chuongma.jpg - 36.0 K
(Unicode fonts)

Vài nhận xét về những bài "giảng pháp"
Của Sư Chơn-Quang.

Bài I



Ðọc xong một mạch hết 17 trang giấy in khổ A-4, chép lại lời của cái được gọi là "những bài giảng thuyết" của "sư" Chơn-Quang, tôi vẫn còn ngờ, còn hồ nghi, còn chưa tin ở mắt mình, nếu không muốn nói là tôi đã thật sự kinh ngạc, một bất ngờ kinh ngạc như chưa từng bắt gặp.
Uống liền một hơi cạn sạch ly nước lọc lớn, tôi ngồi lặng yên thong thả để tìm lại sự an tĩnh thường nhật.
Một hình ảnh của ngày xa xưa, hai mươi lăm thế kỷ rưỡi qua mà như hiện tiền sống động .
"Khi đức Thế-tôn sắp Ðại-Niết-bàn, Ngài triệu tập các Ma-vương lại và dạy : - "Các Ông từ ngay lúc này trở đi phải an trụ trong giới luật, chớù nên hủy phạm giới cấm".
Ma vương bèn trả lời Phật : "Thế Ngài muốn chúng tôi phải nhứt thiết tuân thủ và thật hành giới luật do tự Ngài đặt ra hay sao? Ðược thôi! Hãy cứ đợi đến thời mạt pháp, tôi sẽ đắp y của Ngài, ăn thức ăn của Ngài, rồi đại tiện vào bình bát của Ngài đó".
Nghe Ma-vương đáp như thế, đức Thế-tôn nói : "Thế thì chẳng còn cách nào để có thể cứu giúp các Ông, bỡi cách hành xử của các Ông quá tàn độc".
Ma vương trong chỗ ác tâm, đối trước Phật, đã trả lời Ngài như một lời nguyền tàn độc, hại mình hại người không hơn không kém.
Phật xót xa bảo cùng đại chúng như một dự ngôn, một lời tiên tri chính xác ắc phải xảy ra ở tương lai, trong đờøi mạt pháp : "Chính trùng trong thân sư-tử ăn thịt sư-tử vậy".

Giờ này, hai ngàn năm trăm bốn mươi năm dư sau khi Phật diệt độ, là thời kỳ đầu trong đời mạt pháp (pháp ngọn) cách xa gốc Chánh-pháp (thời Phật tại thế và sau Phật diệt độ khoảng năm trăm năm) từ lâu rồi, nên nay cũng chính là thời của ma vương khởi sự hoành hành để mong chống Phật, phá pháp như lời nguyền tàn độc trước đây của chúng : "ăn cơm Phật, mặc áo Phật để rồi quay lại huỷ phạm Giáo-luật, chống Phật phá pháp" cũng là "trùng từ trong thân sư tử ăn thịt sư tử". Bỡi vì nếu không chống phá Phật-pháp tới cùng, không làm cho ngôi nhà Tam-bảo suy vi bại hoại, thì còn chỗ nào có thể làm đất đứng cho ma vương và đồ chúng của nó tồn tại và phát triển.

Nhìn tổng quan cây cổ thụ Phật giáo vĩ đại, chúng ta có thể hình dung từ lúc Phật khởi chuyển bánh xe pháp cũng là lúc cái gốc Chánh-pháp Phật được hình thành, phát triển và trụ vững chắc trong cõi này suốt năm trăm năm sau đó. Ðến đời tượïng pháp trở đi, tuy Phật giáo cũng có lúc suy vi, lay động theo từng thời kỳ, từng quốc độ, từng giai đoạn phát triển của lịch sử nhân loại, nhưng Chánh-pháp Phật vẫn tồn tại vững vàng không dễ gì có thể lay chuyển, xô ngã nó được.

Ðến nay, tuy là thời cực thịnh của Ma-vương, nhưng tất cả những việc làm của chúng đều không ra ngoài dự ngôn của đức Thế-tôn từ hai ngàn rưởi năm trước, và những người con Phật chơn chánh trong chúng ta đều rất sáng suốt ghi nhớ huyền ký của Ngài mà tự cảnh giác, nên không dễ gì Ma vương và đồ chúng của nó có thể đánh lừa nổi.

Bằng chứng là trong thời gian qua, những bài thuyết giảng Ma đạo có tính cách chống Phật phá pháp đã bị những người con Phật thuần thành vạch mặt chỉ tên trên mọi phương tiện, để buộc chúng phải ngậm miệng.

