bai-3.jpg - 26.0 K

Vài nhận xét về những bài "giảng pháp"
Của Sư Chơn-Quang.

BÀI III

MA PHÁP VÀ CẢNH GIỚI VÔ HÌNH.

Thưa Ông Chơn-Quang.

Cái thế-giới vô hình mà Ông đã"khám phá" và "thuyết giảng" cho các cô nghe ở đây thì nhiều lắm. Chúng tôi có cảm giác như Ông đang kể chuyện liêu-trai vào lúc giữa khuya trong một nghĩa địa âm u hoang vắng, với những hồn ma không siêu thoát, lung linh vất vưởng trong cảnh giới huyễn hoặc của Ông; câu chuyện cũng có đầy đủ tình-tiết ái, ố, ai, lạc, khủng, cụ để nhằm hù dọa người yếu bóng viá mà lại thích tò mò, nhưng tôi không thể nào trích nêu ra cho hết được. Trong bài viết này, tôi chỉ muốn lược dẫn một câu "thuyết" ngắn có đề cập tới cái "Thế-giới vô hình tốt đẹp" của Ông, đồng thời tìm hiểu xem nó là cái gì, nguyên nhân từ đâu dựng lập ra cái "Thế-giới vô hình" đó , và nó sẽ dẫn Ông và những người nghe theo Ông đi tới đâu?

1). Ông thuyết : ". . .Cái mới mà Thầy học được lúc Thầy ở trong cái thế-giới vô hình, mà chính ở trong cái thế giới vô hình Thầy đã hiểu được nhiều điều và Thầy mang cái tâm nguyện đó trở lại để đem những điều hiểu biết đến cho mọi người, nên trong cái thế giới đó có nhiều điều và chân lý sáng tỏ hơn là cái thế giới của cõi người mình……".

Thưa Ông Chơn-Quang! Với những lời ma mị, rằng Ông đã khám phá và học hỏi được từ cái "thế-giới vô hình" trong những kiếp trước và kiếp này, đồng thời "mang cái tâm-nguyện đó trở lại để đem những điều hiểu biết đến cho mọi người vv…", thật ra chẳng có gì mới mẻ. Những tướng trạng mà chính Ông đang tự thể hiện trong cái thế-giới ma quái hư vọng đó, cũng như đã mô tả ra đó, không phải Ông bịa chuyện, mà là sự thật. Một sự thật đau lòng và làm giật mình tất cả những Phật-tử chơn chánh khi thấy biết những gì Ông làm, đều không ra ngoài một trong những hiện tượng của Ngũ-ấm Ma phát sanh trong chính Ông. Và một điều còn tai hại hơn, đau đớn hơn nữa là Ông lại đem nó ra thuyết-giảng để lôi kéo, dẫn dắt người khác đi vào tà kiến, cùng Ông đoạ lạc vào ma-đạo, ác nghiệp.

Những huyễn cảnh mà Ông thấy biết và cho là tốt đẹp trong cái "thế-giới vô hình" đó, đều chỉ là các pháp tướng hư ảo do vọng thức khởi tưởng mà tự có sanh diệt, biến hiện, nghĩa là do thức-ý mê lầm đen tối trong Ông khởi vọng-chấp mà có chỗ hiện tướng, nên chính ngay nó tự có đến đi, mất còn, hoàn toàn trói buộc trong nhơn quả sanh diệt, chứ chẳng có chút gì là chơn thật cả.

Căn nguyên cốt lõi của những hiện tượng này là do lực tu của Ông còn non kém, nhưng tâm ý lại nôn nóng tham lam, muốn mau thành Phật, thành Tổ; thêm vào đó thân tâm mê lầm điên-đảo, tham dục móng khởi trong chỗ mưu cầu danh lợi thế-gian nên Ngũ-ấm ma có điều kiện thuận lợi phát sanh trong Ông. Cái thế giới vô hình được dựng lập trong Ông, chính tữ những nguyên nhân vừa kể chứ không là gì khác.

2). Thưa Ông Chơn-Quang! Từ lâu xa, hơn hai ngàn rưởi năm trước, đức Phật đã lo sợ cho hàng đệ tử của Ngài và chúng sanh vào đời mạt pháp, vì không biết, vì vọng chấp mê lầm mà chạy theo các Ngũ ấm Ma (khi tu Chỉ, Quán mà tâm không chơn chánh, còn có chỗ động niệm, nhất là tà niệm), ắc phải rơi vào Tà-kiến, đọa lạc vĩnh kỳ vào ác nghiệp của ma đạo, nên Thế-tôn đã kêu ngài A-Nan và đại chúng lại mà tha thiết răn dạy :

"Các Ông là hàng Duyên-giác, Thanh-văn hữu học, ngày nay đã hồi tâm hướng về Vô-thượng Diệu giác, Ðại Bồ-đề, và Như-lai cũng đã chỉ dạy những pháp tu chơn chánh cho các Ông rồi. Nhưng các Ông còn chưa biết những ma-sự tinh-vi, nhỏ nhiệm có thể xảy ra trong lúc tu Chỉ và Quán. Nếu các Ông không thể nhận ra ma cảnh khi nó xuất hiện, ấy là do việc tâm ý của các Ông trong lúc tu chưa thanh tịnh, không khế hợp với pháp chơn thật của Như-lai, nên bị dính mắc vào Tà-kiến. Hoặc là bị ma Ngũ-ấm của chính các Ông, hoặc bị Thiên ma, hoặc mắc quỷ thần, lỵ mỵ mà trong tâm không tự rõ, nên mới nhận giặc làm con. Hoặc có khi được một chút đã cho là đủ, như Vô-Văn Tỳ-kheo, mới đắc Ðệ Tứ-Thiền liền nói là đã chứng Thánh-quả. Ðến chừng hết phước báo chư Thiên, suy tướng hiện ra, liền phỉ báng : - "đã chứng Thánh quả A-la-hán còn phải chịu sanh tử". Ngay đó Ông ta liền rơi vào địa ngục A-tỳ.

