bai-10.jpg - 55.8 K
vainhan.gif - 12.7 K
(Unicode fonts)

Hãy cảnh giác với ma thuyết

“Thế giới vô hình” của ông Chơn-Quang.

Chon Quang Phần IV  : Dựng lập thế giới vô hình để gạt người .

Nghe qua một số cuộn băng được gọi là “giảng Phật pháp”, mà rải rác trong những băng này ông Chơn-Quang đã say mê, cao hứng, bịa đặt không đầu không đuôi về cái thế giới vô hình   mà ông ta tự hào là đã từng ở trong đó;   ông ca ngợi cái thế giới vô hình đó không tiếc lời, nào là   tốt đẹp, mới mẻ, chân lý, trật tự, ổn định, lợi ích   . . vv. .  và cuối cùng   ông ta cũng không quên cái mục đích của mình, là muốn cho chúng sanh ai ai cũng được sống thõa thích như ông ta trong cái thế giới vô hình ấy. Ông Chơn-Quang đã “thuyết” cho bá tánh nghe với cái giọng điệu như một vị Giáo-chủ thứ thiệt cũng không bằng, rằng ông ta đã đem những điều   học hỏi được, hiểu biết được trong cái thế giới vô hình đó mà ông cho là tâm nguyện, sở nguyện  của mình, trở lại cõi người của kiếp này, để dạy cho chúng sanh cùng được hiểu biết, cùng được lợi ích và cùng vào sống trong cái thế giới vô hình tốt đẹp đó như ông ta.

Oâng tuyên bố một cách chắc nịch, rằng nhờ ông ta đã từng sống, từng học hỏi, tu hành  trong cái thế giới vô hình ấy mà ông ta mới phát minh ra được những điều mới mẻ, khác lạ, hữu ích; chứ nếu ông ta cũng cứ y như mọi người từ xưa tới nay mà tu hành theo kinh điển, tức là hành trì y theo những lời dạy của Phật, y theo cái truyền thống ngàn đời không thay đổi trong cách tu tập của Phật giáo, thì làm sao ông ta có thể phát minh ra được cái Giáo pháp mới mẻhay ho tốt đẹp như ngày hôm nay.

Với giọng điệu đầy cao ngạo, ngã mạn như thế, có khác nào “Giáo-chủ” của cái Giáo pháp mới mẻ là ông Chơn-Quang đã chê bai Phật còn thua ông ta một bậc, vì  Phật chưa từng đề cập, chưa từng thuyết về cái thế giới vô hình tốt đẹp đó. Và cũng chỉ có ông thánh sống Giáo chủ Chơn-Quang hiện đời mới làm được điều này.

Thật là những lời hoang đường, vọng ngôn, ngoa ngụy, dối trá, cao ngạo, ngã mạn, đầy trước tướng của bọn ma quỉ.  

Thực tình, không nói ra thì ai cũng biết, ông Chơn-Quang đã bắt chước, góp nhặt rồi tưởng tượng ra cái thế giới vô hình mà nội dung không ra ngoài những sự việc đã được miêu tả trong truyện “Trở về từ cõi sáng” do một số người kể lại sau khi đã một lần chết đi rồi được sống lại. Tác phẩm này đã được xuất bản từ lâu, được phổ biến rộng rãi trên nhiều nước, và nhà văn, nhà dịch thuật văn-học Phật-giáo quen thuộc của chúng ta là Nguyên-Phong cũng đã phóng tác ra Việt ngữ.   Những ý tưởng mà ông Chơn-Quang đã góp nhặt được trong quyển sách “Trở về từ cõi sáng”, rồi lấy đó nhận làm của riêng mình, hoàn toàn chẳng phải tự chính ông ta trong trạng thái xuất hồn ấy, được ông ta mô tả một cách khập khễnh, cường điệu, ngập ngừng, đầy bịa đặt, lừa người gạt mình,   cũng không ngoài mục đích, trước tiên là thần thánh hóa chính ông ta để sau đó là mưu cầu tự lợi. 

 Ông Chơn-Quang nói : “Trong kiếp này thầy tu với Phật pháp, mà những điều thầy giảng hay thầy mở ra khá mới mẻ. . . và thầy mang cái tâm nguyện đó trở lại để đem những điều hiểu biết đến cho mọi người, nên trong cái thế giới đó có nhiều điều và chân lý sáng tỏ hơn là cái thế giới của cõi người mình”.