Ðọc qua 17 trang giấy tích cực "bài Phật, chống pháp" của "sư" Chơn-Quang, cũng như bài viết phản bác ngôn-hạnh "sư" C.Q của Ð.H Pháp-Chánh, chúng tôi nhận thấy Ðạo-hữu Pháp-Chánh đã từng phần một phân-tích rất sâu sắc, nói lên gần như đầy đủ những gì cần phải nói, để cho "sư" Chơn-Quang có cơ dòm lại mà thành tâm sám hối, trở lại bắt đầu từ chỗ bắt đầu để đi trên con đường chơn chánh của Ðạo pháp, đồng thời cảnh tỉnh những người nhẹ dạ, non nớt trót nghe theo những lời thuyết giảng phỉnh phờ, xằng bậy, phi pháp, tà kiến của "sư" Chơn-Quang, hãy nên sớm nghĩ lại, kẻo vì sự vô tình, vì sự không biết của mình mà phải bị "sư" đưa dắt vào đường ma lối quỉ, đọa lạc trong ác đạo, tam đồ.

Nhằm mục đích làm sáng tỏ Ðạo-pháp, cũng như chỉ ra những kiến chấp sai lầm và luận điệu xuyên tạc, chống phá Phật pháp trong những bài giảng của "sư" Chơn-Quang, chúng tôi xin góp tiếng nói chung với Ð.H Pháp-Chánh và với tất cả những ai có lòng từ ,không thể ngồi nhìn chúng sanh vì vô tình, vì nhẹ dạbị "sư" C.Q dẫn dắt vào mê lộ vĩnh kỳ của Ma-đạo mà không gióng lên tiếng chuông để thức tỉnh.

Tôi chỉ là một Phật tử tu tại gia, bình thường như bao người con Phật khác trên thế gian này. Còn nếu nói cho rõ hơn thì một phần hai thế kỷ của nửa cuộc đời sau lưng, tôi như một lãng tử phiêu bồng, một giang hồ lữ khách lang thang khắp nẻo để kiếm tìm mà không thấy đâu là quê hương xứ sở, không tự biết thật chính mình là ai, đang làm gì, đang ở chỗ nào, và đi về đâu, cũng như hoàn toàn không biết gì về đạo Phật. Hình ảnh một chiếc lá trên giòng sông mênh mang cuồn cuộn không bến bờ, với tôi trước đây, hoàn toàn không sai khác. Tôi thật sự qui y Tam-bảo, làm cư sĩ tại gia tu Phật khi vừa tròn năm mươi tuổi. Ðiều đó cũng có nghĩa là thời gian tôi đến với giáo-pháp của Như-lai so với những người tu Phật khác, quả là ít ỏi, một kẻ sơ cơ trước thềm đạo pháp.

Thế nhưng, đối với cái được gọi là "những bài giảng thuyết" có tính cách xuyên tạc, cố ý bôi nhọ, làm bại hoại giáo pháp của "sư" C.Q tôi không thể nào ngoảnh mặt làm ngơ, mà muốn có đôi lời góp ý để làm sáng tỏ vấn đề.

Ðọc hết những trích đoạn các bài "giảng thuyết" của "sư" Chơn-Quang, trong chỗ tự chơn-thật với lòng mình, tôi không biết phải gọi "sư" là gì, nghĩa là cái "nhân-cách, danh xưng đại danh-từ" của "sư", phải gọi là gì cho thích hợp.

Sở dĩ tôi cần đặt vấn đề này ở đây, là phải có tên gọi, vì tên gọi đó sẽ được đề cập nhiều lần trong các bài viết.

Từ khi đọc qua những trang trích đoạn các bài "giảng thuyết" của "sư", tôi mới thử tìm đến các chuà lớn như Aán-Quang, Vạn-hạnh … để xem, thì thấy các nơi này có bày bán rất nhiều các cuộn băng cassette do sư giảng thuyết. Thế là bỏ tiền mua vài cuộn. Tựu trung những lời nói và ý nghĩa trong băng từ cũng không khác những gì đã được trích in trên giấy. Phải thật cẩn thận như thế mới không bị nhầm lẫn. Vì hễ nhầm lẫn là tự hại mình và vô tình hại người, cũng là việc tự gieo oan trái vậy.

