![]()
BÀI II
Tiếp tục phần góp ý của tôi về tựa đề trên, tôi xin đăng lại dưới đây trích đoạn băng Mới và Cũ của Chơn Quang.
Phần I :
ÐỌC 2 NĂM HẾT TẠNG KINH NIKAYA
(Trích đoạn băng Mới và Cũ của thầy Chơn Quang)
"…Nếu chừng ấy bộ Kinh Nikaya mà bắt phải đọc tụng suốt đời mà không khi mình chỉ đọc qua 2 năm là hết, nghe giảng chừng 1,2 năm là hết, trong khi đời tu mình là 5, 60 năm mới chết, thì 5, 60 năm còn lại không biết đọc cái gì đây trong khi chữ viết đã có rồi nên cái nhu cầu phát triển lý luận là nhu cầu cần thiết. Chính vì thời đại bức xúc như vậy nên đã xuất hiện tư tưởng Ðại Thừa Phật giáo, là nhiều vị đã bạo viết kinh Phật luôn nghĩa là chính mình viết mà gán cho đó Phật thuyết luôn, nhiều vị rất là bạo. Có lẽ vị đó quá tự tin, tự tin rằng những điều đạo lý này mình nói không sai với ý Phật, nếu Phật còn sống đến giờ này Phật cũng nói như vậy, cho nên những vị đó quá tự tin, cho nên đã viết những bài kinh khởi đầu bằng Như Thị Ngã Văn nhất thời… mà sự thật không phải Phật thuyết. Chính cái vị đó đời sau này nói, 600 năm sau mà viết. Bên cạnh những bài kinh mới viết sau có thêm nhiều bộ Luận mới nữa, những bộ Luận của Ngài Long Thọ tuyệt vời, Thập Nhị Môn Luận, Trung Quán Luận, những cuốn như là Trí Ðộ Luận, trí độ tức là Bát Nhã, Bát Nhã Luận đó có vô số các bộ Luận, bộ Thanh Tịnh Ðại Luận bên Nguyên Thủy hay là Thắng Pháp Tập Yếu Luận của Nguyên Thuỷ, rồi về sau vô số Luận, vô số Luận cứ phát triển thêm là nhờ có phương tiện chữ viết.
* Cũng như mọi khi, tôi xin được tóm tắt phần trích dẫn :
1. Vì Kinh Nikaya chỉ tụng và giảng trong vài ba năm là hết, nên phát sinh nhu cầu viết thêm kinh mới.
2. Ðại Thừa Phật Giáo được ra đời nhằm thỏa mãn nhu cầu đó, vì vậy đã có "nhiều vị bạo viết luôn kinh Phật".
3. Bên cạnh những bài kinh mới viết có thêm nhiều bộ Luận như những bộ Luận "của ngài Long Thọ tuyệt vời", "Thập nhị ngôn luận, Trung quán luận, Trí độ luận, Thanh tịnh đại luận, thắng pháp tập yếu luận, rồi về sau vô số luận cứ phát triển thêm là nhờ có phương tiện chữ viết" .
* Phần góp ý :
1. Theo sự trình bày của CQ – thì Kinh Nikaya, bắt buộc phải đọc tụng suốt đời, mà chỉ đọc qua hai năm, nghe giảng một, hai năm là hết, mà cuộc đời còn dài năm, sáu chục năm, không biết đọc cái gì nên phải viết thêm kinh mới .
Xin hỏi CQ, ai bắt buộc phải đọc kinh Nikaya suốt đời ? Ðức Phật chăng ? – Nhưng Phật có bao giờ buộc ai phải làm điều này hay điều khác đâu . Ngay đến những giới luật của nhà Phật cũng chỉ là những giới răn . đạo Phật sở dĩ hơn các đạo khác là ở chỗ đạo Phật tuyệt đối tự do : Ai muốn theo thì theo, ai không theo thì thôi . Trong khi có những vị giáo chủ khác luôn dọa nạt tín đồ "Ai không theo ta thì sa địa ngục", thì Ðức Phật chỉ bảo chúng sinh rằng "Ta chỉ vạch ra con đường giải thoát, chính chúng sinh phải tự mình đi con đường ấy, chứ đừng trông chờ ai sẽ đi thay mình" . Ngài còn đi xa hơn khi nói "Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành, ta không dạy chúng sinh lạy ta, ta dạy chúng sinh thành ta" , điều đó có nghĩa là nếu ta nhất tâm tu theo Ngài thì ta cũng sẽ thành Ngài, chứ không phải thành Tôi Tớ Ngài như trong các đạo khác . Như vậy thì làm sao có chuyện bắt buộc phải đọc kinh này hay kinh khác được . Vả lại trong cả triệu triệu con người theo Phật, có phải ai cũng thuộc kinh Phật, ai cũng có kinh Phật mà tụng niệm đâu . Có nhiều người chỉ nhờ nhất tâm niệm Phật, tu tập theo gương Ngài mà đạt quả vị Thanh Văn, Duyên Giác đó thôi.
