
Vài nhận xét về những bài "giảng pháp"
của Sư Chơn-Quang.BÀI 2
Thưa Ông Chơn-Quang.
Ông đã giảng : ". . . Nếu chừng ấy bộ kinh Nikaya mà bắt phải đọc tụng suốt đời mà không khi mình chỉ đọc qua hai năm là hết, nghe giảng chừng một, hai năm là hết, trong khi đời tu mình là năm saú mươi năm mới chết, thì năm sáu mươi năm còn lại không biết đọc cái gì đây trong khi chữ viết đã có rôì nên cái nhu cầu phát triển lý luận là nhu cầu cần thiết. (*a) Chính vì thời đại bức xúc như vậy nên đã xuất hiện tư tưởng Ðại thừa Phật giáo, là nhiều vị đã bạo viết luôn kinh Phật luôn, nghĩa là chính mình viết mà gán cho đó Phật thuyết luôn, nhiều vị rất là bạo; Có lẽ vị đó quá tự tin , tự tin rằng những điều đạo lý này mình nói không sai với ý Phật, nếu Phật còn sống đến giớ này cũng nói như vậy, cho nên những vị đó quá tự tin, cho nên đã viết những bài kinh khởi đầu bằng "Như thị ngã văn nhất thời …" mà sự thật không phải Phật thuyết, chính cái vị đó đời sau này nói, saú trăm năm sau mà viết. Bên cạnh những bài kinh mới viết sau, có thêm nhiều bộ luận mới nữa, những bộ luận của Ngài Long-Thọ tuyệt vời. Thập nhị môn luận, Trung Quán luận, những cuốn như là Trí độ luận, Trí độ tức là Bát nhã; Bát nhã luận đó và vô số các bộ luận, bộ Thanh-tịnh Ðại luận bên nguyên thuỷ hay là Thắng Pháp Tập yếu luận của Nguyên-thuỷ, rồi về sau vô số luận cứ phát triển thêm là nhờ có phương tiện chữ viết. . .". . .
Thưa Ông ! Phải nói cách chân thật với Ông rằng tôi là một trong những người đã rất may mắn khi không phải là thính giả ngồi trước đạo-tràng Phật, để phải nghe Ông "thuyết" những bài ma pháp, tướng chấp như trên. Chỉ với hai trang giấy đôi học trò ghi chép lại đoạn "thuyết pháp" của Ông ở đây, thật tình tôi không còn nghi ngờ gì về vốn sở học của Ông nữa, tức là cái kiến thức về Phật pháp.
Nói "kiến thức" ở đây, có nghĩa là tôi chỉ muốn đề cập đến khiá cạnh tri-kiến, tức là các pháp tướng mà Ông đã học hỏi thu thập được bằng kiến-văn trên phần da, thịt của đạo Phật mà thôi, chứ hoàn toàn không đả động gì tới chỗ cốt tủy của giáo pháp trong việc tu chứng của Ông (ngộ tánh hay chưa), vì điều này nói ra đối với Ông còn quá xa vời, và thật ra chỗ này cũng chẳng có chút gì dính dấp tới Ông, ngay hiện tại trong lúc này.
Một người Phật-tâm chưa tự bừng sáng, ba nghiệp thân khẩu ý còn nhiều chỗ đeo mang (Thể hiện qua những lời giảng thuyết hoàn toàn vướng mắc, trói buộc trong nhơn quả nhị nguyên mà chúng tôi sẽ lần lược chỉ ra giúp Ông tự gỡ trói trong những bài sau theo từng đoạn mà Ông đã giảng) thế mà Ông không tự xét mình, không lo tự tu cho bừng sáng bổn tâm, tỏ ngộ tự tánh trước đã, rồi mới từ trong đó mà thuyết, tức là từ chỗ rổng rang thanh tịnh như hư không, hoàn-toàn không vướng mắc, trói buộc với nhơn quả, sanh diệt mà thuyết. Bỡi vì tới chỗ đó thì nói hay nín đều rổng rang thanh tịnh, khế hợp với đạo pháp, lợi lạc cho tất thảy chúng sanh, dẫu Ông có đang ngủ mê mặc lòng, mà mở miệng ra nói gì cũng trúng, cũng không dính mắc trói buộc với hai bên, cũng không ra ngoài giòng đạo pháp, sáng trong vô cấu uế, lìa nhiễm ô.
Trái lại, ngay lúc này, những gì Ông tự cho là mình đang "thuyết giảng Phật pháp", mà thật ra trong chỗ thuyết đó, hầu hết các bài giảng của Ông đều vướng mắc, trói buộc với nhơn quả, sanh diệt và hơn thế nữa, không biết vì vô tình hay cố ý, có đôi lúc Ông còn đi sâu vào chỗ chống Phật, phá pháp, làm cho một số nhiều người vì không biết, vì nhẹ dạ mà nghe theo Ông để phải cùng vaò ngõ cụt không lối thoát. Tự chính Ông chưa biết như thật mình là ai, đang đi đâu mà dám lôi kéo người đi cùng thì thật là vô vàn tai hại và tội nghiệp.