Nếu gọi là "Chơn-Quang" trống không, tôi thấy áy náy quá, vì làm thế có khác nào mình tự miệt thị mình, vì không trọng người cũng có nghĩa là hành động thiếu tự trọng.

Còn nếu xem mặt để bắt hình dung, thì có lẽ bề ngoài "sư" C.Q cũng giống như bao đệ-tử xuất gia của Phật, nghĩa là cũng đầu cạo, cổ chuỗi, aó chùng nâu. Nhưng khổ nỗi, nếu trong chỗ "xem văn biết người" mà vẫn cứ gọi "sư" C.Q là Sư, là Thầy, Tăng, Tỳ-kheo, Xà-lê vv…, thì cũng không được, bỡi lẽ với riêng tôi, một tiếng Tăng, Xà-lê, Tỳ-kheo, Thầy hay Sư … vừa lìa khỏi miệng mình, hay lọt vào tai mình, thì ngay đó trước mắt là hình ảnh thanh tịnh, sáng trong mênh mang không gốc gác, một bản sao của Phật rổng rang, không dấu tích. Mà với "sư" C.Q thì ngược lại, "xem văn, nghe tiếng, biết người", từ đầu đến chân đều là những nút thắc tự mình trói buộc trong chỗ tận cùng của nhơn quả. Thế thì làm sao có thể gọi là Thầy, là Tăng, hay Sư… trong chỗ tự tâm thật sự tôn kính cho được. Cho nên cuối cùng, tôi quyết định gọi bằng Ông, tiếng Ông trong chỗ bình đẳng, chúng sanh với chúng sanh, người với người trong suốt bài viết này vậy.

Chúng tôi không cần biết Thầy của Ông C.Q là ai, tên tuổi ra sao, còn hay mất như Ông từng có đề cập trong những bài giảng, nhưng có một điều chắc-chắn rằng, nếu Thầy Ông mà nghe được hay đọc được những bài "thuyết giảng" của Ông, thì ắc phải khóc to ba tiếng vì uất ức, rồi dập đầu dưới chân Phật mà cầu sám hối vì đã trót nuôi dạy một đệ tử quá tối tăm, đã bôi tro trét trấu vào mặt Sư-phó, làm nhục tông môn, một tên phản đồ có cỡ làm bại hoại chánh pháp, làm nhơ uế chốn thanh-tịnh của Phật.

Vì tôn trọng tiếng nói chung, chúng tôi đành phải đưa ra đây nguyên văn từng đoạn thuyết giảng của Ông, để làm rõ ý Ông muốn gì, cũng có nghĩa là nói phải có sách, mách phải có chứng, mặc dù những phần này Ð.H Pháp-Chánh cũng đã có trích dẫn. Ở đây chúng tôi chỉ làm một công việc là bổ túc thêm những gì mà Ð.H P.C chưa kịp nói ra .

Ông C.Q nói : "…Ðạo Phật qua hơn 2500 năm, kinh điển đã bị thêm thắc vào rất nhiều, bị nguỵ tạo rất nhiều, có những bài kinh hoàn toàn không phải Phật thuyết mà người ta mượn danh là Phật thuyết, rất nhiều rất nhiều. …mà tôi không muốn nêu đích danh; tôi nêu đích danh thì ở đây quí cô sửng sốt hết, tức là những bài kinh mà nhiều khi quí cô đang tôn thờ, đang tụng hằng ngày, tới chừng hiểu ra thực sự không phải Phật thuyết, do người sau đưa vào. Mà 600 năm sau, l000 năm sau Phật tịch những bài kinh đó mới bắt đầu có, đây là điều rất khủng khiếp khi mà chúng ta biết được; hồi xưa tôi cũng vậy vì tôi tu theo Bắc tông Ðại thừa mà, vì mình tin kinh nào cũng Phật thuyết cho đến khi Thầy tôi bảo sự thật không phải như vậy (*a) . Có nhưng bài kinh mà người sau đã nguỵ tạo đưa vào, nói là Phật thuyết chứ không phải là Phật thuyết. Tôi nghe tôi sửng dửng, tôi choáng váng hết trơn, tôi tái mặt hết trơn. …nó làm cho tôi bàng hoàng hết, nó là một sự thật quá phũ phàng đi, nhưng mà nhờ thầy mình là người mà mình tin được vì có uy tín, cho nên lần lần tôi bình tĩnh lại, tôi chấp nhận điều đó, sau đó mới tìm hiểu lại với Giáo lý đạo Phật, đây là điều rất đau lòng.( *b)