… Các Ông nên biết, mười hai loài chúng sanh trong thế giới hữu lậu, đều có bản tâm vốn sẵn sáng suốt nhiệm mầu, là tâm thể giác ngộ trọn vẹn, cùng tâm-thể mười phương chư Phật không hai, không khác. Do vọng tưởng, các Ông mê lầm chân lý, "Si và Aùi" phát sinh, gây ra mê lầm cùng khắp, nên có hư không. Cái mê biến hoá không dừng nghỉ, nên có các cõi nước thế giới sanh ra. Do đó, các cõi nước nhiều như số vi trần trong mười phương đều được dựng lập nên từ chỗ vọng tưởng mê muội này.

Nên biết hư không sanh trong tâm các Ông, giống như chút mây điểm trên vùng trời, huống nữa là các cõi nước thế giới ở trong hư không đó, nó thật nhỏ nhoi là dường nào.

Nếu một người trong các Ông phát minh chân-lý và liền quay về bổn tánh (sáng trong vắng lặng vốn tự sẵn có) thì mười phương hư không này đều tiêu mất. Thế thì làm sao các cõi nước thế giới kia không bị hủy mất, khôn g bị tiêu diệt được?

Các Ông tu Thiền, vào chánh-định, tâm thông suốt hợp với tâm của chư Bồ-tát và các vị vô lậu Ðại A-la-hán mười phương, thật sự vắng lặng. Tất cả ma vương cùng các loài quỉ thần, trời người phàm phu đều thấy cung điện của mình vô cớ bị tiêu hủy. Ðất đai rung động, các loài thủy lục bay nhảy thảy đều lo sợ. Hàng phàm phu mê muội thì chẳng biết những biến động này, còn những loài kia thì được năm món thần thông, (trừ lậu tận thông) đang luyến tiếc cảnh trần lao, làm sao chúng có thể để cho Ông phá hoại chỗ ở của chúng được. Cho nên, trong khi Ông tu pháp Tam-muội, chúng đều muốn đến quấy phá Ông.

Song các loài ma kia, tuy có oai lực lớn và giận dữ nhưng bọn chúng đang ở trong trần lao, còn các Ông thì ở trong Diệu-giác, cũng như gió thổi ánh sáng, như dao chém nước, bọn chúng chẳng ảnh hưởng gì đến các Ông. Các Ông ví như nước sôi, trong khi Ma vương ví như tảng băng, gần nóng băng tan. Chúng tuy có dựa vào ma lực, nhưng cũng chỉ làm khách (bên ngoài) mà thôi.

Chúng ma chỉ có thể quấy phá là do chính người chủ của Ngũ-ấm trong tâm các Ông, nếu chủ nhân này mê lầm thì khách mới được dịp quấy phá.

Trong khi Thiền định, sáng suốt không mê lầm, thì chúng ma kia không làm gì được các Ông. Khi Ngũ-ấm tiêu trừ, Các Ông thể nhập vào bản tánh sáng suốt. Trong khi bọn tà ma kia là kẻ tối tăm. Sáng phá được tối, nên bọn chúng sẽ bị tiêu hủy khi đến gần các Ông. Ðã thế thì làm sao chúng có thể đến gần các Ông để quấy phá Thiền-định.

Nếu không tỏ ngộ, ắc bị Ngũ-ấm ma làm cho mê lầm, thì chính Ông là A-Nan, lại phải làm con của Ma và thành người Ma". (Nguyên do khởi ra các ma sự - Kinh Thủ Lăng-Nghiêm - Quyển 9)

Hoặc đề cập trực tiếp tới các ma pháp của Tưởng ấm, Thế tôn chỉ rõ :

"A-Nan nên biết, trong thời mạt pháp mười thứ ma ấy, hoặc xuất-gia tu tập theo giáo pháp của Như-lai, hoặc chúng gá vào thân người hoặc tự biến thành nhiều dạng khác nhau. Chúng đều tự xưng là đã thành bậc Chánh biến tri. Chúng ngợi khen dâm dục, hủy phạm luật nghi của Phật. Thầy trò ma truyền dạy nhau về dâm dục. Tinh thần tà vạy như thế làm mê hoặc tâm ý người tu hành, trải qua ít nhất là chín đời, nhiều thì cả trăm thế hệ, khiến kẻ chơn tu rơi vào quyến thuộc của ma. Sau khi chấm dứt mạng sống, ắc phải đọa làm dân của ma, tự đánh mất Chánh biến-tri, và không thoát khỏi địa ngục Vô-gián vậy.

A-Nan ! Ông nay nên chưa vội Niết-bàn, mặc dù Ông đã đạt quả vị Vô-học. Hãy lưu giữ lời nguyện đi vào cõi đời mạt pháp kia, phát tâm đại từ-bi cứu độ các chúng sanh có lòng tin chơn chánh, khiến cho họ không dính mắc vào tà ma, giúp họ có được chánh tri kiến.

Nay Như-lai giúp Ông thoát khỏi sanh tử; chỉ có cách là tôn trọng, thật hành chơn chánh lời Phật dạy, đó mới được gọi là báo ơn Phật.

. . . Vào thời mạt pháp, sau khi Như-lai nhập Niết-bàn, các Ông cần phải đem lời dạy của Như-lai ra chỉ bày cho chúng sanh, khiến cho họ được tỏ ngộ ý chỉ này. Ðừng để cho các ấm ma, thiên-ma có cơ hội quấy phá . Nên giữ gìn, che chở cho chúng sanh được thành đạo Vô thượng".

(Nguyên do khởi ra các ma sự - Kinh Thủ Lăng-Nghiêm Quyển 9).

(Ðộc giả có thể tham khảo thêm : Kinh Thủ Lăng-Nghiêm quyển 9, 10 phần Phân biệt các Aám ma – Tâm Minh dịch-giảng).

Sở dĩ chúng tôi nêu lên lời của Thế-tôn cảnh-giác Tôn-giả A-Nan và đại chúng đối với hơn năm mươi loài Ngũ-ấm ma và Thiên-ma quấy phá người tu Thiền trong đời mạt pháp, không ngoài mục đích cảnh tỉnh những người đang tin nghe theo ông Chơn-Quang hãy đắn đo suy nghĩ cho kỹ, rằng mình đang thật sự nghe theo đệ tử chơn chánh, đáng tôn trọng của Phật thuyết pháp Phật hay là đang bị chúng ma thuyết ma-pháp, hòng dẫn dắt chúng sanh vào ma đạo, để mỗi người biết dừng đúng lúc, quay đầu kịp thời, khỏi phải đời đời làm con dân của ma vương.