Trước hết, tôi xin nói về chỗ tụng kinh mà Ông vừa thuyết . Trong câu nói của Ông, rằng chỉ cần hai năm là đã tụng đọc hết trọn bộ kinh Nikaya, tức là bộ kinh nguyên thủy, mà theo Ông thì chỉ có bộ kinh này mới là do chính Phật thuyết. Ở đây, trong câu nói của Ông, tự nó đã bộc lộ cách rõ ràng rằng, hoặc là chính Ông thực sự không biết thế nào là cách "trì kinh chơn- chánh", hoặc là chính Ông cố tình đầu độc người nghe thực hành sai lạc việc tụng đọc kinh điển Phật pháp, để dễ bề lung lạc, hòng dẫn họ vào ma pháp, cũng là cách để âm thầm chống Phật phá pháp.
1). Phật thuyết kinh đâu phải để cho chúng sanh đọc tụng như đọc tiểu thuyết mà Ông bảo chỉ cần đọc một mạch một hai năm là trọn hết bộ Nikaya, là không còn gì để tụng đọc nữa. Ðọc tụng như thế thì có ích chi đâu. Lời của Phật thuyết, bất cứ là kinh Tiểu thừa hay Ðại thừa, tuỳ căn cơ trí tuệ, tuỳ thiện duyên hay nghiệp tội của từng đối tượng, mà chỉ ngay đó hành giả tự biết cách thật hành "trì kinh như pháp" thì ai ai cũng đều được giải thoát. Ðó là điều hoàn toàn chơn thật.
Bằng ngược lại, đọc tụng kinh Phật mà như Ông đã nói , đã làm, là cứ đọc suông như xem truyện, hay tụng như gõ cây mà giáo nghĩa, lý pháp trong kinh không thấu tỏ, hay lý giáo trong kinh tuy có chỗ tỏ thấu nhưng chẳng biết nương lý, y pháp mà hành trì cách chơn chánh để chuyển tâm, thì dẫu cho Ông có tụng đọc hàng nhiều vạn lần,tụng hàng vạn bộ kinh đi nữa, thì may lắm có được chút ít phước đức, chứ còn việc đoạn lìa sanh tử, cứu cánh giải thoát khỏi hai bờ, đối với Ông trong chỗ này đều là chuyện xa vời không tưởng. Xin Ông hãy tự bình tâm, thành kỳ ý mà nghiệm lại trong chỗ không tự dối lừa Ngã-Phật, thì tự thấy biết ngay lúc này chính Ông đang làm gì, ở đâu. Biết được điều này trong chỗ không tự dối lòng mà tìm phương quay đầu, lìa chỗ tối mà tìm đến chỗ sáng để củng cố tâm hạnh thì cũng là điều thật tốt rồi vậy.
"Tôi nghe như vầy : Một thời Phật trụ tại nước Xá-vệ, trong rừng cây Kỳ-đà, vườn Cấp-cô-độc. Bấy giờ đức Thế-tôn bảo các Tỳ-kheo :
-Có Pháp Sa-môn, Sa-môn, Nghĩa Sa-môn và Quả Sa-môn. Hãy lắng nghe, khéo suy nghĩ, Ta sẽ vì các Thầy Tỳ-kheo mà nói.
Thế nào là Pháp Sa-môn ? Ðó là Tám Thánh-đạo : Chánh kiến, Chánh Tư-duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định.
Thế nào là Sa-môn ? Ðó là người thành-tựu các pháp nầy.
Thế nào là Nghĩa Sa-môn ? Ðó là tham dục vĩnh viễn đoạn dứt, sân giận, ngu si cùng tất cả phiền não vĩnh viễn chấm dứt.
Thế nào là Quả Sa-môn ? Ðó là bốn Thánh quả: Tu-đà-hoàn, quả Tư-đà-hàm, quả A-na-hàm và quả A-la-hán.Phật thuyết kinh nầy xong, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, hoan hỷ phụng hành ".
Ðây là một trong những bài kinh của bộ Nguyên-thuỷ mà Ông tin tưởng nhất, rằng chỉ có các kinh nguyên thuỷ mới do chính Phật thuyết.
Thưa Ông Chơn Quang! Lấy bài kinh này làm thí dụ, thì với cách tụng đọc như ông đã nói, dẫu Ông tụng thuộc lòng nhuần nhuyễn đến vạn lần, hàng vạn bài kinh như trên, tụng suốt đời suốt kiếp chứ đừng nói hai ba năm, hay năm bảy chục năm, thì nợ sanh-già-bệnh-chết, đối với Ông cũng không suy suyển chút nào, khó mong thoát khỏi cái khổ của phiền não, tử sanh trói cột. Bỡi cớ sao ? Bỡi Ông chỉ tu ngoài da, chỉ thể hiện đạo giải thoát của Như-lai ở bên ngoài, trong chỗ hình thức, trong chỗ sanh diệt, biến hiện của sắc tướng mà thôi.
