và hòng uốn nắn cả một hệ thống Giáo-lý (Thuyết Bát-nhã) của Phật nên chúng tôi không thể không có tiếng nói đính chính, kẻo vì có người không biết nghe theo Ông mà vô tình phạm phải tội hủy báng Phật, làm bại hoại giáo pháp của Như-lai, đắc tội với chư Tổ, cũng như chính họ bị dẫn dắt vào tà kiến, đọa lạc.
Thưa Ông Chơn-Quang. Ông chớ nên cho rằng câu "tâm ta vốn sẵn thanh tịnh, vốn sẵn bất sanh bất diệt" và những câu tương tự chỉ là lời của Lục-Tổ Huệ-Năng hay của các Thiền-sư, hoặc thậm chí của Sơ-Tổ Trung-hoa Bồ-đề Ðạt-ma nói ra, để rồi cố ý vin vào cái lý lẽ tự bịa đặt cách sai lầm đó mà bác bỏ cả một hệ thống giáo-lý Ðại-thừa giải thoát do chính đức Phật thuyết. Theo chúng tôi, những điều Ông nói ở trên nếu không bộc lộ sự yếu kém của Ông trong việc học hỏi và thật hành giáo pháp của Như-lai, thì cũng nói lên chủ tâm chống Phật huỷ pháp của Ông. Chúng tôi nói lên điều này mà không sợ bị lầm, vì sự việc tự nó đã thể hiện quá rõ ràng, không thể chối cãi, được lồng trong tất cả những bài thuyết giảng ma mị của Ông. Câu nói trên của Ông tự nó biểu lộä, hoặc là Ông học hỏi và thật hành Phật pháp chưa thấu đáo, học không đến nơi đến chốn, mù mờ về giáo nghĩa Ðại thừa của Phật, hoặc là Ông có học qua, Ông có biết qua, nhưng vì ma tâm tàn độc thôi thúc mà Ông cố tình thuyết ma pháp để củng cố ma đạo, đi ngược lại, nếu không muốn nói là cố tình hủy phạm Tổ, Phật trong ý đồ muốn bẻ gãy cả một hệ thống giáo lý của Thế-tôn.
Thưa Ông Chơn-Quang! Câu nói đó (tâm ta vốn sẵn thanh tịnh) và nhiều câu tương tự cùng một ý nghĩa như trên, được chính Thế-tôn tuyên thuyết trong hầu hết các bộ kinh Ðại-thừa Phương đẳng, chứ không phải chỉ có những người đời sau như Lục-Tổ Huệ-Năng hay các Thiền-sư nói ra thôi đâu. Tự tánh Thanh tịnh, không sanh không diệt của chúng sanh cũng là Phật tánh, của ba đời mười phương chư Phật cũng chỉ một nó, không hai không khác. Thế nên Phật mới xác quyết "Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành", cũng là y cứ vào một nghĩa này.
Phật đã từng dạy các Bồ tát và đệ tử của Ngài:
"Nầy Phổ-Hiền ! Tất cả chúng sanh và mọi loài huyễn hoá đều sanh trong "Như-lai Viên-Giác Diệu tâm", như hoa đóm khởi sanh trong hư không. Dù hoa đóm có sanh, có diệt nhưng hư không vẫn tự nhiên như nhiên. Nghĩa là các huyễn (huyễn pháp, huyễn tướng) tùy sanh, tuỳ diệt mà Như-lai Viên-Giác Diệu tâm thì như như bất động.
(Ðại Phương Quảng Viên-Giác Tu-đa-la Liễu nghĩa kinh , Chương 2, phẩm Phổ-Hiền).
Nghĩa là sao? Nghĩa là thật tướng chúng sanh đều huyễn hoá, còn thật tánh chúng thì đều thành tựu như hư vô (nói hư vô nhưng mà diệu hữu, xin chớ chấp chữ nghĩa mà trách người viết), như hư vô tự sẵn là vậy, chẳng thể nói có cũng chẳng thể bảo rằng không, chẳng thêm cũng chẳng bớt, chẳng sanh cũng chẳng mất, chẳng sáng cũng chẳng tối …tịch mà chiếu, lặng lẽ sáng trong, tuyệt vô đối đãi.
Phật cũng dạy thêm để làm sáng nghĩa này : "Nầy Phổ Nhãn! Tánh thanh tịnh của Như-lai Viên-Giác Diệu tâm hiện ở thân tâm mỗi chúng sinh, tuỳ chủng loại mà có chỗ tương ứng".
(Cũng trong Ðại Phương Quảng Viên-Giác Kinh Chương 3 – Phẩm Phổ-Nhãn).