(Đáng lý chúng tôi phải trích nguyên cả một đoạn thuyết dài dòng văn tự của ông ta ra, nhưng nếu làm thế thì không còn nhiều chỗ trống để chúng tôi có thể viết).   

  a). Điều đáng nói ở đây là một vài năm trước, trong một cuộn băng ông ta nói về thế giới vô hình, ông thuyết : “Có nhiều điều khác mà nếu thầy do  học từ kiếp trước thì nó không có cái mới như vậy. Vì cái hệ thống, cái truyền thống của đạo Phật để lại từ bao nhiêu đời với những kinh điển như vậy, rồi đời này nối tiếp đời kia là như vậy, mà nếu những kiếp trước thầy cũng tu, thầy cũng nhiều đời thầy tu hành mà thầy học theo những điều đó như vậy (tức truyền thống ngàn đời của Phật giáo)   thì đời này thầy không có điều gì mới hơn cái truyền thống”.

Chỉ một câu nói ngắn ngầm ý chê bai đã được trích nêu, tự nó phơi bày cái tâm tà vạy, ngã mạn bị yêu ma nương gá nhằm phá hoại tín tâm của người nghe đối với Phật pháp, cũng như nói lên cái bụng phản phúc của ông ta đối với đạo Phật nói chung và Giáo hội Phật giáo nước nhà nói riêng, tức cũng là cái nôi, là bầu sữa ngọt, là miếng cơm nhai đầy dưỡng trấp từ chính miệng của Thầy, Tổ đã hết lòng yêu thương, bảo bọc, che chở, nuôi nấng, dạy dỗ ông ta từ tấm bé, khi còn chưa có tri thức.   Đến nay khôn lớn, thân tâm trong ngoài được tự do mà không còn bị ai kềm chế, nên ông ta liền trước ma trước tà mà khởi sanh cái tư tưởng cao ngạo, ngã mạn quay ra báng bổ, chê bai chân lý ngàn đời không thay đổi của Phật giáo, cũng là chân lý giải thoát tối thắng bất di, bất dịch, không dối, không sai, không khác của Thế-tôn.  

Oâng ta dám mạnh miệng nói rằng Phật học truyền thống y cứ theo kinh điển không có gì mới lạ, mà chỉ có chỗ   khám phá ra cái thế giới vô hình của ông ta là mới mẻ, tốt đẹp mà thôi.

Không tu theo Thiền-tông vì chê Đốn giáo của Lục-tổ Huệ-Năng và Pháp-Bảo-đàn kinh ( khi ông ta dám tuyên bố một cách trái ngược lời của Tổ, Phật rằng, không phải tự tánh vốn sẵn thanh tịnh mà mới thanh tịnh đây haø) , bịa đặt báng bổ “Mật-tông là đạo dâm đãng”, đánh giá “cõi Tịnh-độ của đức Phật A-di đà cũng chỉ là một cõi trời” ( nghĩa là ắc phải còn luân hồi sanh tử), lại không y cứ theo kinh điển mà tu (lời của ông ta tự bộc bạch), thế thì không biết ông Chơn-Quang đang là người gì đây? nói mình tu Phật mà là tu gì đây ? Tự nhận là Tăng trong Giáo đoàn thì ông ta là Tăng gì đây ?  

Những câu hỏi này xin dành cho độc giả Phật tử xem xét, góp ý và trả lời giùm cho ông ta vậy .   

Thưa ông Chơn-Quang ! Cái thế giới vô hình khác với cõi người, mà ông cho là  mới mẻ tốt đẹp đó, nó là cái gì, nếu chẳng phải cũng chỉ là huyễn thức, huyễn vọng, giả dối biến hiện chập chùng không dừng nghỉ, xuất sanh từ một hư tâm này ?  Cảnh giới của những cõi chúng sanh vô hình đó có phải đã thật sự rời lìa tất thảy các pháp tướng kết buộc trong hai hai bờ nhơn quả chưa, đã hoàn toàn tịch tịnh, đã vượt thoát khỏi nhị nguyên sanh diệt như lời Phật dạy, cũng là giải thoát khỏi sanh tử chưa?  