Thưa Ông! Ông phải tự biết một cách rõ ràng hơn ai hết (vì Ông là Tỳ-kheo) rằng, một người tu Phật chơn chánh, dù tại gia hay xuất gia, muốn tự cứu mình và sau đó phát tâm cứu người, nghĩa là cứu cánh giải thoát và độ người giải thoát tử sanh, phiền não, thì người ấy phải tự thông suốt và thật hành trọn vẹn không sai sót bốn phần cơ bản Phật pháp là Giáo, Lý, Hạnh, Quả. Nói bốn, nhưng thật ra là ba, vì ba phần đầu phải tự trong chỗ lấy việc "như pháp thực hành" là nhân, còn phần thứ tư là nhờ ở cái nhân "trì kinh như pháp" ấy mà được thành tựu công đức, tức là quả vậy.
a). Giáo Giải-thoát: đó là những lời hoàn toàn chân thật của bậc Ðại-Giác, Ðại-Giải-thoát gồm nói trong mười hai phần kinh, cả Tiểu-thừa lẫn Ðại-thừa, dùng làm ngón tay chỉ trăng. Tuỳ căn cơ, duyên phước của từng người mà pháp có thấp cao, đốn tiệm nhưng chân lý giải thoát thì bất biến, nghĩa là vị giải thoát thì chỉ một, không hai cũng không khác. Cho dù chư Phật ở Quá-khứ, Hiện-tại hay Vị-lai, cũng chỉ trọn nói về một nghĩa "Như"trong chỗ rốt ráo mà thôi. Sau này chư vị Tổ- Sư, các bậc Thánh-Trí cũng chỉ từ một nghĩa này mà thuyết, cho nên nói, y cứ theo kinh mà tu hành, gọi là Giáo.
b). Lý Giải thoát : Người tu hành phải biết nương kinh, nghĩa là nương theo những lời dạy chân thật của Thế-tôn, để tự nhìn vào trong mà quán sát cách sáng suốt, tỏ thông thấu đáo ý nghĩa chơn thật không gì sai khác được của những lời dạy ấy mà lần lần tỏ ngộ chỗ thâm mật của chân lý giải thoát. Ðó là Lý vậy.
c). Hạnh Giải-thoát : Nương theo lý Giải thoát, nghĩa là sau khi quán sát tỏ rõ, tự biết cách chơn chánh rằng đây là chân lý giải thoát, thì nhứt tâm dũng mãnh, thành kỳ ý, không hề dối lừa tự Phật mà "Như Pháp Hành-Trì" không gì lay chuyển nổi. Nhờ Giới Hạnh nghiêm mật, tinh tấn mà lần lần bổn tâm sáng suốt, tỏ ngộ tự tánh, từ tâm bộc khởi. Ðó là Hạnh Giải thoát.
Mà đã thật hành Hạnh này thì không ra ngoài pháp Lục-độ: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định và Giải thoát. Nhứt thiết không một pháp thiện nào mà không làm, không một pháp ác nào mà làm, nói làm mà thật không thấy có chỗ làm, không có năng sở, vì đã tự thể hiện vô ngã, vô vi, tự lìa tất cả tướng vậy.
d). Quả Giải thoát : Nương Hạnh Giải thoát mà sống đồng một trong tự tánh, cũng là bổn lai diện mục, không rời lià nó mà tiệm tu để trừ sạch các lậu hoặc, đồng thời giáo hoá chúng sanh để trả nợ bốn trọng ân, lại tùy công-phu sâu cạn mà tự chứng các Thánh quả: Tu-đà hoàn, Tư-đà hàm, A-Na hàm, A-la hán để cuối cùng là đoạn lìa sanh-tử vậy. Bỡi Ông đang đề cập đến việc tụng đọc bộ Kinh Nikaya, nên tôi mới nói đến các quả vị giải thoát của Tiểu thừa vậy.
Thưa Ông Chơn Quang! Người tu Phật chơn chánh không cần phải vạn quyển trăm kinh mới gọi rằng tu, hay mới tu được. Chỉ cần thật hành cách chơn chánh những gì trong kinh đã dạy "Phật thuyết kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, hoan hỷ phụng hành".Người tụng kinh chơn chánh là người biết nghe và hiểu sâu ý nghĩa lời Phật dạy, rồi hoan-hỷ tin tưởng thọ lãnh giáo pháp ấy, rồi y theo lời dạy trong kinh mà hành trì cách chơn chánh để cứu cánh giải thoát.
Còn đọc tụng một hai năm hết nhẵn bộ Nikaya đồ sộ, để rồi không còn kinh nào mà đọc nữa như Ông đã nói, đối với riêng tôi là chuyện "từ trên trời rơi xuống", mới nghe lần đầu vậy.
Ðây chính là chỗ sai lầm nghiêm trọng trong việc tu hành của Ông, và dẫn dắt người khác đi vào ngõ cụt như Ông. Thật ra thời này không hiếm người mắc phải sai lầm như thế, đó chỉ vì chấp tướng. Nhiều người cứ những tưởng phải đọc cho thật nhiều kinh điển, sách vở để có kiến thức sâu rộng, nói năng lưu loát. Nay tôi xin hỏi, chủ đích người tu Phật là cứu cánh giải thoát khổ tử sanh phiền não hay là để làm giàu tri kiến của tự thân? Chúng ta phải tự đặt câu hỏi và tự trả lời cách chơn thật. Học rộng như thế để làm gì? Ðệ nhất Ða văn không tiền khoáng hậu như Ngài A-Nan mà còn bị Phật quở là chướng ngại, tự chứng Thánh quả sau cùng trong số 500 Ðại A-la-hán trong thời Phật, huống là chúng ta ngày nay, trong đời mạt pháp.