Ngay trong thời Phật còn tại thế, ma vương còn mạo giả làm Phật được thay, huống là thời mạt pháp, là thời kỳ cực thịnh của ma vương như lời huyền ký của đức Phật. Chỉ có sự sai khác ở đây là chúng ma nói lời Phật nhưng lại làm việc ma, nghĩa là nói và làm là hai chứ chẳng phải một. Mà người tu Phật muốn cứu cánh giải thoát thì phải như pháp hành trì thì mới kết quả viên mãn.

Nếu mỗi người ai cũng đều tỏ ngộ thâm sâu ý chỉ của Phật và y như pháp mà thật hành , thân tâm thanh tịnh khế hợp với chánh đạo như lời Phật dạy, thì ngay đó Thiên ma và các Aám ma của tự tâm tức khắc biến mất. Bằng ngược lại, khi tu Chỉ, Quán mà thân tâm không chơn chánh thanh tịnh, si ái tham dục khởi tưởng, các ấm ma lập tức phát sanh thì không sao tránh khỏi "nhận giặc làm con", hành giả tự thấy thân thiết với ma, cùng ma chung lối đi về như người một nhà, vì lũ ma kia cũng có đầy đủ thần thông, tinh ma, quỉ quyệt, lại ưa đánh lừa người để làm lợi cho thế giới của chúng.

Thưa Ông Chơn-Quang ! Những người tu Phật trong chúng ta ai cũng đều tin nhận Ðạo Phật là Ðạo Giải thoát. Nhưng thế nào là Giải thoát? - Lìa tất cả trói buộc tức là Giải-thoát vậy.

Giải thoát lại có hai phần : Sự Giải thoát và Lý Giải thoát.

a.      Sự Giải thoát tức giải thoát những khổ đau về phần thân tướng, như lìa xa ác đạo, không còn phải bị tội tù, đói rét, khổ sở… vv…

b.     Lý Giải thoát tức Giải thoát phiền não, nghĩa là lòng khổ vui, phải trái, hơn thua, mừng giận, thương ghét vv…của tâm phân biệt trong khái niệm nhị nguyên đều lìa hết.

Trong Lý Giải thoát lại có hai đường : Tâm Giải thoát và Trí-huệ Giải thoát.

* - Tâm Giải thoát là tâm tự rời lìa ba độc Tham, Sân, Si và các bất thiện pháp, cũng có nghĩa là tự thể hiện vô ngã, lìa tứ tướng và tự trong đây tu tất cả các thiện pháp (không một pháp lành nào mà không làm, không một pháp ác nào mà làm), để cứu cánh giải thoát.

* - Trí-huệ Giải thoát là tự dung thông, không bị chướng ngại trong Tánh Tướng của bất cứ một pháp nào, cũng có nghĩa là tự quán chiếu thấy rõ thân tâm cùng tất thảy các pháp tướng đều Không, tự thể sáng trong, vắng lặng .

Một người tu Phật chơn chánh là thân tâm phải tự "hành-trì như pháp" y theo đúng những gì Phật dạy, để đích cuối cùng là lìa nhơn quả tử sanh.

Ðường hướng tu học để thông lý đạt sự trong pháp giải thoát của Như-lai, dù tu pháp môn nào cũng đều không ra ngoài chỗ biết và làm hợp nhất này. Nay mỗi người trong chúng ta cứ nhìn kỹ vào Ông Chơn-Quang,và thử hỏi Ông ta có đi đúng hướng cùng thật hành một cách chơn chánh những gì Phật dạy chưa? Ðã "tri-hành hợp nhất" chưa?

Xin trả lời thay Ông : Công phu tu học của Ông thể hiện qua những bài giảng thuyết còn vô vàn chướng ngại, trói buộc trong tướng chấp và ma pháp, không có chút gì khế hợp với lý thanh-tịnh giải thoát của Như-lai cả. Những bài sau chúng tôi sẽ đi sâu vào các chi tiết này.

3). Thưa Ông Chơn-Quang. Từ xưa tới nay, thiện nam, tín nữ, xuất gia cũng như tại gia được Phật và chư vị Tổ-sư truyền thừa nối tiếp dạy dỗ theo Chánh pháp, không ngoài mục đích, để trước hết là biết đi trên con đường chơn chánh của đạo pháp, sáng suốt nhận chân các bất thiện pháp cũng như ma pháp để tự đọan lìa ác đạo, tà kiến sau đó thì lần lần thành-tựu công-đức trí-huệ, giải thoát tử sanh phiền não, cứu cánh thanh tịnh Niết-bàn. Thế mà Ông, trong cương vị một Thích-tử xuất-gia, đang mặc áo Phật, ăn cơm Phật, thọ-lãnh sự cúng dường của đàn-na tín thí, lại mê lầm đi rao giảng ma pháp để dẫn dắt người vào ma đạo mà chính mình không tự biết, thì thật là hết chỗ nói.

Chỉ một đoạn trích dẫn ngắn những gì Ông đã thuyết về cái thế giới vô hình nào đó, cho thấy Ông đã hoàn toàn đi ra ngoài giáo pháp nếu không muốn nói là đi ngược lại Chánh-pháp giải thoát của Như-lai, tự thể hiện trói buộc trọn đủ với mọi pháp tướng sanh diệt; Ông đang có chỗ trụ, cái cảnh giới vô hình, ma quái, hư vọng mà ông tự hào cho là cái thế-giới tốt đẹp của Ông đóù, chính là chỗ trụ của thân tâm Ông ngày nay và mai sau, nếu không biết tỉnh thức ngay từ bây giờ.

Trong đây Ông có nói, "Bát-nhã là rất hay", nên tùy thuận nhơn duyên, tôi xin dẫn Kim-cang kinh, là những lời vàng ngọc của Thế-tôn, thể hiện tinh túy của Tuệ Bát-nhã cũng là Trí-huệ Phật, có công năng phá chấp triệt để, hàng phục ma-tâm đệ nhứt, mà những ai cố chấp hoặc bị chúng ma dẫn dắt, ngay đây nhờ ánh sáng này rọi soi mà tự bừng tỏ hay có cơ hốt tỉnh, quay đầu về nẻo chánh.