2. Theo trích đoạn trên của CQ thì Ðại Thừa Phật giáo được ra đời cũng để thoả mãn nhu cầu viết thêm kinh sách, tuy rằng, vẫn theo CQ, thì các vị theo Ðại Thừa đã ngụy tạo kinh Phật rồi lại gán cho đó là lời Phật thuyết.
Không biết quý vị đạo hữu khi đọc những dòng này, nghĩ sao về CQ, chứ theo tôi thì có lẽ CQ chưa hề theo học một khóa Phật học sơ cấp nào. Nên mới dám bạo mồm, bạo miệng nói ra như thế .
Mặc dầu sự hiểu biết của tôi về Phật học còn hết sức hạn chế, so với bể Phật học mênh mông, nhưng tôi cũng mạo muội nhắc để CQ nhớ rằng :
Ðại Thừa được sinh ra không phải chỉ đơn thuần để viết thêm kinh sách, hay như CQ đã ngộ nhận, là để ngụy tạo lời Phật dạy .
Thực ra thì việc soạn kinh của cả hai phái Ðại Thừa và Tiểu Thừa chỉ là phương tiện còn lý do phát sinh ra mỗi phái đều do mỗi phái có những quan niệm khác nhau về vấn đề hành đạo, mà cái quan niệm thông thường nhất là Tiểu Thừa chủ trương Tự Giác, nghĩa là tu để giác ngộ chính mình, còn Ðại Thừa chủ trương Giác Tha nghĩa là giác ngộ mình rồi giúp cho người khác giác ngộ . Như vậy ta thấy cả hai chủ trương đều không chống đối nhau mà chỉ bổ sung cho nhau . Xuất phát từ điểm dị đồng đó mà kinh sách của mỗi phái một khác tuy rằng cả hai Thừa đều thọ trì giáo lý căn bản của Ðức Phật .
Không phải chỉ có Ðại Thừa mới biết kinh mà Tiểu Thừa cũng viết kinh . Có khác nhau chăng là ở chỗ kinh của Tiểu Thừa theo sát lời Phật dạy, nên vắn tắt, gọi là "Ðoản Kinh", còn kinh của Ðại Thừa thì tuy cũng nương theo lời Phật dạy, nhưng được một số Bồ Tát trình độ uyên thâm , bàn rộng ra , làm cho kinh sách phong phú thêm nghĩa lý thâm sâu hơn, do đó cũng dài hơn kinh Tiểu Thừa, nên gọi là Trường Kinh . Trong số các vị đã khai triển kinh Ðại Thừa, phải kể đến hai vị có công nhất là Mã Minh Bồ Tát và Long Thụ Bồ Tát .
Vì CQ nói về việc viết kinh của phái Ðại Thừa nên ở đây tôi cũng chỉ góp ý về vấn đề đó mà không đi sâu vào những điểm dị biệt giữa hai phái . Tuy nhiên cũng xin nói ngay rằng trong Phật giáo không có sự đối đầu giữa phe này phái kia, vì không có sự khác nhau trong việc thọ trì giáo lý căn bản của Ðức Phật . Nói một cách khác, không có Ðại Thừa, Tiểu Thừa, cũng không có Nam Tông, Bắc Tông . Sở dĩ có sự phân chia Tông Phái là vì sự diễn biến của lịch sử và sự truyền bá của đạo Pháp qua nhiều truyền thống, văn hoá, ngôn ngữ, phong tục, quốc độ khác nhau và Tông phái nào cũng theo chung một giáo lý căn bản.