   *Nếu ông khẳng định rằng những cảnh giới mà ông đã được tiếp cận đó, dù bằng bất cứ hình thức nào: xuất hồn như những người chết đi rồi được sống lại mà ông đã ăn cắp ý tưởng trong quyển sách “Trở về từ cõi sáng” rồi tưởng tượng ra mà nhận làm của mình (như những năm trước đây ông đã thuyết), hay không xuất hồn mà ông tự trong nó ở những kiếp trước (như ông đã đính chính lại vừa rồi)   là cảnh giới đã hoàn toàn tịch tịnh, đã giải thoát thì ông đã hoàn toàn sai lầm. Lại chẳng những sai lầm cho chính bản thân ông đã đành, mà ông còn đưa dắt người khác vào chỗ sai lầm, tà kiến   như ông nữa.   Vì sao ?   Vì những gì ông mô tả nào là tốt đẹp, tôn ti trật tự, xét tội xét phước độ lượng và nghiêm khắc vv… thì tự chúng cũng đã nói lên đó chẳng phải là Niết-bàn thanh tịnh giải thoát của Như-lai,   chẳng phải là cứu cánh mà người tu Phật phát tâm cần cầu giải thoát. Vì sao nói cảnh giới vô hình của ông đó chẳng phải là cõi thanh tịnh ?   Vì những gì ông mô tả ra đó đều còn bị cột buộc trong chỗ khái niệm của nhị nguyên nhơn quả,  còn có hiện diện tất thảy các pháp tướng sanh diệt có không, thường đoạn của hai bên.

  * Bằng nếu ông khẳng định rằng, những cảnh giới vô hình mà ông tiếp cận đó chẳng phải là cảnh giới giải thoát rốt ráo của Như-lai, thì tự nó tố cáo rằng, từ lâu nay ông đã cố tình lập lờ đen trắng để thuyết tà pháp, nhằm dẫn dắt người vào ma đạo, đi ngược lại Giáo-lý giải thoát sanh tử của Thế-tôn, cố tình huỹ hoại Chánh-pháp Phật, cũng là cách củng cố cho ma nghiệp vậy.   Như thế, ông đã bị lật tẩy là kẻ núp bóng Phật để phụng sự cho ma vương Ba-tuần, cũng chính là “trùng trong thân sư tử ăn thịt sư tử” đúng như dự ngôn của Thế-tôn đã huyền-ký từ hơn hai ngàn năm trăm trước vậy.

 

Cái truyền thống ngàn đời không thay đổi kia của Phật-giáo, là y chỉ vào ba pháp tối thắng của Phật là Giới, Định, Huệ mà tu trì,  chính là ánh sáng tối  thượng, vô đẳng đẳng, không sai, không khác, cũng là những lời vàng của Thế-tôn để lại cho chúng sanh ngàn đời sau y theo đó mà tu hành để giải thoát tử sinh, cũng chính là chân lý, không thể có hai và cũng chẳng thể nào khác được. Vì hễ đi lệch hay đi ngược lại giáo lý giải thoát của Ngài, thì đó là pháp hành của ngoại đạo, tà thần, không chóng thì chầy cũng trước ma nghiệp vào thân hay nổi trôi, kết buộc vĩnh kỳ trong hai bờ của nghiệp thức nhơn quả vậy.

  b). Đến khi bị nhiều người lên án chỗ thuyết của ông ta là tà kiến, phi pháp, ngã mạn, cao ngạo, trước tướng, đi lạc ra ngoài giòng đạo pháp, cũng là đi ngược, làm ngược lại chân lý giải thoát tử sanh rốt ráo của Phật,   thì ông ta liền chống chế, chối bỏ tất cả những gì ông ta đã “thuyết”.

Trong một cuộn băng giải độc gần đây nhất, nhằm biện bạch cho chỗ thuyết tà vạy của mình, ông ta đã lấp liếm bào chữa :

“Mà cũng xin thưa rằng là có một lần chúng tôi có một bài giảng nói chuyện về thế giới bên kia, tức là thế giới siêu hình, thế giới cõi âm của những người đã mất. Cái việc mà nói chuyện về cái cõi cuộc sống ở thế giới siêu hình thì là điều mà đức Phật lập đi lập lại rất nhiều lần trong các bài kinh. CÁI VŨ TRỤ QUAN MÀ ĐỨC PHẬT DỰNG RA ĐÓ LÀ GỒM SÁU ĐƯỜNG, mà trong đó chỉ có cõi người và cõi thú là hai cõi thuộc về vật lý, còn bốn cõi còn lại thuộc về siêu hình toàn bộ.