Bây giờ tôi nói một điều, nói nho nhỏ các cô đừng đi ra ngoài nói…

Có những cái không có tác giả viết mà cứ gán cho là Phật thuyết như kinh Ðịa-tạng. Nhưng mà vì nói được tôị phước nên cái ý trong đó cũng hay, nên nhiều kinh sau này họ soạn ra đó không phải Phật thuyết nhưng mà ý cũng rất là hay chứ không phải không. Ví dụ bộ kinh Bát-nhã tư tưởng rất là hay, …. Những bộ luận của ngài Long-Thọ tuyệt vời.(*c)

Ðọc qua những giòng gạch dưới trong phần trích dẫn, chúng tôi nhận thấy :

a). Vì tâm trí tối tăm, trói buộc nên Ông C.Q đã hoàn toàn hiểu sai lạc tâm ý và lời nói của Thầy mình về một sự thật hiển nhiên không ai chối cãi, mà Ð.H Pháp-Chánh đã có trình bày. Và cũng chính từ chỗ bộp chộp, học hỏi không đến nơi đến chốn, nghe một đàng hiểu một nẻo, thấy biết lệch lạc, cộng với cái tâm tham dục đang lẫy lừng trong Ông mà Ông đã đem miệng mồm ra diễn giải, nói năng lung tung không ngoài mục đích dương danh với đời, lại gặp cơ hội được hùn gió bẻ măng, mưu danh đoạt lợi. Mà mục đích cuối cùng này, trước mắt Ông đã thành công rồi vậy, vì lợi Ông đã tự sẵn chỗ "có" mà Ông thì biết hơn ai hết, còn tiếng tăm Ông thì không ai còn xa lạ gì qua những bài diễn giảng "ma thuyết" của Ông.

b). Ông nói rằng nhờ thầy mình nói ra mà Ông tin, vì thầy có uy tín. Ðiều đó có nghĩa là Ông chỉ biết tin những gì tai Ông trực tiếp được nghe, mắt Ông ngay đó được thấy; còn Tổ, Phật và Pháp thì đều xa lơ xa lắc ở tận đâu đâu, mắt Ông không thể thấy, tai không trực tiếp được nghe Phật nói, Tổ cũng chẳng hiện diện trước mắt nên Ông không tin, Ôâng nghi ngờ.

Thưa Ông Chơn-Quang! Tên Ông có nghĩa là "ánh sáng chân-thật", cũng có nghĩa là "cùng tột trong trẻo rổng rang",thế mà chính thân tâm Ông tự thể hiện qua những bài "giảng thuyết"thì hoàn toàn tối đen, nặng trịch như một thùng dầu hắc trong chỗ tánh sáng đó. Ông hoàn toàn trói buộc, vướng mắc trong pháp tướng sanh diệt. Ông chỉ biết dùng cái tai để nghe mới tin, dùng con mắt để thấy mới tin, dùng cái âm thinh từ miệng thầy mình dội vào lỗ tai Ông mà Ông tin, nhưng Ông đâu có hay biết rằng ngay cái tai, con mắt, cái miệng cho đến cả cái thức ý đang trôi chảy, tiềm tàng trong tấm thân bảy tám chục ký-lô mà Ông đang đeo mang đó, tất thảy chúng đều là huyễn giả, hư vọng. Thật tướng chúng đều như huyễn hoá, không chơn thật; Thật tánh chúng đều như chơn không, thế thì Ông lấy cái gì mà Ông tin, và Ông để cái tin đó vào đâu? Ông nói Ông dùng lý trí chăng ? Lý trí nó là cái gì, nếu chẳng phải cũng chỉ là giòng vọng thức tương tục trong chỗ biến hiện, có đến đi, còn mất trong cái tâm hư vọng và cái vỏ ngoài huyễn hoá của Ông thôi.

Thưa Ông Chơn-Quang! Chỉ cần đọc một trích đoạn nhỏ hoàn toàn trước tướngnêu trên, tôi đã rõ tõng một điều rằng Ông chưa thực sự tự biết mình chính thật là ai, đang làm gì, nói gì; mà đã không tự biết thật ai đang làm ai đang nói đó, nghĩa là mắt tâm chưa mở, thế mà lại dám đứng ra làm cái việc đại sự là thuyết pháp. Ôi ! Ông thật là bạo gan, đúng là điếc không sợ súng.