3. Nhiều bộ luật đã được viết ra : trong đoạn này CQ không còn hăng hái quy tội cho những người viết Luận như ở bài đầu, khi nói về việc viết kinh sách ( thêm thắt , ngụy tạo) mà CQ còn nhận định là " Ngài Long Thọ tuyệt vời", như vậy phải chăng CQ đã mặc nhiên công nhận rằng phần đóng góp của Long Thọ Bồ Tát và các vị khác trong việc trước tác các bộ luật là rất lớn không . Và phải chăng, chính CQ đã tự mâu thuẫn với mình khi thì cho việc viết kinh là một việc làm "khủng khiếp" khi thì lại tán thán công đức của việc viết luận là "tuyệt vời" . Nếu ta chịu khó đọc những đoạn băng của CQ thì ta sẽ thấy những cái mà CQ gọi là bài giảng đó luôn luôn thiếu tính nhất quán, nghĩa là lúc thì CQ nói thế này, khi thì CQ nói thế khác .
***
Bây giờ tôi xin bước sang phần hai của trích đoạn băng" Mới và Cũ" của CQ .
Phần II :
Dưới đây là nguyên văn đoạn băng của CQ về Tịnh Ðộ Tông với những sai lầm mà CQ gán cho môn phái này :
Bây giờ nói đến pháp môn Tịnh Ðộ bị hoài nghi, hôm nay là thời đại khoa học nên chuyện gì cũng được đem mổ xẻ phân tích, đúng sai, hợp lý hay không hợp lý đều bị đem ra nói hết. Chúng ta là người Phật tử, cũng có thể chúng ta tu Pháp môn Tịnh độ hoặc là chúng ta không tu Pháp môn Tịnh độ, nhưng mà chúng ta cũng biết hết, là cái điều mà chúng ta tin là đúng và những điều mọi người hoài nghi thì chúng ta cũng nêu ra luôn, để chúng ta xem họ hoài nghi như vậy có hợp lý hay không ? Thì đây là những điều hoài nghi :
1. Thứ nhất, theo các nhà sử học thì Kinh A Di Ðà xuất hiện sau Phật 600 năm và cái cõi Tây phương không có căn cứ, không biết chỗ nào hết, khi nói Tây phương là dựa vào phía Tây của trái đất mà trái đất thì quay vòng vòng mà cái cõi đó thì nằm ngoài trái đất cho nên không biết cái cõi ấy nằm ở đâu hết. Thí dụ nó quay vòng vòng thì phiá Tây nằm ở phiá nào ? Thí dụ như là cái đĩa này đây, thì phía tây của cái đĩa nằm ở bên đây phải không ? Mình chỉ phía tây là nằm bên đây, đúng không ? Nếu ở đây thì phía tây nằm bên đây chứ gì, nhưng bây giờ nó quay vòng vòng thì phiá tây của nó nằm ở đâu ? Thí dụ trái đất này đứng yên đi, thí dụ cái máy này nó đứng yên, phía tây của cái máy này nằm ở đâu ? Thí dụ nằm ở bên kia, cái tường kia, phải không ? Thì như vậy nếu mà trái đất đứng yên thì mình mới có thể xác định được cõi Tây phương Cực Lạc, vì nó nằm ở phía tây mà ! Thì nó cũng nằm cố định ở bên kia bức tường nhưng mà cái máy nó quay vòng vòng, thì không thể xác định được cõi Tây phương và như vậy, cõi Tây phương chỉ là một biểu tượng thôi, chứ không có căn cứ rõ ràng. Ðây là một điểm mà người ta hoài nghi và nói rằng kinh A Di Ðà sau Phật mấy trăm năm cho nên không chắc là có thật. Ðó là điểm mà người ta hoài nghi.
2. Rồi một trường hợp mà người ta công kích nữa là thế này, là có những người họ không có tín ngưỡng, hoặc là họ không phải là đạo Phật thì họ lại chủ trương rằng họ không tin có thế giới Cực Lạc và họ cho rằng cái việc chủ trương, bỏ cái thế giới này để đi tìm về một thế giới khác là một thái độ tiêu cực. Họ cho rằng mình phải chung tay góp sức xây dựng cuộc đời này cho nó đẹp, chứ không phải là bỏ thế giới này để đi tìm thế giới khác. Một đạo Phật như vậy là một đạo Phật tiêu cực, yếm thế. Nghe họ nói thì cũng có lý của họ phải không ? Ðó là cái thứ hai.