Nhiều người bỡi không biết nên cứ chạy theo trói buộc của sắc tướng, tự hào về cái hay , cái giỏi vướng mắc của tri kiến. Giỏi thông kim bác cổ, giỏi làu thuộc vạn quyển trăm kinh, y kinh nói ra thì thao thao bất tuyệt, biện luận phải trái, đúng sai trong chỗ hai bên thì lai láng như nước chảy, như suối tuông không ai sánh kịp. Nhưng bất chợt có người hỏi đến trong chỗ tột cùng "Pháp Phật vô ngôn" thì như trên trời rơi xuống, mở miệng ra là dính mắc, động một chút là trói buộc với nhơn quả, vô minh, còn trong chỗ làm thì thân tâm xa lìa chánh pháp. Tự tâm tự hành thì cứ như đem gương vào buồng tối soi mặt; đến chính mình trong gương cũng chẳng dám hé mắt thử dòm, bỡi đã tự biết trước chắc chắn yêu quái sẽ xuất hiện. Thế nên thà đừng soi để khỏi phải bị chiêm bao mộng mị, khỏi phải tưởng bị ma quỉ đuổi rượt, trói bắt. Lại cũng có kẻ dám soi, nhưng thấy hoài thành ra nhẵn mặt mà không còn biết lo, biết sợ, tự lấy đó làm bạn đồng hành trong suốt quãng đường còn lại trước mặt. Cũng có lúc chùng lòng mà tự hỏi : Thế còn ở đời vị-lai thì sao ? – Lại tự vỗ về , an phận : thôi thì cứ nhắm mắt mà lần bước đưa chân, may ra trong chỗ tối tăm, mình đui mù chẳng thấy người, biết đâu có khi người cũng chẳng thấy mình mà được thoát nạn dầu sôi, lửa bỏng chăng? Những người trước tướng như thế, trong chỗ thấy biết thật tâm của tự mỗi người, không phải là hiếm. Có điều, chính mình làm thì tự phú tàng, giỏi che dấu, còn thấy biết người trong chỗ hành xa rời chánh pháp thì chỉ bàn tán sau lưng trong chỗ năm ba mà không dám nói thẳng ra để cho người biết hối, có cơ quay đầu, vì …sợ : sợ người trả thù, sợ nói ra thì bị gán cho cái mũ bất kính với Tăng bảo, có tội trong chỗ tâm linh; sợ bị chụp mũ là vạch áo cho ngoại đạo xem lưng, có khi còn bị lên án là phá hoại Phật pháp; sợ vì trong chỗ nể nang, quen biết, sợ và sợ…vv, và cuối cùng là "MACKENO" chẳng dính dấp tới mình thì thôi, xin cho hai chữ bình an là hơn hết. Ðây chính là pháp nạn vậy!
Một điều chắc chắn rằng, nếu trước đây các bậc Tôn-túc, các Thiện-tri thức mới thoạt nghe Ông Chơn-Quang khởi đầu thuyết pháp, thấy có chỗ sai, có chỗ đi lạc ra ngoài giòng Ðạo Pháp mà từ bi và ân cần nói ngay, chỉ thẳng một cách chơn thật kịp thời cho Ông ta lúc đó, thì Ông ấy đâu có đến nỗi phải ngày càng xa lìa Chánh-pháp Phật như bây giờ, đến nỗi sai mà cũng chẳng biết mình sai, vì đã đi quá đà mà rơi vào ma pháp.
Thưa Ông Chơn-Quang. Người tu chơn chánh chỉ cần một bài kinh pháp như Phật đã thuyết cho các Sa-môn ở trên, biết nương theo lời dạy chơn thật đó mà phản chiếu tự tâm, hiểu thật rõ thế nào là Pháp Sa-môn chơn chánh và phải nhứt tâm y pháp hành trì một cách chân thật không sai lời Phật dạy pháp Sa-môn này; phải hiểu rõ thế nào là một Sa-môn chơn chánh, thế nào là Nghĩa Sa-môn chơn chánh. Có trang nghiêm chính tự thân tâm trong chỗ hành trì Bát chánh đạo một cách chơn chánh, đúng pháp, không dối lừa tự Phật thì lần lần tự thấy biết như thật thế nào là một Sa-môn chơn chánh, nghĩa là nhờ "Trì Kinh Chơn-Chánh" nên mớithành tựu tám công đức này, cũng ngay đó huệ tâm bừng sáng, tự thấy biết như thật Sa-môn này trong chỗ công phu đã tự đoạn lìa tham, sân, si cùng vĩnh ly tất cả ràng buộc của khổ ưu, phiền não. Và với pháp vô vi này, một hành giả tu Phật chơn chánh tự có chỗ tu-chứng, có quả vị thấp cao sai biệt vậy. Ðó chính là thành quả của việc Trì Kinh Như Pháp.
Với Ðại thừa pháp, trong kinh Bảo-Ðàn, Lục-Tổ Huệ-Năng cũng có dạy cách trì kinh như pháp.
"Vị Tăng tên Pháp-Ðạt ở Hồng-Châu xuất gia lúc mới bảy tuổi, thường tụng kinh Pháp-Hoa. Ông đến Tào-khê yết kiến Lục-Tổ, lạy mà đầu không sát đất.
Tổ quở : -"Lạy mà không chịu cuối đầu sát đất thì thà đừng lạy. Trong tâm ngươi chắc có một vật, ngươi chất chứa việc chi?
Pháp-Ðạt tự hào thưa : -"Bạch Hoà-thượng con tụng kinh Pháp-Hoa được ba ngàn bộ."