Ngày xưa một tăng nhân chỉ đáp sai một chuyển ngữ vì còn chút xíu dính mắc nhơn quả nhị nguyên mà phải bị đọa lạc làm năm trăm kiếp chồn hoang. Còn Ông trong thời này thì "đăng đàn thuyết pháp", nói lung tung, nói linh tinh mà chính Ông cũng không tự thật biết mình là ai, đang nói gì, cũng như pháp gì mà mình đang nói đó. Thật đáng thương cho Ông, bỡi chính Ông đang tự trói buộc và đang dìm sâu chính mình vào chỗ tận cũng nhơn quả, kết buộc trong từng ý nghĩ, từng lời nói có chủ đích phỉnh phờ, lừa người và chống phá đạo pháp để mưu cầu lợi danh, thoã mãn bản ngã. Chỗ này thì tự chính Ông hiểu rõ hơn ai hết!

Ông có biết thế nào là thật nghĩa của sự thuyết pháp không? - Bỡi trong đây Ông có khen câu "Bát-nhã rất hay" nên tôi nói Bát-nhã cho tương thích với ý Ông vậy. Không một pháp có thể thuyết, đó là chơn thuyết pháp (Vô pháp khả thuyết, thị danh thuyết pháp - Lời Phật- Kim-Cang kinh).

Chỉ ngay trong chỗ không một pháp khởi sanh, không một pháp khởi diệt, trọn trong một niệm mà trước niệm không sanh sau niệm không mất, chỉ ngay tự chỗ đó chính là chỗ diệu thuyết, là chơn thuyết, cũng là chỗ "diệu thính pháp", thì Phật đạo tự hiển lộ chơn thật, dung thông. Có nghĩa là ngày xưa, Thế tôn trong suốt bốn mươi chín năm nói pháp mà môi Ngài không hề động. Chư đệ tử dưới đạo-tràng Phật nghe pháp mà không một pháp có thể nghe, tất cả đều đắc pháp. Ðó là điều hoàn toàn chơn thật, là chân lý tuyệt đối, vì nếu khác đi thì chẳng phải là Phật pháp, chẳng phải là chơn thuyết pháp Phật. Vì sao? Vì chỉ tự trong chỗ "chẳng phải pháp, cũng chẳng phải phi pháp, mà thuyết thì đó mới là Phật-pháp, vì Phật pháp là pháp môn bất nhị vậy.

"Như lai sở thuyết pháp, giai bất khả thủ, bất khả thuyết phi pháp, phi phi pháp – Chỗ nói pháp của Như lai, đều chẳng thể chấp, không nên nói là chẳng phải pháp, cũng không nên nói là chẳng phải chẳng phải pháp - Kim-Cang kinh".

Không những thế, để giúp chúng sanh tự dọn sạch, cắt đứt, phá nát tận gốc rễ tất thảy mọi trói buộc của kiến chấp để có thể tự thâm nhập được chỗ "diệu thính pháp"mà giác ngộ Phật tánh, Thế-tôn thậm chí còn phủ nhận cả hai tiếng "Phật pháp" cho thật hoàn hảo, cho thật rốt ráo nữa:

"Sở vị Phật pháp giả, tức phi Phật pháp - Nói là Phật-pháp đó, nhưng chẳng phải Phật pháp".

Nghĩa là sao ? Tạm gọi là, lời của Ngài nói ra từ trong chỗ chơn-thật, rổng rang thanh tịnh không vướng mắc, không trói buộc, hoàn toàn từ cảnh giới chơn-không giải-thoát, vượt lìa tất cả mọi trói buộc của khái niệm nhị nguyên sanh diệt, cũng có nghĩa là từ chỗ không gốc gác, sáng trong, không một vật của chơn tâm mà nói.

"Ngã thường thuyết không pháp, viễn ly ư đoạn thường – Ta thường nói pháp chơn không, lìa xa đoạn và thường của nhị nguyên sanh diệt - Lăng-già kinh".