3. Rồi một cái thứ ba nữa mà người ta công kích Tịnh Ðộ tông là thế này. Theo Thiền Tông Trung Hoa thì ít có chấp nhận một cõi nào ngoài tâm, mà họ nói nếu là có Phật A Di Ðà, đó là tự tánh là Di Ðà mà duy tâm là Tịnh Ðộ. Chỉ có tự tánh mình là Phật A Di Ðà, chỉ có cái tâm mình là cõi Cực Lạc thôi, chứ không hướng về Phật A Di Ðà bên ngoài, một cõi Cực Lạc bên ngoài và đây cũng là điểm mà Tịnh Ðộ Tông bị chống đối. Ðó là cái thứ ba.
4. Cái bị công kích thứ tư nữa là Tịnh Ðộ Tông thường kéo theo những nghi lễ rườm rà, và chính vì cái nghi lễ rườm ra này mà có chỗ cho người khác công kích. Người ta dựa vào kinh Kim Cang để nói rằng : "Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã. Thị nhân hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai", nghĩa là nếu mà lấy hình tướng để cầu ta, nếu lấy âm thanh để cầu ta thì người này hành đạo tà, không thể thấy được Như Lai. Ðó Tịnh Ðộ tông thường kéo theo những nghi lễ rườm rà, đó là bốn điểm mà Tịnh Ðộ Tông bị hoài nghi và bị chống đối.
* Tóm tắt phần trích dẫn :
1. Ðiều hoài nghi thứ nhất về pháp môn Tịnh Ðộ là cõi Tây phương Cực Lạc không có căn cứ rõ ràng .
2. Ðiều hoài nghi thứ hai là : người ngoại đạo có thể cho rằng đạo Phật là một đạo tiêu cực yếm thế, vì đạo Phật chủ trương bỏ cái thế giới này để đi tìm một cái thế giới khác, thay vì phải chung tay góp sức xây dựng cuộc đời này cho nó đẹp .
3. Ðiều hoài nghi thứ ba là theo thiền tông Trung Hoa thì không làm gì có một thế giới cực lạc ngoài cái tâm .
4. Ðiều thứ tư mà người ta trách Tịnh độ Tông là theo một lễ nghi rườm rà .
* Phần góp ý :
1. Trước khi trả lời CQ về vấn đề Tây Phương Cực Lạc có hay không, tôi xin quý vị đạo hữu vui lòng đọc kỹ phần một của đoạn băng (in chữ đỏ) của CQ để xem CQ muốn nói gì trong phần này . Thú thực rằng bản thân tôi, sau khi đọc đi đọc lại nhiều lần tôi thực sự không biết CQ định nói gì vì cách đặt vấn đề của CQ nó lôi thôi quá, tối tăm quá, hũ nút quá (hermétique) nhưng rồi cũng phải cố mà hiểu . Thì ra trong cả một đoạn dài tới mười lăm dòng, CQ chỉ nói có một điều : " nếu mà trái đất đứng yên thì mình mới có thể xác định được cõi Tây Phương Cực Lạc, vì nó nằm ở phía Tây mà… nhưng mà cái máy nó quay vòng vòng thì không thể xác định được cõi Tây phương" (Trích nguyên văn lời CQ) .
Hoá ra CQ mới tìm ra một định lý mới về địa lý, định lý ấy như thế này: Không làm gì có một phương Tây cố định vì trái đất nó xoay, nên lúc thì phương Tây nằm ở bên này, khi thì phương Tây ở bên kia trái đất .
Ôi trời đất quỷ thần ơi, hỡi các cụ Archimède, Newton, Einstein ơi, các cụ hãy đội mồ dậy mà coi nhà "vật lý học địa cầu vĩ đại CQ" đã phủ nhận các thuyết của các cụ rồi đó nhé ! Như vậy là với "kỷ nguyên CQ" chẳng còn nữa thuyết lực đẩy hấp lực, tương đối, và kể từ năm 1999 trở đi, không làm gì còn có phương hướng cố định nữa. Trước đây, ta nói cái nhà này hướng Tây, nay thì , theo CQ, nói vậy là sai, vì trái đất quay mà thì làm sao cái nhà kia lại cứ quay mãi về hướng Tây được .
Này hỡi "ông" CQ, xin "ông" hãy về coi lại sách địa lý lớp 5 để mà hiểu rõ cách vận hành (mouvement de rotation) của trái đất trong Thái dương hệ . Trong khi chờ đợi, tôi xin mạn phép nói sơ qua để CQ hiểu tại sao trái đất quay vòng như vậy mà phương Tây vẫn cố định không ?