Mà chẳng những như vậy, cái gọi là con đường mà là cõi Trời lại là rất phức tạp và nhiều cảnh giới nữa, cho nên cái vũ trụ quan mà nhất là về thế giới siêu hình, trong vũ trụ quan đó được từ chính đức Phật giảng thì cực kỳ phức tạp, mà ngoại trừ đức Phật và các vị A-la-hán chứng đạo. Người như chúng ta không thể biết được.  . . .. vv và vv”.

Hoặc : “ Nên điều đó không có gì lạ khi mà chúng tôi chỉ nói một số cuộn băng về vấn đề thế giới siêu hình, về những người cõi âm, những người đã mất thì hoàn toàn là điều phù hợp với đạo Phật và đức Phật cũng như cả với tinh thần khoa học”.

Chúng tôi chỉ cần trích ra vài đoạn thuyết ngắn của ông Chơn-Quang, trước và sau khi bị Phật tử lên án về cái thế giới vô hình của ông ta, mà hai lần thuyết cách nhau cũng không lâu, đủ cho chúng ta nhận xét, và đánh giá ông ta là người như thế nào.

Năm trước thì ông ta tự hào cho rằng, chỉ có ông ta mới thấy được, mới khám phá ra được và học hỏi được những điều hay lạ trong cõi của những chúng sanh vô hình, chứ nếu ông ta cũng cứ như bao người khác hành trì một cách chơn chánh theo kinh điển ngàn đời của Phật giáo, cũng là y theo lời Phật dạy mà tu hành thì làm sao ông ta có thể khám phá ra, dựng lập ra được cái gíao pháp mới mẻ này.

Nay bị Phật tử nêu ra chỗ tà vạy, ma thuyết, giả dối của ông ta, ông ta lại quay ngoắc một trăm tám mươi độ, và nói rằng “Phật cũng có lập đi lập lại nhiều lần cái cõi cuộc sống của thế giới siêu hình” !!!. “chỉ có đức Phật và các vị A-la hán chứng đạo thì mới thấy được những cõi vô hình đó, chứ người thường như chúng ta thì không thể thấy”.   Thật là cái lưỡi không xương nói sao cũng trơn tru tuột luốt. Lại nữa, chỉ trong một lần nói, mà trước thì ông ta nói có một lần thuyết về thế giới vô hình, sau đó lại nói có một số cuộn băng ông thuyết về chúng.   Rõ ràng là tiền hậu bất nhứt, không thể tin lời nói của   ông tà này được. 

Qua đoạn thuyết ngắn vừa trích nêu, hóa ra chính ông ta đã tự đề cao mình một cách quá đáng, như một vị A-la hán độc nhất vô nhị ở thế giới cõi người trong hiện đời, vì chính ông ta cũng thấy, cũng từng học hỏi những điều tốt đẹp ở trong những cảnh giới vô hình đó như các bậc A-la hán không khác. Có thể nói, theo cách suy nghĩ của ông ta, các vị A-la hán cũng còn thua Giáo chủ Chơn-Quang một bậc, vì những vị A-la hán này chỉ mới có thấy mà chưa tự thâm nhập để học hỏi được những điều hay ho, tốt đẹp mới mẻ như ông ta trong cái thế giới vô hình đó. Đồng thời “Giáo-chủ” Chơn-Quang cũng đã vô hình trung, phong thánh cho tất cả những người chết đi sống lại trong quyển sách “Trở về từ cõi sáng” đều là A-la-hán tất thảy. Bỡi vì như ông ta đã nói, chỉ có Phật và những vị A-la hán chứng đạo mới thấy những cõi vô hình này, mà những ông A, bà B, em C trong quyển sách “Trở về từ cõi sáng” cũng đã từng thấy, từng ở trong đó như ông La-hán Chơn-Quang không khác, thì , theo cách suy nghĩ của ông ta, họ chẳng phải A-la hán thì là gì đây? 