Chư Tổ đắc pháp từ thời Phật cho đến ngày nay, cũng chỉ một "phương" thuyết pháp và thính pháp đó mà thôi; lời lời châu ngọc của các Ngài tuông ra từ cảnh giới tự chứng, tự nó như mây bay, như gió thoảng, như chớp loé, như điện xẹt không rễ má dây mơ, không chỗ nương vin,ràng buộc, như Phật thuyết không khác, đó mới là chơn thuyết vậy. Thế nên, trong chỗ nói pháp, dù là từ chính kim khẩu của Thế tôn, người nghe pháp cũng chỉ phải ngay đây trên lời vượt ý, tự cắt đứt tất cả rễ má dây mơ ràng buộc của tri kiến, kể cả tri kiến giải thoát cũng phải tự lià thoát khỏi nó, thì mới mong bắt gặp được chỗ không lời mà diệu thuyết, để hốt nhiên ngay đó trọn trong thể tánh chơn-quang tự sẵn có, cũng là tự Phật, cũng là diệu thính pháp , là ngộ pháp để từ đó tiệm tu đến chỗ giải thoát triệt để vậy.

Thế còn với cách "giảng thuyết" của Ông C.Q thì sao ? Chỉ một đoạn văn "thuyết pháp" ngắn triùch dẫn ở trên, Ông đã tự thể hiện đầy đủ cả sự tối tăm lẫn ràng buộc, trói cột; tự trói buộc mình còn chưa thấy đủ nên mới bày trò "giảng thuyết" để trói cột người,đưa dắt người khác vào hầm ma nhà quỉ, thật tai hại.

c). Ông nói : "Có nhiều bộ kinh không phải Phật thuyết nhưng ý cũng rất là hay như bộ kinh Bát-nhã…. Những bộ luận của Ngài Long-Thọ tuyệt vời".

Thưa Ông chơn-Quang! Ông chớ nên đem chữ nghĩa ra mà khoe mẽ, tự đề cao mình, kẻo những từ ngữ "rất là hay", "tuyệt-vời"kia, tự chúng cảm thấy hổ thẹn lắm, vì Ông đã dùng chúng thiếu chính xác, không đúng người đúng việc. Chỉ một câu nói bình thường của Thầy Ông mà Ông còn không đủ căn cơ để hiểu "…cho nên lần lần tôi bình tỉnh lại, tôi chấp nhận điều đó, sau đó mới tìm hiểu lại giáo-lý đạo Phật". Chỉ nội cái vốn giáo-lý cơ bản nghèo nàn, hạn hẹp như thế mà Ông còn chưa thông, thế thì trí tuệ đâu mà Ông dám đăng đàn thuyết pháp Phật . Ông thật là táo gan tợn.

Thưa Ông Chơn-Quang ! Ông nói rằng "Bát nhã là rất hay". Nó hay là hay chỗ nào, nó tuyệt vời là tuyệt vời ra làm sao? Sao Ông không tách bạch, diễn giảng ra cho mọi người cùng cảm nhận "rất hay- tuyệt vời" như Ông, để mọi người cùng thâm nhập trong nó mà tu hành để giải thoát. Vì Bát-nhã là trí sáng giải thoát kia mà. Chẳng phải Ông đang "thuyết giảng" Phật pháp để giúp chúng sanh giải thoát đó sao? Bắt gặp được pháp giải thoát, sao Ông không nương cơ hội, không tùy duyên mà giảng thuyết, lại chỉ nói khơi khơi "nó hay, nó tuyệt vời" cộc lốc thế thôi. Nếu cứ nói như Ông thì ai mà chẳng nói được. Chỉ có điều nhiều người vẫn nói được như Ông mà họ không nói, vì họ không muốn tự dối mình, cũng là dối lừa tự Phật, vì họ còn biết tự trọng. "Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri giã – Biết thì cho là biết, không biết thì cho là không biết, thế là biết đó". Ai ai cũng biết và đều làm được như vậy, chỉ riêng Ông, có lẽ vì quá bôn-ba theo hình đuổi bóng bên ngoài nên đã quên mất tiêu câu danh ngôn này từ lâu rồi chăng?

Gặp Bát-nhã, gặp Luận Giải-thoát sao không ngay đó thuyết giảng cho người để họ được giải thoát ? Hay là Ông chỉ biết mỗi một cách thuyết giảng "trói buộc" và dẫn dắt người vào ma đạo như những gì lâu nay Ông đã "thuyết" chăng?