Trong Kim-cang kinh, Phật chỉ cho chúng sanh cách tự đoạn lìa phiền não cùng giải thoát tất cả các trói buộc của khái niệm sanh diệt ngay trong chỗ hoàn toàn không nên trụ tướng:

"Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thinh, hương, vị xúc, pháp, sanh tâm; ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm .

Chẳng nên trụ chấp vào tướng của sắc mà sanh tâm, chẳng nên trụ chấp vào tướng của thinh, hương, vị, xúc và tất cả các thế-pháp sanh diệt mà sanh tâm; nên không chỗ trụ mà sanh tâm này".

Chỗ thường trụ của Như-lai thì không chỗ đến đi (Vô sở tùng lai diệc vô sở khứ, cố danh Như-lai – không từ đâu đến, cũng chẳng đi về đâu, nên gọi là Như-lai) nên Ngài đã ân-cần chỉ cho chúng sanh tự vượt lìa chỗ "có chỗ trụ" của tất cả các pháp tướng để được tự do, tự tại : trụ nơi không có chỗ trụ.

Vì cớ sao ? "Nhược tâm hữu trụ tức vi phi trụ - Bằng tâm có chỗ trụ tức chẳng phải trụ vậy).

Còn Ông Chơn-Quang thì sao? Ông đang thuyết giảng pháp trói buộc, chấp tướng, có chỗ trụ của đầy đủ tất cả các pháp tướng sanh diệt, huyễn hoá, hoàn toàn đi ngược lại chánh pháp giải-thoát của Như-lai, dẫn dắt các cô đi theo ma đạo và trụ vào cái "thế-giới vô hình hư vọng của Ngũ-ấm ma" trong Ông.

Thưa Ông Chơn-Quang! Thế nào là thế giới vô hình? Ðó là thế giới của tướng sanh diệt, huyễn hoá, hư vọng hay là cảnh giới thanh-tịnh giải thoát của Như-lai? Nếu Ông tưởng đó là cảnh giới giải thoát của Phật nên Ông mới phải bỏ thời gian và công sức để thuyết về thế-giới vô hình đó, thì Ông thật đã quá nhầm lẫn, vì chính chỗ thuyết này hoàn toàn đối nghịch những gì Thế tôn đã dạy, nghĩa là thay vì thuyết pháp giải thoát, Ông lại đi nói pháp ma, pháp trói buộc, hoàn toàn trụ chấp vào các pháp tướng giả dối của ma.

Tự nhận là một đệ tử xuất gia của Phật, đăng đàn thuyết pháp cho nhiều người nghe, mà Ông há không biết rằng Phật đã từng xác quyết: "Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng; nhươc kiến chư tướng phi tướng, tức kiến Như-lai. – Phàm chỗ nào có tướng đều là hư vọng (giả dối, chẳng chơn thật), bằng tỏ thấu các tướng chẳng phải tướng, mới rõ được Như-lai." (Kim-Cang kinh).

Cái thế-giới vô hình mà Ông thuyết đó có ra ngoài cái "Tướng" hư vọng, biến hiện, có chỗ khởi đầu, có hồi chung cuộc chăng? Cái thế-giới đó có hoàn toàn đoạn lìa, vượt thoát khỏi năm uẩn sắc, thọ, tưởng, hành, thức để vĩnh ly sanh diệt chăng?

Chắc chắn là không thể nào ra ngoài chỗ tướng hư vọng này được, vì chính Ông cũng đã tự bộc lộ trong chỗ kết buộc với tướng chấp: "…trong thế giới cõi người mình, nhiều tôn giáo cạnh tranh, tranh giành quyết liệt với nhau, nhưng mà ở trong cái thế giới vô hình thì họ nhìn biết đúng sai hết, họ thấy những điều người ta làm như vậy là sai lầm; vì trong cái cõi đó ( thế giới vô hình) nó có cái tôn ty trật tự và ổn định lắm …"

Thưa Ông Chơn Quang! Cái thế "giới vô hình tốt đẹp" mà Ông thuyết để dẫn dắt người khác cùng vào trụ với Ông trong đó, sao cũng có đầy đủ cả trói buộc không thiếu món nào so với cái cảnh giới Ta-bà trong mắt Ông vậy? Nào là cũng có chỗ thấy biết (cột buộc ngã kiến) phân biệt tướng đúng sai, phải trái, nào là cũng có ban bệ tôn ty thấp cao ràng buộc trong chỗ khái niệm của nhơn quả nhị nguyên , vướng mắc trong sắc tướng.

Ông hoàn toàn trói buộc trong sanh diệt tướng, trong khái niệm nhơn quả nhị nguyên nên Ông còn thấy có chỗ tốt, chỗ xấu, khen chê, phải trái vì Ông chưa vượt thoát khỏi kiến chấp của tự ngã; điều đó chứng tỏ Ông chưa là gì cả trong chỗ tỏ ngộ pháp hành chơn thật của Như-lai, mà người thuyết phải là "bất thủ ư tướng, như như bất động". Vướng mắc của chính Ông chưa tự tháo gỡ xong thế mà Ông dám đăng đàn diễn thuyết pháp giải thoát cho người, thật là hết chỗ nói .

Thế nào là thế-giới vô hình? Ông há không biết rằng : "Như-lai sở thuyết: Tam thiên Ðại thiên Thế-giới tức phi thế-giới, thị danh thế-giới. Hà dĩ cố? Nhược Thế-giới thật hữu giả, tức thị nhất hiệp tướng. Như-lai thuyết nhất hiệp tướng, tức phi nhất hiệp tướng, thị danh nhất hiệp tướng. Tu-bồ-đề ! Nhất hiệp tướng giả, tức thị bất khả thuyết. Ðãn phàm phu chi nhân tham trước kỳ sự".(Kim-Cang Kinh).