Tổ dạy : - "Nếu tụng tới muôn bộ, thấu tỏ ý kinh, và không lấy công phu đó làm sở đắc thì đi cùng đường với Ta. Bằng trái lại thì có lỗi. Nay ngươi cậy vào sự nghiệp đó mà tự đắc, chẳng biết lỗi mình, hãy nghe ta nói kệ :
Lạy vốn bẻ kiêu căng,
Ðầu sao chẳng sát đất ?
Chấp Ngã, tội liền sanh,
Quên công, phước mới lớn.Tổ lại hỏi : -"Ngươi tên chi?".
Ðáp : -"Bạch. Con tên Pháp-Ðạt".
Tổ bảo : - "Ngươi tên Pháp-Ðạt mà không Ðạt Pháp. Hãy nghe kệ :Ngươi nay tên Pháp-Ðạt
Siêng tụng hoài không dứt,
Chỉ đọc suông theo âm.
Sáng tâm mới thành Phật.
Ngươi nay có duyên cớ,
Ta vì ngươi nói rõ
Chỉ tin Phật vô ngôn,
Hoa sen do miệng trỗ.Pháp-Ðạt nghe kệ hối hận vô cùng, dập đầu lạyï sát đất mà sám hối. Sau đó, Tổ giảng giải cho Pháp-Ðạt thấy biết cách chơn chánh chỗ trì kinh Pháp-Hoa để ngay đó biết đường mà tự Khai, Thị, Ngộ, Nhập Tri kiến Phật, cũng là tự Phật vậy.
Ðến đây Tổ nói kệ :
Tâm mê, Pháp-hoa chuyển
Tâm ngộ, chuyển Pháp-hoa,
Tụng kinh không tỏ ý
Ðối nghĩa, ấy thù ta.
Vô niệm, niệm tức chánh,
Hữu niệm, niệm thành tà.
Hữu, Vô đều chẳng kể
Thâm nhập chỗ sâu xa.Cho nên, nếu cứ như Ông Chơn-Quang nói, cả bộ kinh Nikaya đồ-sộ mà Ông chỉ tụng đọc một hai năm là hết thì thú thật tôi cũng không biết Ông tụng đọc để làm gì.
Nếu nói tụng kinh nhiều ắc mau đạt đạo, thì trường hợp thầy Tăng Pháp-Ðạt kia, xuất gia từ lúc bảy tuổi, tụng ba ngàn bộ kinh Pháp-Hoa, thời gian thật lâu xa, sao không sớm tỏ ngộ, mà phải đợi đến lúc nghe Lục-Tổ Huệ-Năng giảng pháp và nói cho Ông một bài kệ "chỉ thẳng ngay tâm"thì ngay đó thầy Pháp-Ðạt kia mới hốt nhiên khế nhập lý đạo, tri kiến cột buộc trong chỗ hai bên của khái niệm nhơn quả ngay đây mới tự đoạn lìa, biến mất khỏi Ông ta. Cũng bỡi thầy Pháp-Ðạt mấy mươi năm qua tụng ba ngàn bộ kinh Pháp-hoa mà chỉ lấy Thân tụng, Khẩu tụng chứ không dụng Tâm tụng vậy. Ðến lúc chăm chú lắng nghe Tổ nói kệ, cũng chính là lúc Pháp-Ðạt đang trong chỗ "diệu tâm thính pháp" thì như sét đánh ngang tai, những mê lầm cố hữu của kiến chấp chất chứa từ lâu, chỗ năng tụng, sở tụng ngay đây cháy tiêu, bể nát, tánh tướng chơn thật tự vô thỉ phô bày, cũng là chơn tâm, tự Phật hiển hiện. Ðến lúc đó thì Pháp-Ðạt lại thưa trình với Tổ là không muốn tụng kinh nữa. Ðến đây Tổ mới dạy một câu chí lý : "Kinh có lỗi gì mà ngăn tụng. Tụng kinh cần phải biết: mê với ngộ đều do ngươi, tổn với ích cũng chỉ tại riêng mình. Miệng tụng, tâm hành, tức là mình chuyển kinh; còn miệng tụng mà tâm không chịu "như pháp hành trì", ắc phải bị kinh chuyển.
Cho nên trở lại câu Ông nói : "Nếu chừng ấy bộ kinh Nikaya mà bắt phải đọc tụng suốt đời, mà không khi mình chỉ đọc qua hai năm là hết, nghe giảng chừng một, hai năm là hết, trong khi đời tu mình là năm sáu mươi năm mới chết thì ….".
Chỉ cần nghe câu "thuyết giảng" ngắn nêu trên, những vướng mắc, trói cột vì tướng chấp của Ông đã bộc lộ quá rõ ràng. Chỗ này Ð.H Pháp-Chánh đã chỉ ra, tưởng không có gì đáng phải bàn nữa. Tuy nhiên, đối với những Phật tử tại gia như chúng tôi, thì có lẽ không đáng bàn thật, vì người ta thường nói, gieo nhân nào ắc phải gặt quả ấy, hoặc ai làm nấy chịu, khéo-vụng tội-phước riêng hưởng, riêng gánh mà.