Cũng may là những người chết đi sống lại trong quyển sách “Trở về từ cõi sáng” kia chỉ nói ra những gì chính tự mình thấy biết một cách thật sự, không ngoa dối trong lúc xuất hồn, giữa cái sống và cái chết, mà không làm cái việc ma quái như ông Chơn-Quang đã làm, là dựng lập ra một cái “Giáo phái mới mẻ” để đưa dắt chúng sanh vào trong cõi này. Chứ ai cũng như ông Tổ-sư phịa này thì cái thế giới loài người nhỏ xíu này ắc không biết có bao nhiêu là Giáo-phái mới mẻ, và đi kèm theo đó là bấy nhiêu Giáo chủ như ông Chơn-Quang. Đến lúc đó, chỉ có Giáo chủ đánh nhau với Giáo chủ để giành giật tín đồ thôi, chắc cũng đủ làm cho cái quả đất bé tẹo này vỡ toan mất.

Ông Chơn-Quang thuyết “ Mà chẳng những như vậy cái gọi là con đường mà là cõi trời đó lại là rất phức tạp và nhiều cảnh giới nữa, cho nên cái vũ trụ quan mà nhất là về thế giới siêu hình, trong vũ trụ quan đó được từ chính đức Phật giảng thì cực kỳ phức tạp”. 

Chỉ một câu thuyết ngắn của ông Chơn-Quang ở trên cũng đủ làm cho nhiều người kém trí tuệ như chúng tôi phải tẩu hoả nhập ma, điên điên khùng khùng  hết, nếu có ai đó dại dột động não suy nghĩ  để tìm hiểu xem “chân lý” gì mà ông ta muốn nói trong câu thuyết “lừng khừng” này, mà chính tự ông ta cũng không hiểu mình muốn nói gì?  

Thưa ông Chơn-Quang.   Cái giọng điệu bịa đặt, tưởng tượng, lấp liếm của ông khi lập đi lập lại các từ “rất phức tạp, cực kỳ phức tạp” làm cho chúng tôi liên tưởng tới mấy anh dốt, tối tâm dốt chữ nói mà không biết mình nói gì , nên cứ dùng từ rất phức tạp, cực kỳ phức tạp cho xong chuyện.

Đối với Phật mà có gì phức tạp đâu mà ông bịa là “Trong vũ trụ trụ quan đó được từ chính đức Phật giảng thì cực kỳ phức tạp”?

Do ông bịa chuyện phong thần để lừa người nhẹ dạ, người không biết gì để trục lợi cho tự thân ông, mà ông hoàn toàn không ngờ những gì ông nói ra đó sẽ có lúc bị người ta lật tẩy, chứ với trí huệ Phật, dẫu có trăm vạn muôn ngàn ức na do tha cảnh giới chúng sanh trong các cõi nước khác nhau, thì Ngài dùng trí huệ   mà nhìn thì thấy rõ, biết rõõ tất thảy một cách chân thật. như nhìn chính bàn tay của Ngài.

Ông chỉ có cái miệng nói càn mà không có chút trí huệ nào để có thể thâm nhập “một” cùng với cốt tủy của Phật pháp, cũng là sáng tánh Bát-nhã . Chứ một khi ông tự một với tánh này, thì dẫu ông có thuyết sao cũng không có chỗ trật, vì tất thảy đều tự “như” trong ông, chẳng gì trói buộc, dính dấp tới ông.  

Oâng không biết rằng, Phật đã từng dạy : “Này Tu-bồ đề ! ý ông thế nào? Như dùng số cát trong một sông Hằng mà làm thí dụ.  Có những sông Hằng khác nhiều bằng số cát ấy. Rồi có các thế giới của chư Phật nhiều bằng số cát của những sông Hằng ấy, như thế, những Phật thế giới kia có nhiều chăng ?

“- Bạch Thế-tôn !  Rất nhiều .           

Phật bảo Tu-Bồ đề : “ Những chúng sanh trong các hằng hà sa số (na do tha) quốc độ ấy, có bao nhiêu thứ tâm, Như-lai đều rõ thảy. Bỡi cớ sao? – Như-lai nói cả thảy tâm, đều chẳng phải tâm, chỉ tạm cưỡng gọi là tâm mà thôi. Bỡi cớ sao ? Này Tu-bồ đề :

-          Tâm quá khứ chẳng có chi mà được. Tâm hiện tại chẳng có chi mà được. Tâm vị lai chẳng có chi mà được”.  Kim-Cang kinh.