Chỉ một nghĩa nầy cũng đủ nói lên, tất thảy hàm linh chúng sanh ai cũng đều có Phật tánh, mà Phật tánh này tự nó sẵn có, tự sẵn thanh tịnh, vốn không sanh không diệt, không đến không đi, không sạch không nhơ. Chỉ vì mê vọng mà chúng sanh tự rời lìa nó nên không thấy biết mà thôi, chứ khi ngộ ra thì tự một trong nó.
Phật lại cũng dạy: "Nầy Kim-Cang-Tạng ! Ông nên biết : Hư vô không có lúc tạm có, cũng không có lúc tạm không, huống là Như-lai Viên-Giác Diệu tâm lại theo sanh tử hay theo Niết-bàn mà có sanh, có diệt ư ?
Như-lai Viên-Giác Diệu tâm thì như như bất động và bình đẳng, cũng như tánh hư vô , không chung không thỉ, bình đẳng và như như bất động vậy.
(Ðại Phương Quảng Viên-Giác kinh chương 4 – Phẩm Kim-Cang-Tạng).
Câu nói trên của Phật có tính xác quyết, rằng tự tánh của hàm linh chúng sanh thì viên quang thanh tịnh, tự nó đã sẵn luôn như vậy, như như bất động, bình đẳng như hư vô.
Ngược lại, Ông Chơn-Quang thì nói tâm thanh tịnh có từ từ, nghĩa là chỗ tâm thể lần lần cảm giác thấy thanh tịnh mỗi ngày một ít nhờ tu như Ông mới có, chứ không phải tự sẵn có.
Ông như ếch ngồi đáy giếng, coi trời bằng vung, nên nói năng thật là hồ đồ, lầm lạc.
Ông còn phải thật sự tu hành nhiều hơn nữa, còn phải công phu hồi quang phản chiếu tự tâm miên mật hơn nữa để một khi tự khám phá ra được"nhứt điểm linh quang" của chính Ông, thì ngay đó Ông tự có chỗ thấy biết chơn chánh. Một khi Ông đã thấy biết chơn chánh thì tự hiểu rằng, những gì Ông nói, Ông mô tả trước đây, chúng chỉ là do công phu tu tập trong chỗ an định cái tâm lăng xăng, vọng động của mình mỗi ngày một ít để được cái cảm giác an ổn như thế mà thôi. Chỗ này cũng mới chỉ là trạng thái lìa vọng niệm mà an định cái tâm được chút ít . Còn bây giờ, ngay trong hiện tại, đối với chỗ nhận ra tự Phật "vốn sẵn thanh tịnh, vô thỉ vô chung, không sanh không diệt", cũng là ngộ tánh, thì công phu của Ông còn chưa là gì cả, chẳng chút dính dấp tới nó. Tại sao chúng tôi khẳng định như vậy? Bỡi một khi Ông đã nhận ra nó thì chỗ nói nín trong Ông luôn luôn rổng rang tự tại, chứ không phải mở miệng ra là dính mắc trói buộc trong nhơn quả như bây giờ.
Cho nên ở đây, Ông đã đem cái chưa là gì cả, nghĩa là thân tâm còn trói buộc trong nhơn quả, sanh diệt mà đi nói về chỗ viên giác diệu tâm, thanh tịnh giải thoát thì làm sao nói tới, làm sao trúng được.
Phật dạy Kim-Cang-Tạng Bồ-tát: "Nầy Kim-Cang-Tạng! Ví như nấu lọc quặng vàng. Vàng không phải do nấu mà có. Nhưng khi nấu lọc đã thành vàng, vàng không thành quặng trở lại, dù trải bao kiếp số tánh vàng cũng không hư hoại (không vì thời gian, không gian mà có đổi khác) .
Như-lai Viên-giác Diệu tâm cũng vậy, KHÔNG NÊN NÓI RẰNG XƯA KIA KHÔNG SẴN COÙ. (Nghĩa là xưa nay đã tự sẵn có vậy).
Trong Như-lai Viên giác Diệu tâm, không có cái tên Bồ-đề, Niết-bàn, cũng không có việc thành Phật hay không thành Phật, không có luân hồi, hay chẳng luân hồi. Chỉ vì hàng Thinh-văn không thể hiểu, không tự thân chứng, họ chỉ tắt dứt được phần vô minh thô trọng trong thân-khẩu-ý mà hiện ra cảnh giới thanh tịnh gọi là Niết-bàn mà thôi.
(Cũng trong Như-lai Viên Giác Kinh)
Hai ngàn rưởi năm trước Phật đã thuyết như thế, đã dự ngôn như thế.
Còn ngày nay, trong thời mạt pháp, với chỗ giảng thuyết của Ông Chơn-Quang thì sao?
Ông đã cố tâm dùng lời thuyết giảng của ma pháp, tà mị để bác bỏ chơn lý "tự tánh phật vốn sẵn thanh tịnh", là chỗ nói ra hoàn toàn chơn thật của Tổ, Phật .