Nhưng với Ông thì lại hoàn toàn khác hẵn, vấn đề không đơn giản như vậy. Bỡi cớ sao ? Vì trong chỗ hiện tướng, đối với tai phàm mắt tục của mọi người, Ông là một Thích tử xuất gia, một Tỳ kheo, mà nói theo nghĩa Ðại thừa của pháp giáo-hoá, trong niềm tin kính của chúng sanh đối với Phật pháp, thì người ta có thể nghĩ rằng Ông từ chỗ "Ưng dĩ Tì Sa-môn thân đắc độ giã, tức hiện Tỳ-Sa-môn thân nhi vị thuyết pháp" đó. Cũng bỡi Ông tự có sẵn cái ưu điểm hơn hẵn người thường đó, mà trong chỗ bóng gió, thầm kín, Ông đã biết lợi dụng niềm tin ấy, qua những lời giảng thuyết, mà nếu không hiểu sai thì Ông tự cho mình như là một vị Thánh trong cõi vô hình nào đó vì muốn cứu vớt chúng sanh mà hiện thân giáo-hoá cõi này vậy.
Ông nói "…Cái mới mà Thầy học được lúc Thầy ở trong cái thế-giới vô hình, mà chính ở trong cái thế giới vô hình Thầy đã hiểu được nhiều điều và Thầy mang cái tâm nguyện đó trở lại để đem những điều hiểu biết đến cho mọi người, nên trong cái thế giới đó có nhiều điều và chân lý sáng tỏ hơn là cái thế giới của cõi người mình…"
Chúng tôi nêu câu nói của Ông để minh chứng cho điều nói trên là không sai, là nói có sách, mách có chứng. Tuy nhiên, câu nói đó chúng ta sẽ xem xét để biết thật hư, chơn giả vào những bài viết sau, còn bây giờ chúng ta đang bàn về chuyện thuyết pháp của Ông CQ .
Nếu là một xuất gia đệ tử chơn chánh của Phật, trách nhiệm của Ông đối với Phật và Pháp to lớn và quan-trọng vô cùng. Cho nên bản thân Ông không thể ví với những người như chúng tôi đôi khi trong giao tiếp, nói năng cũng có chỗ lỗi lầm, mà sau đó thì cười trừ, rằng tôi bị lỡ lời, hoặc vì tôi không biết, tôi học chưa tới,tôi chưa hiểu, tôi.. vv và vv … nay tôi xin lỗi, xin thành tâm sám hối vv…. Riêng Ông không thể nói cách dễ dàng như vậy là xong hết đâu. Giả như Ông có thành kỳ ý trong ăn năn, sám hối đi nữa, nhưng cái hoạ do Ông gây ra, là biết bao nhiêu chúng sanh vì vô tình hay nhẹ dạ bị Ông dẫn dắt vào đường ma lối quỉ, xô đẩy vào chỗ đoạ lạc vĩnh kỳ của ác đạo, thì phần trách nhiệm ấy thuộc về ai, Ông phải xử lý ra sao. Bỡi vì do Ông thuyết giảng lệch lạc mà người ta mới bị đoạ. Vậy Ông phải tính làm sao với họ đây?
Một cách cụ thể, như Ông được đi học lái xe, lái máy bay, hoặc lái tàu thuỷ để phương tiện đưa rước người chẳng hạn. Ông được theo thầy học lái. Nhưng tay nghề Ông chưa tinh thông mà Ông đã vội nắm tay lái, hô hào kêu gọi người ta lên xe, lên tàu cho Ông chở; còn hành khách thì ai lại không muốn dùng phương tiện của Ông cho nhanh chóng, cho tiện lợi, nhưng họ làm sao biết được là Ông chưa rành lái tàu, lái xe bao giờ; bỡi trước mắt họ, Ông đang trang bị bên ngoài đầy đủ như là một người lái tàu chuyên nghiệp chẳng gì sai khác.
Kết quả không nói ra thì ai cũng biết, xe phải rơi xuống vực sâu, tàu thì chìm giữa biển khơi, còn phi cơ thì tan xác trên đất đá. Dù vẫn biết rằng Ông cũng không sao tránh khỏi cái chết cùng với những người đi theo Ông, nhưng hệ quả đối với những người vô tội vì tin nghe Ông mà phải chết cách tức tưởi đó thì Ông nghĩ sao? - Ông nên tự nghiền ngẫm mà tìm lối thoát cho chính cái "tâm đang bị trói buộc" của Ông trước đã. Vì thực ra, với những bài "thuyết pháp" của Ông, trong chỗ tận cùng sự chơn thật của mình, chắc chắn Ông cũng không biết Ông đang thuyết pháp gì, chiếc bè mà Ông đang trên đó sẽ đưa chính Ông và những người vì nhẹ dạ tin nghe theo Ông đi tới đâu nữa. Vì qua những bài giảng thuyết đầy vướng mắc, kết buộc với nhơn quả, chúng tôi thực sự không biết chính Ông làm sao có thể thoát khỏi sự trói buộc đó, huống là Ông có thể độ người giải thoát nó.
Chỉ khi nào chính Ông không còn bị trói buộc trong chỗ hai bên, thì dù Ông có thuyết pháp nào đi nữa, Tiểu thừa, Ðại thừa, hay Tối thượng thừa, tự Ông biết nên ra sao trong chỗ đến, đi, nói, nín đó, bỡi tất cả đều "Như Pháp", chỗ thuyết đó luôn cùng đạo tương ưng, không chỗ chống báng. Bằng ngược lại thì thường hay trói buộc, dính mắc vậy.