"Như-lai nói tam thiên đại thiên thế-giới, nhưng chẳng phải (thật có) thế giới, chỉ tạm gọi (cưỡng danh) là thế giới mà thôi (vì nó là hư vọng, không thật). Bỡi cớ sao ? Bỡi vì nếu thế-giới mà thật có, thì tức là tướng nhất-hợp. Như lai nói tướng nhất-hợp đó, nhưng chẳng phải thật có tướng nhất-hợp, chỉ tạm cưỡng gọi (giả danh) là tướng hợp nhất mà thôi. Này Tu bồ-đề! Tướng nhất-hợp (mà Như-lai đề cập đó, trong chỗ cùng tột) , thì nói không thể tới. Chỉ vì phàm phu hay tham chấp sự tướng mà nói thôi.

Ngay cả tam thiên đại thiên thế-giới Phật cũng phủ nhận, vì không thật hữu; chỉ tạm gọi trong sự giả danh mà thôi. Vì sao ? - Vì rằng nếu thế giới tam thiên đại thiên mà có thật đi nữa, thì nó cũng chỉ là tướng nhất-hợp mà thôi. Thế nào là tướng nhất-hợp? – Ðó là chơn tánh, là thật tánh của tất cả các pháp, tạm gọi "Một", độc hữu diệu mầu, vô đối đãi, nói không thể tới vậy. Sở dĩ Phật nói tam thiên thế giới cũng chỉ vì phàm phu luôn trong chỗ tham chấp sự tướng, nên Ngài tạm mượn từ ngữ giả danh để nói mà thôi, chứ tự nó cũng chẳng thật có, mà trong chỗ chơn thật cũng chẳng có người nói, vì năng sở chỉ một, thì ai nói đây? Thế nên Phật nói "Bất khả thuyết" là vậy.

Xa hơn nữa, ngay cả những mảnh vi trần cũng còn không có huống là thế giới. "Như-lai thuyết vi trần chúng, tức phi vi trần chúng, thị danh vi trần chúng. – Như-lai nói những vi trần đó, nhưng chẳng phải (có thật) vi trần, chỉ tạm cưỡng gọi là vi trần (để phương tiện mà nói pháp nhằm khai ngộ cho phàm phu tham chấp sự tướng mà thôi).

Một hành giả tu Phật tự thâm nhập "đồng một tướng nhất-hợp" cũng có nghĩa là ngộ tánh, là tự tỏ bổn lai diện mục mà miệng mồm trong đây cũng chẳng thể với tới. Ðến chỗ này như người câm chiêm bao chợt tỉnh, như uống nước nóng lạnh tự biết mà thôi, căn thức chẳng thể thâm nhập, nhưng tự nó thì hoàn toàn chơn thật. Nó đó chính là thật tánh của tất cả các pháp.

Thế nên, để nói lên chỗ cao sâu, vi diệu trong việc thuyết ra pháp chơn thật của Như-lai, Thế-tôn đã khẳng định thế nào là người vì người mà nói pháp:

" Vân hà vị nhơn diễn thuyết ? – Bất thủ ư tướng, như như bất động. Hà dĩ cố ?

Nhứt thiết hữu vi pháp
Như mộng huyễn bào ảnh,
Như lộ diệc như điển,
Ưng tác như thị quán.

"Thế nào là người vì người mà diễn thuyết ? – Không chấp tướng, như như chẳng động. Vì sao?

Tất cả pháp hữu vi,
Như chiêm bao, bọt, bóng
Như sương cùng như chớp,
Nên như vậy mà quán.

Một người thấu tỏ thâm sâu pháp giải-thoát của Như-lai, khi giảng pháp cho người thì không chấp tướng, tâm phải như như bất động. Không chấp tướng đã đành rồi, mà còn phải thể hiện được cái tâm "không có chỗ không chấp tướng" ấy nữa mới là toàn vẹn, bỡi còn thấy có tâm không chấp tướng tức là ngay đó đã có chỗ chấp tướng rồi, vì còn có tự ngã trong chỗ thấy biết, chấp chỗ thấy mình không chấp. Hiểu sâu và thật hành được nghĩa này một cách chơn thật, nghĩa là tự thể hiện vô ngã, thì ngay đó tự một trong vô-vi pháp vậy.

Còn Ông Chơn-Quang thì sao ? Hoàn toàn làm ngược lại tất cả những gì Phật thuyết : Chấp tướng và tâm chạy theo vọng động mà dựng lập cảnh giới sanh diệt, "thế giới vô hình" của Ông.

Một người tu Phật chưa sáng bổn tâm, chưa tỏ ngộ tự tánh, chưa nhận ra thế nào là chỗ chơn thật của tự ngã, thế mà Ông dám thuyết nhăn, phun càn, nói bậy, báng Phật, chê Tổ, huỷ pháp, tội lỗi của Ông không biết chất chứa to lớn tới đâu và đến chừng nào mới trả cho xong ba nghiệp này. Ðã thế Ông còn lôi kéo những người không biết, những người nhẹ dạ tin nghe theo Ông vào tà kiến thì tội lỗi ấy còn nặng hơn gấp mấy?

Lại nữa, nếu như Ông đã từng khen "Bát-nhã là rất hay" thì làm sao Ông có thể không biết được rằng, để giải đáp câu thưa thỉnh của Không-Sanh Tu-bồ-đề về việc thiện nam, tín nữ phát tâm cầu đạo Vô thượng Chánh Ðẳng-Giác thì nên trụ như thế nào, nên hàng phục cái tâm ra sao, thì Phật đã chỉ dạy cách rõ ràng rằng : "Sở hữu nhứt thiết chúng sanh chi loại: nhược noãn sanh, nhược thai sanh, nhược thấp sanh, nhược hoá sanh, nhược hữu sắc, nhược vô sắc, nhược hữu tưởng, nhược vô tưởng, nhược phi hữu tưởng phi vô tưởng. . . . ngã giai linh nhập vô dư Niết bàn nhi diệt độ chi. Như thị diệt độ vô lượng vô số vô biên chúng sanh, thật vô chúng sanh đắc diệt độ giã. Hà dĩ cố ? Tu-bồ-đề ! Nhược Bồ tát hữu ngã tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giã tướng tức phi Bồ tát.