Tam thiên đại thiên thế giới, đối với Phật nhãn, cũng là trí huệ Phật, cũng chẳng phải là thế giới thật có, mà chỉ tạm cưỡng gọi là thế giới mà thôi. Đến tâm chúng sanh trong tất thảy các cõi Phật thế giới đó, Thế tôn đều biết rõ, vì  chúng chỉ là tướng giả huyễn, hư vọng, biến hiện mà chẳng phải chân thật, nên chỉ tạm cưỡng gọi là tâm mà thôi.

Hễ chợt sáng bổn tâm, tỏ ngộ tự tánh, thì liền có chỗ thấy biết vạn pháp đều tự như với tánh sáng chơn thật tự sẵn có của Phật tâm. Bằng chưa được thế, thì chỗ nói hay nín đều là vọng, không chân thật.

Cho nên, trong bài thuyết của ông, ông có đề cập tới chỗ thấy biết của khoa học. Nhưng khoa học là gì, nếu chẳng phải đó cũng chỉ là tướng huyễn giả của tri thức bậc cao? Mà đem chút tri thức huyễn giả còn kết buộc với sanh tử mà nói chỗ chân thật, phi khái niệm thì làm sao có thể với tới?

Ông Chơn-Quang, đối trong chỗ sáng tâm tỏ tánh còn chưa là gì cả, thế mà ông ta dám vọng ngữ, nói rằng trong vũ trụ quan đó được từ  chính đức Phật giảng thì cực kỳ phức tạp !.

Do trình độ học Phật của ông chưa tới đâu cả, vả lại thân tâm luôn trong chỗ vọng động, tham trước sự tướng, nên bị ma nương gá, làm theo tà đạo ma pháp, tự mình xa lìa kinh điển là những lời dạy chân thật của Thế tôn, là chân lý giải thoát, nên ông ta càng ngày càng xa lìa Chánh-pháp, cũng là càng dấn sâu vào ma nghiệp.

Đã thế, ông còn dùng cái đầu không có một chút trí huệ giải thoát nào,  mượn cái miệng bị ma nương gá mà thuyết tầm bậy tầm bạ, không chỗ dính dấp tới đạo lý giải thoát sinh tử của Phật môn, làm cho tâm chúng sanh càng thêm điên đảo.  

Thật tình, tới giờ này chúng tôi cũng không làm sao có thể hiểu được, một người không biết gì về giáo lý giải thoát của Phật, đi lạc một cách quá rõ ràng ra khỏi giòng đạo pháp như ông Chơn-Quang, mà cũng có chỗ, có nơi mời thỉnh ông ta thuyết, cũng như cho phép ông ta làm cái việc gọi là giảng Pháp Phật, lại cũng có người khen ông ta thuyết pháp hay nữa, thật là chuyện hoang đường, không thể tưởng tượng nổi.  

Chứ với chúng tôi, tất cả những gì lâu nay ông ta thuyết, một số là tà pháp như đề cao cái thế giới vô hình mà ông ta đọc trong sách rồi góp nhặt làm của riêng, rồi dựng lập ra cái gọi là “Giáo pháp mới mẻ”, không ngoài mục đích tự đề cao mình để trục lợi . Một số là thuyết giảng đầy trói buộc các pháp thế gian, mà phàm phu ai cũng đã biết hết rồi.   

Thật ra, nếu chúng tôi không nêu tên quyển sách “Trở về trừ cõi sáng”, thì ắc hẵn ông này cũng lờ luôn cái chuyện góp nhặt, đánh cắp ý tưởng trong sách rồi dựng lên cái thế giới vô hình của ông ta.

Nay bị các tri thức lên án mạnh mẽ, ông ta mới lòi ra cái việc làm không hay của mình để chối tội, rằng cũng có nhiều người thấy cái thế giới vô hình đó chứ đâu phải chỉ riêng ông ta, nào là vũ trụ quan ấy rất phức tạp, cực kỳ phức tạp  vv…. Oâng ta nói mà thật ra không biết mình nói gì, thật tội nghiệp!  