Do chưa đi mưa nên không biết lạnh, nên Ông xem thường hạnh thuyết pháp, muốn nói gì thì nói, vì lúc nào thấy cũng có người nghe, cũng tôn kính không thắc mắc gì với Ông (vì họ không biết), chứ chư Tổ ngày xưa rất cẩn thận, bỡi ngay chỗ nói, hay nín đều là tu cả, tội cũng đó mà phước cũng chính tại đó.
"Một hôm Phật biết Trưởng-giả Duy-ma-Cật bị bệnh, bảo Tôn-giả Mục- kiền-liên đi thăm . Ngài Mục-kiền-liên từ chối đi thăm, thưa : "Bạch Thế-tôn, con chẳng dám đảm nhiệm việc đi thăm Ông ấy. Vì cớ sao ? – Lúc trước con ở trong một xóm nhỏ, tại thành Tỳ-da-ly, đang thuyết pháp cho các cư-sĩ. Bấy giờ Duy-ma-cật đi lại, bảo con rằng : "Dạ, Ðại-mục-liên! Có thuyết pháp với hàng cư-sĩ áo trắng, chẳng nên thuyết như Nhân-giả vậy. Hễ thuyết pháp thì phải nên y pháp mà thuyết. Pháp không có chúng sanh, nên lìa cấu trược của chúng sanh. Pháp không có Ta, nên lìa cấu trược của Ta. Pháp không có Thọ- mạng, cho nên lìa khỏi sanh tử. Pháp không có Người, cho nên dứt hết trước, sau. Pháp thường yên lặng cho nên dứt hết các tướng. Pháp lìa tướng cho nên không có chỗ nương vin. Pháp không có danh tự, cho nên bặt ngôn-ngữ. Pháp không thể thuyết nên lìa giác quan. Pháp không có tướng nên giống như hư không. Pháp không hý luận nên tất cánh là Không. Pháp không có cái của ta (ngã sở), nên lìa cái của ta. Pháp vô phân biệt, nên lìa các thức. Pháp không có chỗ so sánh, nên lìa đối đãi. Pháp không do nhơn nên chẳng tại duyên. Pháp đồng tánh nên tự thiệp nhập. Pháp tùy theo lẽ Như nên không có chỗ tuỳ. Pháp trụ chỗ thật tế, nên không bên động. Pháp chẳng lay động nên chẳng tuông theo lục trần. Pháp chẳng lại qua, nên thường chẳng trụ. Pháp thuận Không, tuỳ Vô tướng, ứng Vô tác. Pháp lìa tốt xấu, Pháp không thêm bớt, Pháp không sanh diệt, Pháp không đi về, Pháp siêu vượt lục căn. Pháp không cao thấp. Pháp thường trụ chẳng động. Pháp lìa tất cả tu và hành.
Dạ, Ðại mục-liên! Tướng pháp là như vậy, há có thể thuyết diễn được sao ? Nầy! Người thuyết pháp thì không nói, không chỉ. Kẻ nghe pháp thì không nghe, không chỗ được. Thí như nhà ảo thuật thuyết pháp với người aỏ hoá vậy. Nên tự làm được trọn như ý ấy, thì mới thuyết pháp cho kẻ khác. Nên quán sát mà tự biết rõ căn trí chúng sanh, linh lợi hay chậm lụt . Phải tự thấy biết rõ ràng, không có chỗ ngại. Ðem lòng đại-bi khen tặng Ðại thừa, Nhớ báo ơn Phật. Ðừng dứt lìa Tam-bảo. Ðược như vậy rồi mới có thể thuyết pháp mà độ người.
Duy-ma-cật thuyết thời kinh ấy rồi, tám trăm cư sĩ phát tâm Vô thượng Chánh Giác. Con không đáp lại cuộc biện bác ấy, nên chẳng đủ sức đảm nhiệm việc thăm bệnh Ông ấy vậy.".
(Duy-ma-cật sở thuyết kinh).Nêu câu chuyện thuyết pháp của Ðệ Nhất Thần-thông Ðại A-la-hán Mục-kiền-liên để mỗi người trong chúng ta tự quán sát cách miên mật để khám phá mà thấy biết như thật chính mình là ai. Ðã tự cởi trói chưa mà lo đi cởi trói cho người. Bỡi có không ít người thường tự phong Thánh, nói năng lung tung, linh tinh không kể khuôn phép, không kể giáo đức, giáo hạnh ra thế nào, tự cho là mình đang thuyết pháp. Lìa kinh, lìa Phật, mê mờ lầm lạc tự dẫn xác theo ma quỉ mà không hề hay biết, lại dẫn đường cho người cùng theo, gọi đó là thuyết pháp. Bỡi những người này, thân, tâm, khẩu, ý còn dính đầy bụi bặm mà cứ nghĩ mình đã đắc pháp, đã từ một cảnh giới vô hình Thần-Thánh nào đó mà thị hiện để độ người. Thật là tội lỗi vô cùng.
2). Về chỗ kinh điển mà Ông C.Q. đề cập là Phật thuyết với chẳng phải Phật thuyết.