Sở dĩ ta phân định được các phương hướng là căn cứ vào vị trí của trái đất so với vị trí của mặt trời : phía mặt trời mọc là phương Ðông, phía mặt trời lặn là phương Tây, đó là điều mà một đứa trẻ lên ba cũng biết . Còn tại sao trái đất quay mà vẫn phân định được phương hướng, ấy là vì khi trái đất quay thì mặt trời cũng quay, cái nào trong qũy đạo của cái đó , do đó mà mới phân định được ngày đêm, phương hướng .
Tôi đã được nghe nhiều vị tu hành của nhiều tôn giáo khác nhau thuyết pháp , giảng đạo, nhưng chưa bao giờ thấy một vị nào lại ngu tối đến như CQ . Một khái niệm sơ đẳng như vậy mà cũng không biết, thì nói chi đến việc" khai ngộ" cho người .
Bây giờ tôi xin trả lời CQ về vấn đề có cõi Tây phương cực lạc hay không . Muốn biết rõ điều này, tưởng cần phải hiểu rõ :
- Vũ trụ quan của Phật giaó : Từ thượng cổ thời đại cho đến thời Trung cổ có những nhà thiên văn cho rằng vũ trụ hữu hạn và theo thuyết của Ptolem Atis thì trái đất là trung tâm của vũ trụ, là bất động và mặt trời quay quanh trái đất . Học thuyết này đã được giáo hội La Mã, vào thời đó cho là một chân lý tuyệt đối . Vì vậy Galilee một nhà thiên văn học người Ý, bác bỏ thuyết này mà cho rằng trái đất quay thì ông liền bị Giáo hội đưa ra tòa án giáo hội (Inquisition) khép ông vào tội loan truyền thuyết dị đoan . Ðể thoát khỏi tội bị thiêu trên dàn hoả, ông phải tuyên bố từ bỏ thuyết đó, nhưng khi bước ra khỏi toà án giaó hội, ông vẫn lẩm bẩm :"E pur si muove" (Et pourtant elle tourne) có nghĩa là :"Tuy vậy nó vẫn quay" . Chính Giáo hoàng Jean Paul II của Giáo hội La mã, cách đây ít lâu, đã phải công khai nhìn nhận sai lầm của toà thánh Vatican khi kết tội Galilée và Giáo hoàng đã ăn năn thống hối về điều đó .
Trong khi mà nhân loại còn mê mờ như vậy thì trước đó cả hai ngàn năm , Ðức Thích Ca Mâu Ni – lúc đó chưa có viễn vọng kính – đã báo cho người đời biết rằng vũ trụ là vô tận với số lượng hành tinh nhiều không kể xiết (Ðức Phật dùng chữ : bất khả tư nghị nghĩa là không thể nghĩ bàn để hình dung là chẳng những không thể đếm hết mà ngay đến chỉ tưởng tượng thôi, cũng không thể tưởng tượng được). Tại sao Ngài lại nói vậy ?
Vì Phật giáo cho rằng cứ một nghìn thái dương hệ lại hợp thành một tiểu thế giới , cứ một nghìn tiểu thế giới lại hợp thành một trung thế giới và cứ một ngàn trung thế giới lại hợp thành một đại thế giới . Một ngàn đại thế giới được gọi là một Quốc độ Phật (nơi mà Phật giáo hoá) . Như vậy là một Quốc độ Phật có bao nhiêu thái dương hệ . Có tất cả 10003 = 1.000.000.000 Thái dương hệ . tương đương với một Tinh Vân thiên văn học . Một thái dương hệ lại gồm có một số hành tinh lớn, nhỏ, như thái dương hệ của cúng ta có chín hành tinh lớn xoay quanh mặt trời là : trái đất, sao Kim, sao Mộc, sao Thủy, sao Hoả, sao Thổ, sao Thiên Hoàng, sao Hải Hoàng, sao Minh Vương cùng với 27 vệ tinh và cả ngàn hành tinh nhỏ .
Thế thì trong vũ trụ, cuối cùng có bao nhiêu quốc độ Phật ?
Kinh A Di Ðà nói rõ :" Từ Tây phương vượt qua mười vạn triệu triệu quốc độ Phật, có thế giới gọi là cực lạc" nghĩa là từ trái đất ta ở đến Tây phương cực lạc có đến mười vạn ức quốc độ Phật . cho nên Ðức Phật Thích Ca nói :" Mười phương hư không là vô cùng vô tận, thế giới là mênh mông không bờ bến "(Mười phương hư không đồng nghĩa với chữ Thập Phương mà ta thường nói) .