Oâng phải biết rằng, địa vị của ông luôn luôn khác với những người chết đi sống lại trong quyển sách “Trở về từ cõi sáng”. Chúng tôi không bao giờ tuyên bố hay có ý nghĩ là những người ấy nói dối, hay ngoa ngụy để trục lợi, mà có thể họ hoàn toàn nói ra sự thật, thấy sao nói vậy, trong lúc tâm thức của họ đến đi theo nghiệp lành dữ dẫn dắt trong khoảng giữa của cái sống và cái chết. Tuy nhiên, chỗ thấy này cũng vẫn không ra ngoài kết buộc với nhị nguyên nhơn quả, câu hữu với vô minh vì chưa kiến tánh. Chỗ nói ra của họ cũng chỉ là thể hiện từ tâm, nói lên chút kinh nghiệm tâm linh để người khác cùng biết mà giữ mình, chứ đó chẳng phải là cứu cánh giải thoát, Niết-bàn tịch tịnh của Phật gia.  

 Điều chúng tôi muốn nói ra ở đây là với tư cách một Điều ngự tử, bản thân ông ta không nên hay không được tuyên truyền những “Giáo pháp mới mẻ” đi ngược lại, làm ngược lại giáo lý Giải thoát chân thật, rốt ráo của Phật, mà một đệ tử xuất gia thuần thành, chân chính không bao giờ được phép làm như thế.

Trong kinh Di-giáo, Phật đã dặn dò các Tỳ kheo đệ tử của Ngài một cách rõ ràng minh bạch, trước lúc Ngài Đại-Niết-bàn :  

“Nhữ đẳng Tỳ-kheo, thường đương nhứt tâm, cần cầu xuất đạo. Nhứt thiết thế gian, động bất động pháp, giai thị bại hoại, bất an chi tướng”.

Các Thầy Tỳ-kheo, phải thường nhất tâm, cần cầu tỉnh giác.   Toàn thể vũ trụ, dù là  pháp động, hay pháp bất động, đều là các tướng, tan rã bất an”.

Thế-tôn đã dạy như thế, thì cái thế giới siêu hình hay vô hình tốt đẹp mà ông Chơn-Quang đã thuyết để dẫn dụ chúng sanh vào trong đó, có phải là cảnh giới tịch tĩnh của Phật chưa hay cũng chỉ là tướng bại hoại, tan rã của các pháp tướng hư vọng, giả dối, không thật đây?.

Do ông chỉ biết tu tướng, tu hình thức mà ông mới bị mê lầm và dẫn dắt người khác  cùng vào chốn mê lầm sanh tử như ông, chứ nếu ông biết nhứt tâm cần cầu tỉnh giác, thì  đâu đến nỗi phải chịu búa rìu dư luận như ngày hôm nay.

Oâng Chơn-Quang phải nên hiểu một điều này. Tà mị, ma giáo, thế giới vô hình, hữu hình gồm chung cũng đều là các pháp tướng tương đối của thế gian (nhị nguyên sanh diệt) . Vì tất thảy những pháp này đều từ một vọng tâm sanh diệt  mà có biến hiện ( Nhứt thiết chư pháp giai tùng tâm sanh – Tất thảy các pháp  biến hiện, có không, còn mất đều do tâm sanh ).  

Nhưng chân lý giải thoát rốt ráo thì chỉ một.   Thế nào là chân lý của Phật đạo?   Tức chỗ thấy biết chơn thật đồng một với chơn tâm, chơn tánh, đoạn lìa sanh tử, viễn ly phiền não, không lầm nhơn quả vậy.     

Do vọng niệm điên đảo mà ông phải, nay nói thế này, mai nói thế khác, cũng không ngoài mục đích tô đắp, che phủ, nuôi lớn và bảo vệ cái bản ngã, cũng là cái vọng tâm và cái huyễn thân hư dối của ông   vậy. Mà đó cũng chính là nghiệp thức trả vay trong nhân quả ông phải đeo mang.

Chứ người mà đã có chỗ thấy biết như thật, biết thế nào là chân lý giải thoát của Như-lai, nghĩa là đã sáng bổn tâm, tỏ tự tánh, luôn luôn trong trạng thái tỉnh giác, cũng có nghĩa là tự sống một với chánh niệm, cũng là trọn trong chơn tâm sáng trong vô nhất vật, thì chỉ có một cái thấy biết chơn thật mà thôi, và lời nói của họ luôn luôn không hai, không khác, không dối, không hư, mà tự như như với vạn pháp.

 c).   Phật không bao giờ dựng ra vũ trụ quan và sáu đường cả.

Oâng Chơn-Quang thuyết : “Cái vũ trụ quan mà đức Phật dựng ra đó là gồm sáu đường”.