Như lời Ông Chơn-Quang nói ra ở trên, thật là đại vọng ngữ.
Lại nữa trong bài "nói pháp" này, Ông đang giảng nói về bốn pháp Thiền của phàm-phu (mặc dù chỗ nói ra của Ông không trúng trật, ăn nhập vào đâu cả, vì Ông hoàn toàn không biết chút gì về sự lý, tánh tướng của đối tượng mình đang nói; cũng có nghĩa ngay chính Ông chưa tự thể nhập đồng một trong nó, chưa có chỗ thấy biết chơn thật "chính mình là nó"thì làm sao mà nói nó cho trúng được) , rồi đùng một cái Ông quay sang nói chỗ ngộ tánh của Thiền-tông, cũng là Ðại thừa, Tối thượng thừa Thiền. Tuy nhiên theo chúng tôi, cũng có thể Ông muốn giả ngây giả dại quên kinh, quên điển, quên những lời Phật thuyết (tự tánh Như-lai) để cố tình làm cái việc "đánh lận con đen", lôi Lục-tổ Huệ-Năng và các Thiền-sư cùng pháp trực chỉ của các Ngài ra để bôi bác, rồi vòng vo một cách lệch lạc nhằm đầu độc người nghe, rằng tự tánh chúng sanh không sẵn thanh tịnh mà chỉ thanh tịnh dần dần "mới thanh tịnh đây à". Tới chỗ này, Ông có thừa nhận rằng mình đã thuyết ma pháp, tà kiến để dẫn người vào tà đạo chăng?
Nói đến chỗ "Hốt nhiên nhận ra tâm nầy vốn sẵn thanh tịnh, cũng là tự tánh Như-lai, cũng là bổn lai diện mục, là Phật tánh, là Nhứt điểm linh quang, là Như-lai Tạng, là Bất nhị Pháp môn vv…" thì Phật đã thuyết trong hầu hết các bộ kinh Phương đẳng như Viên-Giác, Kim Cang, Pháp-hoa, Duy-ma cật, …mọi kinh đều có đề cập tới, rằng Phật tánh chỉ một, nhưng tên gọi có khác nhau đối với từng bộ kinh mà Phật thuyết cho từng căn cơ, đối tượng.
Lại nữa, dù xuất gia hay tại gia, có lẽ không một Phật tử nào là không thuộc nằm lòng "Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật đa tâm kinh" là những lời Phật ngợi khen, tán thán Bồ-tát Quán-Âm, cũng là Ðại-thừa trực chỉ, rằng không một chúng sanh nào không có tự tánh Phật, cũng có nghĩa là tâm này vốn sẵn viên quang, thanh tịnh, không sạch, không nhơ, không sanh, không diệt…như của Thế-tôn, của Bồ-tát cùng ba đời muời phương chư Phật cũng một nó, không khác .
Không một Phật tử nào là không biết Thế-tôn đã từng dạy như thế, vì đó là chơn lý bất biến, chỉ trừ Ông chơn-Quang là không biết, không chịu tin nhận. Ông còn bịa ra rằng chỉ có Huệ-Năng Lục-tổ và các Thiền-sư nêu ra cái "lý thuyết" này, và rằng "đó là sự hiểu lầm". Với Ông thì "chỉ mới thanh tịnh đây à". Thật là nói chuyện hoang đường, không sao có thể tưởng tượng nổi.
Theo chúng tôi, Ông Chơn-Quang cho rằng câu nói "Tâm ta vốn sẵn thanh tịnh" và những câu tương tự chỉ là lời của Lục-Tổ Huệ-Năng và các Thiền-sư sau này nói ra mà thôi, và rằng các Ngài đã hiểu lầm (đây chỉ là lối hiểu lầm- lời Ông CQ) thì trong cách nói đó được hiểu, nếu không là một lầm lạc nghiêm trọng trong cuộc đời tu hành của Ông CQ., thì rõ ràng là một lời phỉ báng Phật cùng giáo pháp của Ngài là điều không thể chối cãi. Nói như Ông, tức có nghĩa là Ông đã phủ nhận, bài xích cả một hệ thống giáo lý của chính đức Phật đã phát minh và thuyết giảng ròng rã trên hai mươi năm; vì Phật thì nói tự tánh bổn lai thanh tịnh, còn Ông thì nói không phải thế, "chỉ mới thanh tịnh đây à". Thật là tà thuyết, đại ngôn vọng ngữ.
Ông đã quá ư mê muội, lầm lạc và không còn biết tội báng Phật, hủy pháp là gì nữa.