"– Bằng có tất thảy các loại chúng sanh: hoặc sanh trứng, hoặc sanh con, hoặc sanh chỗ ẩm ướt, hoặc hoá sanh, hoặc có sắc, hoặc không sắc, hoặc có tưởng, hoặc không tưởng, hoặc chẳng phải có tưởng chẳng phải không tưởng …Ta đều khiến tất cả vào vô dư Niết bàn mà diệt độ. Diệt độ vô lượng vô số vô biên chúng sanh như thế mà thật chẳng có chúng sanh nào được diệt độ cả.

Bỡi cớ sao ? Này tu Bồ-đề ! Nếu Bố tát mà còn có ngã tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng, thì chẳng phải là Bồ-tát".

Qua lời dạy trên của Phật, đối chiếu với cái thế-giới vô hình của Aám-ma dựng lập trong Ông, chắc tự Ông cũng thấy có sự trái nghịch với giáo-pháp của Thế-tôn rồi chứ?

Thưa Ông Chơn-Quang! Trong chí ít là thế-giới sanh diệt của chín loài mà Phật đã nêu ra ở trên, từ sanh trứng, sanh con,…. tới có sắc, không sắc, có tư-tưởng, không tư tưởng, thậm chí cho tới loài chẳng có tưởng cũng chẳng phải chẳng có tưởng, thì cái "thế giới vô hình" của Ông nó trụ vào giai cấp nào trong đây? Bắt buộc nó phải có một chỗ trụ trong đây, không sao tránh khỏi, vì chính Ông đã tự thể hiện trong chỗ có đến đi, ra vào ở đó kia mà! Mà đã có chỗ ra vào, đến đi là còn có chỗ trụ tướng, còn có năng trụ sở trụ, còn đầy đủ tất cả các pháp tướng hư vọng, ảo huyễn trong chỗ sanh diệt dính mắc, trói buộc vậy.

Pháp Ông thuyết để dẫn dắt chúng sanh vào cái thế giới còn có tướng sanh diệt, trói buộc như thế thì làm sao có thể nói là "giảng thuyết pháp giải thoát của Phật" được?

Trong Kinh Kim-cang, Phật xác-định: "Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thinh cầu Ngã, thị nhơn hành tà đạo, bất năng kiến Như-lai. – Bằng lấy sắc thấy ta, lấy âm thinh cầu ta, kẻ ấy hành đạo tà, chẳng rõ được Như lai.".

Ngài Huệ-mạng Tu-bồ-đề vì thấu tỏ sâu xa pháp hành của Như lai, nên đã được Phật ngợi khen khi Ông kết-luận câu trả lời Phật : "Ly nhứt thiết tướng, tức danh chư Phật – Lìa cả thảy tướng, tức là chư Phật".

Còn bản thân Ông Chơn-Quang thì sao ? - Ở đây Ông tự hào khoe với các cô về chỗ "được" trong việc tu hành của Ông trong nhiều đời, tức cái thế-giới vô hình ma mị được dựng lập trong Ông mà Ông cho là tốt đẹp đó. Nhưng thật ra nó là cái gì đối trong chỗ giải thoát tử sanh, giải thoát phiền não, trói buộc của Như-lai mà mọi người trong chúng ta đang trên đường tu học.

Ông đâu biết rằng, chỉ một niệm móng khởi thì ngã tướng liền sanh, mà ngã tướng sanh thì ngay đó mọi trói buộc vướng mắc đã trọn đủ, nhấn chìm hành giả vào chỗ nhơn quả sanh diệt rồi, huống là Ông đang trụ trong các pháp tướng của ma mà lại tự hào về nó.

Xuyên qua những lời dạy chơn thật từ chính Thế tôn trong phần mở đầu của Kinh Kim-cang vừa nêu, cũng như đối chiếu với đoạn "thuyết giảng" về cái "thế-giới vô hình" của Ông, chúng tôi có mấy nhận xét về Ông và các bài giảng mà Ông tự cho là thuyết giảng "Phật pháp".

a). Pháp Ông thuyết hoàn toàn vướng mắc trong chỗ tướng chấp, còn có chỗ đi về, tốt xấu, dở hay, cao thấp . . .nghĩa là còn đầy đủ tất cả các pháp tướng kết buộc trong nhơn quả nhị nguyên, hoàn toàn ngược lại những gì Phật thuyết (ly tướng triệt để: - bằng nếu còn bốn tướng "ngã, nhơn, chúng sanh, thọ mạng" thì chẳng phải là Bồ tát, tức là bậc đã giác ngộ chân lý giải thoát và thật hành hạnh nguyện độ người giải thoát, cũng là những người đang hành Bồ-tát đạo cách rốt ráo).

b). Tự chính Ông, trong chỗ nói và làm hoàn toàn bị kết-buộc, dính mắc trong sắc tướng sanh diệt, trong chỗ nhơn quả hai bên (cái mới mà Thầy học được lúc Thầy ở trong cái thế-giới vô hình … nên trong cái thế giới đó có nhiều điều và chân lý sáng tỏ hơn là cái thế giới của cõi người mình…), chưa tự thoát ra khỏi nó, thì làm sao Ông có thể mở trói cho người mà dám đăng đàn nói pháp giải thoát của Phật. Pháp Ông thuyết hoàn toàn trói buộc trong ma pháp.

c). Trong cách nói của Ông, phảng phất có hình ảnh Ông như một vị Thánh sống đã từng và đang ra vào, đến đi trong cái cõi vô hình nào đó mà Ông tự cho là chỗ trụ lý tưởng, tốt đẹp của Ông và lôi kéo người khác cùng vào cảnh giới ma quái đó. Ngay chỗ này Ông đã phạm vào tội vọng ngữ rồi. Thế-tôn đã từng dạy"Nếu nói quá một pháp,

Ðây gọi là vọng ngữ,
Chẳng nhận thấy đời sau,
Không ác nào chẳng tạo".

Ông nghĩ cảnh giới đó là quả vị Thánh mà Ông được chăng ? Ông muốn cho các cô cũng vào cái thế-giới vô hình đó như Ông chăng ? Ông thật là giàu tưởng tượng, và cũng tự mình tách lìa khỏi giòng đạo pháp quá xa.