Thưa ông, Phật chưa từng, chưa bao giờ dựng ra cái vũ trụ quan nào, và sáu đường nào cả. Vì đối với Phật, vạn pháp đều tự như trong tánh Phật. Oâng đã hoàn toàn sai lầm khi xem Phật như là một thần quyền tối cao nào đó có phép thần thông biến hóa, dựng lập thế gian và các cõi thế giới khác. Phật hoàn toàn chẳng phải như chính miệng ông đã nói ra và gán cho Ngài, mà đó là lời của ma nói vậy.   

Phật đạo không phải là một đạo thần quyền, có đấng tối cao dựng nên trời đất, vũ trụ, làm chủ vũ trụ hay dùng năng lực của thần quyền mà làm tội hay ban phước cho ai cả. Phật là giác ngộ lẽ thật, là sáng mê để có thể dùng tuệ giác mà nhìn thấy vạn pháp hư giả của vọng tâm sanh diệt, mà Tánh Phật luôn tự như cùng vạn pháp.

Chính vì thế mà Phật đã không ít lần tuyên thuyết : “Như-lai nói các vi trần đó, chẳng phải thật là các vi trần, chỉ tạm cưỡng gọi (giả danh)   là vi trần mà thôi. Như lai nói thế giới đó, tức chẳng phải thật thế giới, chỉ tạm cưỡng gọi là thế giới mà thôi”.   Kim-Cang Kinh.

Đến đây thì chắc ông Chơn-Quang đã nhìn rõ, thấy rõ chỗ tà kiến, phi pháp của mình rồi, cũng như lối thuyết pháp đi lạc ra ngoài giòng đạo pháp do tự mình không nhận ra chánh kiến giải thoát, một trong Bát-Chánh đạo   vậy.

Việc những người chết đi sống lại, kể lại trạng huống của tâm thức lúc xuất hồn, giữa cái sống và cái chết, đối với chính những người ấy, còn có thể chấp nhận được; vì dù sao, họ cũng chẳng phải là những Thích tử xuất gia, có nhiệm vụ chăn dắt và hướng dẫn chúng sanh thật hành chân lý giải thoát của Phật. Với những người này, có sao họ nói vậy, ai nghe thì nghe, không nghe thì thôi, vì dù sao, những lời kể đó cũng chỉ có thể được xem là những kinh nghiệm của tâm linh mà không phải là cứu cánh của Phật đạo.

Còn đối với một Tỳ kheo đệ tử của Phật, thì việc tuyên thuyết những chuyện xuất hồn đại loại như vậy, hay bịa đặt ra cái chuyện không phải ông ta xuất hồn mà đã từng tu học ở trong đó như ông đã thuyết, thì hoàn toàn không thể chấp nhận được. Vì sao ?    Vì đó chẳng phải là điều mà một Tỳ kheo nên nói, vì nó đi ngược lại chân lý giải thoát của Như lai vậy.

Chừng nào mà ông Chơn-Quang còn thuyết những pháp tà của thế giới vô hình, chúng tôi còn có tiếng nói với ông ta, nói cho tới khi nào ông sáng mắt ra thì thôi, nhất là để cảnh giác những người sơ cơ trước ngưỡng cữa của đạo pháp, khỏi lầm rơi vào ma nghiệp.

bullets08.gif - 0.2 K Chướng Ma Đời Mạt Pháp – Bài 9
bullets08.gif - 0.2 K Chướng Ma Đời Mạt Pháp – Bài 8
bullets08.gif - 0.2 K Chướng Ma Đời Mạt Pháp – Bài 7
bullets08.gif - 0.2 K Chướng Ma Đời Mạt Pháp – Bài 6
bullets08.gif - 0.2 K Chướng Ma Đời Mạt Pháp – Bài 5
bullets08.gif - 0.2 K Chướng Ma Đời Mạt Pháp – Bài 4
bullets08.gif - 0.2 K Chướng Ma Đời Mạt Pháp – Bài 3
bullets08.gif - 0.2 K Chướng Ma Đời Mạt Pháp – Bài 2
bullets08.gif - 0.2 K Chướng Ma Đời Mạt Pháp – Bài 1
bullets08.gif - 0.2 K Nghe phần âm thanh
bullets08.gif - 0.2 K Trích đoạn những bài giảng của “sư” Chơn Quang
bullets08.gif - 0.2 K Trang Quan Điểm của độc giả
bullets08.gif - 0.2 K Trang Chính