Trong đoạn "thuyết giảng" này, Ông có chỗ "nói nhỏ" cho các Cô nghe và dặn đừng nói cho ai biết. Tôi cũng bắt chước Ông, nhưng mà lại "hét lớn" vào tai Ông và dặn Ông nên nói cho mọi người cùng biết. Rằng, nếu Ông mà thực sự cảm nhận đựơc cái "hay", cái "tuyệt vời" của Bát-nhã, cũng như các bộ luận về trí sáng Bát-nhã của ngài Long-Thọ, ắc phải có nghĩa là Ông đã tự thâm nhập một trong tánh sáng đó rồi. Mà một điều chắc chắn rằng, khi Ông đã tự một trong nó, nó là Ông, Ông là nó, hàm linh chúng sanh ba đời cũng chỉ một nó, thì không bao giờ Ông dám mở miệng mà "giảng thuyết pháp trói buộc" như lâu nay đã làm. Bỡi cớ sao ? Bỡi một khi Ông tự một trong nó thì Ông tự biết như thật rằng "Ông thật ai?". Mà một khi Ông tự thật biết cái kẻ đang động tay múa chân, nằm ngồi nói nín kia là ai, thì tự Ông cũng biết cách nói pháp; nói suốt ngày suốt buổi mà không rời lìa nó, nói mà không có chỗ nương vin trói buộc, nói mà tự thấy miệng không há, môi không động; tuỳ căn cơ chúng sanh cao thấp mà Ông tự phương tiện ứng hợp trong chỗ thấp cao mà nói; nói hoài nói mãi mà vẫn không lạc ra ngoài giòng đạo pháp. Vì hễ đã một lần thấu suốt, tỏ rõ chỗ chơn chơn thật kia thì lời nói pháp từ trong đó xuất sanh không mảy may trói buộc với nhơn quả.

Bằng ngược lại, không tự biết như thật cái kẻ đứng, ngồi, nói, nín kia là ai thì sự nói pháp kia cũng còn có chỗ trói buộc, nói pháp mà chưa vượt thoát được chỗ có nói pháp, nghĩa là chẳng phải là diệu thuyết vậy.

Còn Ông ngay trong lúc này, mở miệng một câu mười lời cũng đã bị vướng mắc trói buộc hai bên rồi, thế thì quả đắng sờ sờ ra đó, hỏi làm sao trước đó có nhân ngọt được.

d.) Trước khi chấm dứt nhận xét về đọan "thuyết giảng" ngắn của Ông ở trên, tôi xin nói "…nhỏ" cho Ông một điều về mối hồ nghi Ông cho là "khủng-khiếp" mà tự bấy lâu nay Ông giữ chặc trong lòng, đó là vấn đề Phật thuyết kinh hay người sau "ngụy tạo" rồi "gán" cho Phật như Ông thắc mắc.

"Khi Như-lai sắp Ðại-Niết-bàn, Phật gọi A-Nan lại bảo : " Mười hai bộ kinh ngươi phải truyền bá cho đời sau".
Ngay đó, Ngài A-Nan hỏi Phật bốn điều, trong đó có câu : " Cả thảy trước mỗi đầu kinh nên để chữ gì ?"
Phật dạy : "Cả thảy trước mỗi đầu kinh nên để chữ "NHƯ THỊ". "

Thưa Ông Chơn-Quang! Như trên chúng tôi đã có nói, vì Ông tối tăm, nông nổi bộp chộp, học đạo không đến nơi đến chốn, lại chỉ học ngoài da, chạy theo danh tướng, nên Ông mới thấy "khủng khiếp", chứ một khi Ông đã tự thấu suốt hai chữ "Như Thị" mà Phật đã ân cần chỉ bảo cho Ngài A-Nan thì Ông sẽ không còn thắc mắc là mười hai bộ kinh do chính Phật thuyết hay do người sau viết ra nữa. Kinh điển ba đời chư Phật ở Quá, Hiện, Vị-lai có thuyết ra cũng đều "Như-thị". Chẳng phải "Như-thị" thì ngay đó tự sái, chẳng phải là Phật pháp, vì Phật pháp là pháp môn bất nhị vậy. Thế nên điều Ông thắc mắc đó hoàn toàn không cần thiết cho sự nghiệp tu chứng của Ông. Bỡi chân lý thì chỉ một, không hai cũng không khác vậy.

Nghĩa là sao, nghĩa là thí như Ông bị bệnh sắp lìa đời, lại có người đem thần dược đến cứu chữa cho Ông. Nếu Ông dùng thuốc đó như mọi người đã từng dùng nó để trị lành căn bệnh như Ông, thì Ông sẽ tức thì được cứu sống. Bằng ngược lại, cũng viên thần dược đó Ông không chịu dùng, mà Ông cứ mãi lo thắc mắc cần phải tìm cho ra cái gốc gác vì đâu có viên thuốc đó, tại sao không phải chính tay vị dược vương này bào chế mà là đệ tử của người ấy bào chế, trong khi dược tánh cũng chỉ một, không hai không khác. Cứ thắc mắc hồ nghi trong chỗ tướng bệnh đó thì Ông phải vong mạng là điều tất nhiên rồi.