Thưa Ông . Một đệ tử xuất gia chơn chánh của Phật không nên bao giờ có chỗ tham luyến, dù là tham luyến các quả vị Thánh đi nữa, huống là chẳng phải được như thế. Bỡi Pháp mà chúng ta đang trên đường tu học đây, dù là tu theo Tiểu thừa hay Ðại thừa, thấp cao hay đốn tiệm, hay bất cứ một trong tám vạn pháp môn giải thoát của Phật, muốn cứu cánh đến giải thoát cũng phải tu học theo vô-vi pháp. Mà đã là học pháp vô-vi của Phật thì chỗ "được" ắc cũng là "qủa vô vi" vậy, tức "được ở chỗ chẳng có gì để được", đó chính là chỗ "được" vượt siêu sanh diệt, lìa thoát nhơn quả vậy.

Thậm chí đến pháp Phật cùng quả vị Phật mà Phật cũng còn phủ nhận thay huống là những gì chẳng phải.

"Tu-bồ-đề! Ư ý vân hà ? Như-lai ư Nhiên-Ðăng Phật sở, hữu pháp đắc A-nậu đa la tam-miệu tam bồ-đề phủ ?
" – Phất dã Thế-tôn! Như ngã giải Phật sở thuyết nghĩa, Phật ư Nhiên-Ðăng Phật sở, vô hữu pháp đắc A-nậu đa la tam-miệu tam bồ-đề.
"Phật ngôn : Như thị! Như thị ! Tu-bồ-đề! Thật vô hữu pháp Như lai đắc A-nậu đa la tam miệu tam bồ-đề.
Dĩ thật vô hữu pháp đắc A-nậu đa la tam-miệu tam bồ-đề, thị cố Nhiên-Ðăng Phật dữ ngã thọ-ký, tác thị ngôn : "Nhữ ư lai thế đương đắc tác Phật hiệu Thích-ca Mâu-ni. Hà dĩ cố? -
Như-lai giả, tức chư pháp "NHƯ" nghĩa.
Tu-bồ-đề !Thật vô hữu pháp Phật đắc A-nậu đa la tam-miệu tam bồ-đề.
Tu-bồ-đề ! Như-lai sở đắc A-nậu đa la tam-miệu tam bồ-đề, "ư thị trung vô thật vô hư."
Thị cố, Như-lai thuyết : Nhứt thiết pháp giai thị Phật pháp.
. . . Tu Bồ-đề bạch Phật ngôn : "Thế-tôn ! Phật đắc A-nậu đa la tam-miệu tam bồ-đề, vi vô sở đắc gia ?
Phật ngôn : "Như thị ! Như thị ! Tu-bồ-đề! Ngã ư A-nậu đa la tam-miệu tam bồ-đề nãi chí vô hữu thiểu pháp khả đắc, thị danh A-nậu đa-la tam-miệu tam bồ-đề."
"Tu-bồ-đề ! Ý Ông thế nào ?Khi Như-lai ở chỗ Phật Nhiên-Ðăng, có pháp chi mà được Vô-thượng Bồ-đề chăng?
"- Bạch thế-tôn ! Không ạ. Như con tỏ nghĩa Phật nói, thì thuở Phật ở chỗ Phật Nhiên-Ðăng không có pháp chi đặng đạo Vô-thượng Bồ-đề cả.
"Phật bảo : Ðúng như vậy ! Ðúng như vậy! Này Tu bồ-đề ! Thật không có pháp chi mà Như-lai đặng đạo Vô-thượng Bồ-đề.
Bỡi thật không có pháp chi mà đặng đạo Vô-thượng Bồ-đề, cho nên Phật Nhiên-Ðăng mới thọ ký cho Ta mà nói rằng : Ngươi đến đời sau, sẽ đặng làm Phật hiệu là Thích-ca Mâu-ni. Bỡi cớ sao? Như-lai đó, tức là nghĩa "NHƯ" của các pháp.
Này Tu Bồ-đề ! Thật không có pháp chi Phật đặng đạo Vô-thượng Bồ-đề.
Này Tu-bồ-đề ! Như-lai đặng đạo Vô-thượng Bồ-đề, trong đây không thật không hư (NHƯ).
Cho nên, Như-lai nói cả thảy pháp đều là Phật pháp.
. . . Tu Bồ-đề bạch Phật : "Bạch Thế-tôn! Phật đặng đạo Vô-thượng Bồ-đề, là không có chỗ chi được sao ?
Phật bảo : " Ðúng vậy! Ðúng vậy! Này Tu Bồ-đề ! Ta đối với đạo Vô-thượng Bồ-đề cho đến không có một chút pháp chi mà gọi là được, ấy mới gọi là đặng đạo Vô-thượng Bồ-đề."

Lại nữa, tuy là pháp vô-vi, nhưng vẫn tuỳ chỗ tu hành thâm viễn hay nông cạn mà quả-vị vẫn có thấp cao sai biệt, tự có người nên Thánh, kẻ lại thành Hiền.
Lại nữa, quả vô-vi thì không thể nói, không thể chỉ, tri thức ngôn ngữ chẳng thể với tới. Cho nên, chẳng những các Thánh quả Thất-lai (Tu-đà hoàn), Nhất-lai (Tư đà-hàm), Bất-lai (A-na-hàm), mà thậm chí dù có đắc quả Bất sanh (A-la-hán) đi nữõa mà còn thấy biết có chỗ được (cũng là chỗ trụ) thì ngay đó liền sái.
Cho nên thấy được chỗ này thì tự hiểu, cái "Thế-giới vô hình" mà Ông đang riêng trụ đó, chẳng chút gì dính dấp tới tới hai chữ "Giải thoát" trong giáo lý của Phật cả.
Trong Ðạo-tràng Bát-nhã, Phật đã nương chỗ sáng của Ngài Tu-bồ-đề mà quảng diễn cho đại chúng tự thấu tỏ thế nào là pháp vô vi, thế nào là Thánh quả vô vi của Tiểu-thừa.
Ngài dẫn dắt trong cách hỏi khai mở :