Ông còn nói một cách hoang đường, tà thuyết : "Là vì cái người mà rơi vào trạng thái đó đó, là cái người đời trước họ đã đạt cái định rồi, rồi khi sinh lại kiếp này họ mất. Cái người này đó, hồi kiếp trước họ được cái định rồi, họ được cái định rồi, cái sinh qua kiếp này, cái bị quên đi một thời gian, quên đi mười mấy năm, hai mươi năm, ba mươi năm, rồi cái khi họ tu, cái họ đạt được rất nhanh, thì họ bị cái cảm giác là "À, Cái này mình có cái định này lâu rồi, cái thanh tịnh này lâu rồi". Thì nếu mà họ có đạo nhãn riêng đó thì họ sẽ thấy rằng "À, Tại vì kiếp trước mình được cái định này, bây giờ trở lại nên mình bị cái cảm giác đó. Nhưng mà không, họ, vì họ chưa thấy được điều đó, họ bị cái cảm giác là "Tâm này thanh tịnh lâu rồi", họ đưa ra cái lý thuyết mới, lý thuyết là mỗi con người đều có sẵn một cái tâm thanh tịnh từ xưa, bây giớ chỉ tu để tìm lại". Nên chúng ta gặp cái cảm, cái lý luận đó rất nhiều trong Thiền tông Trung hoa, ngay cả Ngài Huệ-Năng cũng lý luận như vậy. Rất nhiều Thiền sư đều lý luận như vậy".
Nghe qua đoạn thuyết giảng ma mị, hoang đường của Ông Chơn-Quang, thân tâm tôi hoàn toàn bị rúng động .
Lời của Phật thuyết hai ngàn rưởi năm trước mà như nói cho việc ngày nay, chính xác từng chút một:
"Này Kim-Cang tạng! Có niệm tư duy là do cái tâm hữu vi vọng khởi. Chỗ khởi này chỉ là bóng dáng lục trần chứ chẳng phải là chơn tâm. Nó huyễn giả như hoa đóm trong không. Thế nên, đem cái tâm tư duy mà nhận xét, suy lường cảnh giới Viên-giác Như-lai, có khác nào lấy lửa đom đóm mà mong đốt núi Tu-di, đều là chuyện hoang đường.
Ðem cái tâm luân-hồi , dùng cái thấy biết luân hồi mà mong thâm nhập biển đại tịch diệt Viên-giác Như-lai , cũng là chuyện hoang đường, không sao có kết quả thật được.
Những gì Ông Chơn-Quang lâu nay "thuyết giảng" đều là chuyện hoang đường, ma pháp, không ngoài mục đích bôi nhọ, hòng tiêu hủy giáo pháp của Như-lai, đồng thời dẫn dắt chúng sanh vào con đường tà kiến, yêu mị .
Ông còn nói : "Nếu mà họ có đạo nhãn riêng đó thì họ sẽ thấy rằng: "À, tại vì kiếp trước mình được cái định này, nên bây giờ trở lại nên mình bị cái cảm giác đó".".
Cái "hiện thực tuyệt đối" trước mắt mà Ông còn chưa tự thấy biết cách chơn thật, rõ ràng nghĩa là còn chưa tự nhận ra chính ai đang hiện hữu trong giòng sống này, huống là nói chuyện các kiếp số của quá khứ. Thật là hoang đường, tà thuyết.
Theo cách nói của Ông Chơn-Quang ở trên thì chỉ Ông ta mới có "đạo nhãn", mới có thể ra vào, đến đi trong cái thế giới vô hình, ma quái mà Ông ta cho là tốt đẹp, và dẫn người cùng theo vào. Thế nên Ông mới bác bỏ chơn lý mà Thế-tôn đã từng dạy (Phật chúng sanh tánh thường rỗng lặng) và nói ngược lại lời Phật, rằng tâm này không sẵn thanh tịnh từ lâu mà chỉ thanh tịnh từ từ, "chỉ mới thanh tịnh đây à". Ðây là luận điệu tà kiến, có chủ tâm chống Phật, hủy pháp của ma vương trong thời mạt pháp, đúng như lời huyền ký của Thế-tôn hai ngàn rưởi năm trước vậy.
Phật gia Cư-sĩ
Chơn-Chánh
Chướng Ma Ðời Mạt Pháp • Bài 8
Chướng Ma Ðời Mạt Pháp • Bài 7
Chướng Ma Ðời Mạt Pháp • Bài 6
Chướng Ma Ðời Mạt Pháp • Bài 5
Chướng Ma Ðời Mạt Pháp – Bài 3
Chướng Ma Ðời Mạt Pháp – Bài 2
Chướng Ma Ðời Mạt Pháp – Bài 1
Nghe phần âm thanh
Trang Mục Lục - Trích đoạn những bài giảng của "Sư" Chơn Quang
Trang Quan Ðiểm
Trang chính