Tất cả mười hai phần kinh đều từ Phật thuyết, chỉ có điều trong thời Phật còn tại thế, chưa có ghi chép. Bỡi thế, nếu tinh mắt một chút, chúng ta sẽ thấy trong bộ Nikaya- Pali tạng (Trường bộ kinh, Trung bộ kinh, Tương ưng kinh...) hoặc trong bốn bộ A-hàm, Hán tạng như Trường A-hàm, Tập A-hàm, Tăng Nhứt A-hàm , có những bài Kinh Phật thuyết được lập đi lập lại nhiều lần mà ý cũng chỉ một. Ðó là vì Phật thuyết nhiều nơi, nhiều lúc mà sau này Ngài An-Nan và chư Tổ đồng thời, hoặc thậm chí chư Tổ sau này nữa cũng chỉ vì tôn trọng lời Phật thuyết theo từng nơi chốn, từng nhóm đối tượng, từng cột mốc thời gian mà các Ngài ghi chép cẩn thận không bỏ sót, hay những kinh Phật chỉ thuyết cho các hàng Bồ-tát thuộc Ðại-thừa-giáo như các kinh Hoa-nghiêm, Viên-giác, Pháp-hoa, Kim-cang, Duy-ma v..v..cũng tùy theo căn cơ, trình độ của họ mà Phật nói Pháp
Chỉ có những người chấp tướng, mắt tâm chưa mở mới thắc mắc chỗ Phật thuyết hay không phải Phật thuyết mà thôi. Chứ một khi tự tâm bừng sáng, chỗ thấy không thỉ không chung, ba thời chỉ trong một niệm, tự đồng một trong tánh sáng của chơn tâm, của tự Phật, Quá, hiện, vị lai đồng trong chỗ nhứt-như thanh tịnh, thì chơn lý chỉ một, không hai không khác. Tạm nói "một" vì hết cách nói, trong chỗ lìa đối đãi.
Cho nên, theo người xưa, chỉ những gì Phật thuyết mới gọi là Kinh, là giáo lý giải thoát chơn thật từ chính kim khẩu của Thế-tôn. Nhưng sau này, người ta vẫn phá lệ tôn "Pháp Bão-Ðàn" của Lục Tổ Huệ-Năng cũng thành Kinh, vì Chơn-lý mà Lục-Tổ xiển dương cũng không hai không khác Chơn lý Giải thoát mà Phật đã Phát minh trên ngàn rưởi năm trước đó. Chơn lý Giải thoát trong Pháp Bảo-đàn có gì trái với những lời Phật đã từng thuyết chăng ?
Chỉ có điều trong Pháp Bảo-đàn không có mấy chữ "Như thị ngã văn", vì sự thật kinh này là do Lục Tổ thuyết, mà chỗ Tổ thuyết này cũng chỉ nói về một nghĩa "Như" rốt ráo không đến đi, không còn mất,không thỉ không chung, sáng trong tịnh lặng như Phật chỉ ra không khác. Mà dù không có hai chữ Như-thị đi nữa, kinh Pháp Bảo-đàn có mất đi giá trị của nó đâu, thế thì cần gì phải cố chấp chỗ "chính Phật thuyết hay không phải Phật thuyết". Cơ bản là những lời kinh đó có ra ngoài chơn lý giải thoát của đạo Phật hay không, còn ngoài ra thì không có gì làm cho chúng ta phải bận tâm , vì chỗ mình bận tâm ấy tức là chấp tướng, là tự trói buộc chỗ "hiện tướng" của mình vậy. Ðã chấp Pháp tướng (tức pháp ngã) thì ngay đó Ngã tướng (tức nhơn ngã) hiện tiền. Ngã tướng hiện thì tứ tướng trọn đủ, thế thì chỗ nói pháp trong đây hoàn toàn bị ràng buộc trong cảnh giới nhơn quả, trong chỗ có "khái niệm của hai bên" ngay, tức là cũng chỉ có thể thuyết lẩn quẩn trong chỗ pháp tướng sanh diệt mà thôi.
Phật thuyết :" Ly nhất thiết tướng tức danh chư Phật". Có thật sự tự lìa tất cả tướng, thì mới tỏ rõ nhiệm màu trong chỗ pháp Phật vô ngôn vậy.
Tóm lại, muốn thâm nhập Phật pháp, muốn giác ngộ chân lý giải thoát, dù là người qui y sự Phật tại gia hay xuất gia cũng không ra ngoài bốn tiêu chuẩn "Tín, Thọ, Phụng, Hành".
Có tự mình chơn chánh thật hành được bốn chữ cuối ở mỗi kinh như vừa nêu, thì không lo gì không thâm nhập được vị Giải thoát của Như lai. Bằng đọc tụng kinh điển mà cứ lấy miệng đọc suông thì trăm đời ngàn kiếp cũng không sao thoát khỏi nợ sanh-già-bệnh-chết vậy.
Phật-gia Cư-sĩ
Chơn-Chánh
Chướng Ma Ðời Mạt Pháp " B i 8
Chướng Ma Ðời Mạt Pháp " B i 7
Chướng Ma Ðời Mạt Pháp " B i 6
Chướng Ma Ðời Mạt Pháp " B i 5
Chướng Ma Ðời Mạt Pháp " B i 4
Chướng Ma Ðời Mạt Pháp " B i 3
Chướng Ma Ðời Mạt Pháp – Bài 1
Nghe phần âm thanh
Trang Mục Lục - Trích đoạn những bài giảng của "Sư" Chơn Quang
Trang Quan Ðiểm
Trang chính