Tu-bồ-đề ! Ư ý vân hà ? Tu-đà-hoàn năng tác thị niệm : Ngã đắc Tu-đà-hoàn quả phủ ?
Tu-bồ-đề ngôn : "Phất dã, Thế-tôn ! Hà dĩ cố ? Tu-đà-hoàn danh vi Nhập-lưu, nhi vô sở nhập. Bất nhập sắc, thinh, hương, vị, xúc pháp, thị danh Tu-đà-hoàn.
Này Tu-bồ-đề ! Ý Ông thế nào ? Tu-đà-hoàn có tưởng như vầy : tưởng mình được quả Tu-đà-hoàn chăng ?
Tu-bồ-đề bạch Phật : Bạch thế tôn, không ạ! Bỡi cớ sao ? Tu-đà-hoàn gọi là quả nhập lưu, nhưng không có chỗ nhập (nhiễm) : là chẳng nhiễm sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, nên gọi là Tu-đà-hoàn.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

"Tu-bồ-đề ! Ư ý vân hà? A-la-hán năng tác thị niệm: ngã đắc A-la-hán đạo phủ ? "
Tu-bồ-đề ngôn : "Phất dã, Thế-tôn. Hà dĩ cố ? Thật vô hữu pháp danh A-la-hán.
Thế-tôn! Nhược A-la-hán tác thị niệm : Ngã đắc A-la-hán đạo, tức vi trước ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giã.
Thế-tôn! Phật thuyết: ngã đắc Vô-tranh Tam-muội, nhơn trung tối vi đệ nhứt, thị đệ nhứt ly dục A-la-hán.
Thế-tôn ! Ngã bất tác thị niệm, ngã thị ly dục A-la-hán.
Thế-tôn! Ngã nhược tác thị niệm: ngã đắc A-la-hán đạo, Thế-tôn tức bất thuyết "Tu-bồ-đề thị nhạo A-Lan-Na hạnh giả. Dĩ Tu-bồ-đề thật vô sở hành, nhi danh Tu-Bồ-đề thị nhạo A-Lan-Na hánh (# hạnh).

Phật hỏi :
Này, Tu-bồ-đề! Ý Ông thế nào ? Bậc A-la-hán có tưởng như vầy : tưởng mình đắc đạo A-la-hán chăng ?
Tu-bồ-đề bạch Phật: "Bạch thế-tôn! Không ạ. Bỡi cớ sao ? Bỡi thật không có pháp chi kêu là A-la-hán cả.
Bạch Thế-tôn! Nếu A-la-hán mà có tưởng như vầy: mình được đắc đạo A-la-hán, tức là trước tướng ngã, nhơn, chúng sanh, thọ mạng.
Bạch Thế-tôn! Phật nói con (
tức Ngài Tu-bồ-đeà) là người được pháp Vô-Tranh Tam-muội, thật đứng bậc nhất, mà cũng là bậc Ly dục A-la-hán bậc nhất.
Bạch thế-tôn. Con chẳng tưởng như vậy, con mới thật là bậc Ly dục A-la-hán.
Bạch Thế-tôn! Ví bằng con có tưởng như vầy: Con được đạo A-la-hán, thì Thế tôn ắc chẳng bảo : Tu-bồ-đề này ưa làm hạnh A-lan-Na. Bỡi Tu-bồ-đề này thật không có chi làm, nên mới gọi là Tu-bồ-đề ưa làm theo hạnh A-lan-Na đó".

Qua những đoạn kinh văn được trích dẫn từ Kim-cang, trong chỗ thấy biết của Tôn giả Tu-bồ-đề để đối chiếu với chỗ thấy biết trong cái "thế giới vô hình" của riêng Ông, Ông tự thấy chỗ "học Phật" và "Giảng pháp" của Ông lâu nay có chút gì dính dấp tới cái học "Vô-vi" của Phật pháp để đạt đến cứu cánh tâm thể rổng rang, thanh tịnh, được chỗ không gì để "được" như Huệ-Mạng Tu-bồ-đề chăng, và cái thế giới vô hình mà Ông ra-vào, đến-đi đó, nó ở chỗ nào trong nhứt thiết cảnh giới tử sanh trói buộc?
Cái "thế-giới vô hình" và những điều Ông cho là mới mẻ đó, thật ra Phật đã cảnh báo từ lâu rồi, và thời nào cũng có xuất hiện, vì đó là ma chướng của Ngũ ấm. Bỡi Phật cao tới đâu thì ma cũng cao tới đó, vì ma vương cũng có đầy đủ ngũ thông kia mà (Chỉ trừ lậu tận thông thì ma không thể được). Cho nên thậm chí nó còn dám mạo giả được cả ba mươi hai tướng tốt và tám mươi tướng tuỳ hình của Thế tôn nữa chứ đâu phải chỉ có dựng lập cảnh giới này kia bấy nhiêu thôi. Nhưng có một điều chắc chắn mà Ông Chơn-Quang phải tự biết rõ hơn ai hết, rằng, trong ít nhất là cảnh giới của chín loài mà Phật thuyết ở trên, không một cảnh giới nào ra ngoài nhơn quả sanh diệt, hay không hệ-lụy vào ma đạo. Và cái thế giới vô hình được dựng lập trong Ông đó, cũng không được miễn trừ hay ngoại lệ vậy.
Những người đã và đang tin nghe theo ma pháp của Ông Chơn-Quang hãy nên suy nghĩ. Suy nghĩ để hồi đầu Chánh-pháp Phật mà tự cứu, kẻo đến lúc ân hận thì không còn kịp nữa.

Một lời chơn thật.

Phật gia Cư-sĩ
Chơn Chánh


bullets08.gif - 0.2 KChướng Ma Ðời Mạt Pháp • Bài 8
bullets08.gif - 0.2 KChướng Ma Ðời Mạt Pháp • Bài 7
bullets08.gif - 0.2 KChướng Ma Ðời Mạt Pháp • Bài 6
bullets08.gif - 0.2 KChướng Ma Ðời Mạt Pháp • Bài 5
bullets08.gif - 0.2 KChướng Ma Ðời Mạt Pháp - Bài 4
bullets08.gif - 0.2 KChướng Ma Ðời Mạt Pháp – Bài 2
bullets08.gif - 0.2 KChướng Ma Ðời Mạt Pháp – Bài 1
bullets08.gif - 0.2 KNghe phần âm thanh
bullets08.gif - 0.2 KTrang Mục Lục - Trích đoạn những bài giảng của "Sư" Chơn Quang
bullets08.gif - 0.2 KTrang Quan Ðiểm
bullets08.gif - 0.2 KTrang chính