Còn nói về tánh thấy của Ông thì sao? Vì Ông chỉ học đạo ngoài da, dùng cái vỏ ngoài để mưu danh đoạt lợi thì làm sao có thể thấu tỏ cốt tủy của đạo trong chỗ vô ngôn. Bỡi hai tiếng Như thị vừa lìa kim khẩu Thế-tôn, chợt lọt tai A-Nan, nếu ai người ngay đây tỏ ngộ thì chỉ sát-na không những chữ nghĩa tiếp nối sau kinh một chút cũng chẳng còn, mà mười hai phần kinh Phật thuyết suốt bốn mươi chín năm ròng cũng ngay đó cháy tiêu không lưu dấu, dưới trên trong ngoài sau trước còn là gì nữa nếu ngay đó không phải chính mình "đang-là" trong chỗ uyên nguyên của tự Phật.

Tỏ thấu và dung thông "Như thị" này rồi thì ai còn hơi đâu đi làm cái việc lục lọi rương tủ như con mọt để tìm xem là Phật thuyết hay người sau viết giùm Phật, mà hoài công phí sức.

Phật-tử Nhuận-Bảo có bài kệ về hai chữ "Như thị" thật hay, tôi xin trích dẫn ra đây:

"Như thị" hốt nhiên tỏ,
Trăm kinh cũng chẳng còn
Nương tay trăng thấy đó,
Hé mắt, trọn càn khôn .

Chỉ chỗ "như thị" này mà Ông còn chưa thấu tỏ, vô minh còn vây phủ dày kín lấy Ông, thì làm sao Ông có thể Một trong tánh sáng Bát nhã, mà Ông khen rằng hay, hay không hay, tuyệt vời hay không tuyệt vời. Những lời đó chỉ là ngoài miệng. Thế mà Ông dám đăng đàn thuyết pháp, thật là coi trời bằng vung.

Một lời khuyên chơn thật với Ông : "Hãy lo tự tu để bừng sáng trí mình trước đã. Hãy như cái thùng lủng chảy để không còn thấy tướng mình; không còn tướng mình thì tứ tướng triệt tiêu; ba đời, mười phương chỉ tròn trong một niệm sáng trong, tới chừng đó nói nín tự tại; hữu duyên thì nói pháp, nói mà không trói cột với nhơn quả, nói mà không rời lìa tự tánh, nói mà thật không có gì là nói, tất cả thể hiện trong chỗ chơn ngã vô ngôn mà từ tâm bộc khởi, chỉ một niệm Như mà thảy sanh diệu dụng.

Bẳng ngược lại, chính mình chưa tự bừng sáng để không lầm nhơn quả, còn mò mẫm trong chỗ tối tăm mà lo đi tu giùm cho người, lại còn dùng môi miệng trí xảo mà tô bồi, vun đắp thêm dày thêm lớn vô minh của tự thân như bấy lâu nay Ông đã làm, thì người thuyết kẻ nghe đã tự sẵn có nơi chốn đi về, có đường đưa nẻo đón đó.

Hãy cẩn thận ! Cẩn thận!

Phật-gia Cư-sĩ
Chơn-Chánh.
 
 



bullets08.gif - 0.2 KChướng Ma Ðời Mạt Pháp • Bài 8
bullets08.gif - 0.2 KChướng Ma Ðời Mạt Pháp • Bài 7
bullets08.gif - 0.2 KChướng Ma Ðời Mạt Pháp • Bài 6
bullets08.gif - 0.2 KChướng Ma Ðời Mạt Pháp • Bài 5
bullets08.gif - 0.2 KChướng Ma Ðời Mạt Pháp • Bài 4
bullets08.gif - 0.2 KChướng Ma Ðời Mạt Pháp • Bài 3
bullets08.gif - 0.2 KChướng Ma Ðời Mạt Pháp – Bài 2
bullets08.gif - 0.2 KTrang Mục Lục - Trích đoạn những bài giảng của "Sư" Chơn Quang
bullets08.gif - 0.2 KTrang Quan Ðiểm
bullets08.gif - 0.2 KTrang chính