Ðiều mà Ðức Phật nói cách đây 2500 năm , trong đêm dài của lịch sử nhân loại, đã có khi bị coi là vu khoát, hoang tưởng, thì nay với sự tiến bộ của khoa học, người ta mới thấy lời Phật dạy là quá đúng . Vì vậy mà nhà vật lý học vĩ đại của thế kỷ 20 và của cả hai mươi thế kỷ là Einstein đã phải công nhận rằng " Ðạo Phật bắt đầu từ nơi khoa học chấm dứt".
Câu nói đó có nghĩa rằng có những điều mà khoa học chưa lý giải được thì đạo Phật đã lý giải rồi.
2. Ðạo Phật có phải là một đạo tiêu cực , yếm thế không ?
Diệu đế thứ nhất của Phật giáo thường được hầu hết các học giả dịch lại: "Chân lý cao cả về sự khổ và nó bị giải thích là : sự sống, theo Phật giáo, chỉ là đau khổ . Chính vì sự phiên dịch hẹp hòi và sự giải thích nông cạn ấy về Khổ Ðế, mà nhiều người đã lầm lẫn xem Phật giaó là yếm thế bi quan (trong số người này có cả "sư" CQ) .
Trước hết, Phật giáo không bi quan cũng không lạc quan . Có thể nói Phật giáo là thực tiễn, vì Phật giáo có một quan điểm thực tiễn về nhân sinh và vũ trụ . Phật giaó nhìn sự vật một cách khách quan .
Ðức Phật cũng như một vị lương y . Ngài không nói phóng đại về một chứng bệnh để làm cho người bệnh tiêu tan hy vọng, Ngài cũng không dối gạt người bệnh là không có bệnh và không cần phải chữa trị, mà ngài tìm ra bệnh một cách chính xác, thấy rằng bệnh có thể chữa lành và can đảm bắt tay vào việc chữa trị nhờ thế mà Ngài đã cứu được bệnh nhân . Ngài là vị lương y mà chúng sinh là các con bệnh . Ngài là vị Ðại sư đã hoàn toàn giác ngộ, chúng sinh là những kẻ mê mờ . Nhờ Ngài mà ta biết rõ ta là ai, thế giới quanh ta là gì, chính Ngài đã đưa ta đến một con đường tự do hoàn toàn, thanh tịnh, an ổn và hạnh phúc . Ðạo Phật không bao giờ tiêu cực trái lại đạo Phật là một đạo rất tích cực : Ðức Phật chỉ cho ta thấy những nỗi khổ trong cuộc sống , nhưng Ngài có bỏ mặc ta với những nỗi khổ đó đâu . Ngài cũng không khuyên ta trốn chạy cuộc sống, mà ngược lại Ngài còn chỉ cho ta thấy rõ nguyên nhân của đau khổ, sự cần thiết và diệt khổ và vạch ra cho ta con đường đưa đến diệt khổ .
3. CQ cho rằng theo Thiền tông Trung Hoa thì không có một thế giới Cực Lạc ngoài cái Tâm .
Phật pháp là nói cho chúng sinh nghe , mà căn cơ của chúng sinh lại không giống nhau, người thì cao , kẻ thì thấp, có người ngu lại có người trí, vì vậy thuyết pháp cũng không thể cứ " nguyên xi" mà thuyết pháp , cùng một đạo lý nhưng phải giảng giải theo những giác độ khác nhau .
Nếu chúng sinh đã như vậy, thì Tông phái cũng như thế. Sở dĩ đạo Phật có nhiều Tông phái khác nhau, cao có , thấp có, chính là để đáp ứng nhu cầu tu học của chúng sinh . Chẳng hạn như người tu hành theo Tông Tịnh Ðộ thì chỉ cần nhất tâm niệm Phật A Di Ðà cũng có thể đạt tới chứng quả, trong khi Thiền tông lại dựa vào việc chuyên chú, quán tưởng, điều tức (điều hoà hơi thở) tụng niệm , vận động tâm tính mà tu hành. Nói tóm lại thì dựa vào phương pháp nào cũng có thể đạt tới cảnh giới giác ngộ " minh tâm kiến tánh, chuyển mê thành ngộ" . Như vậy thì không làm gì có việc Thiền tông Trung Hoa phủ nhận thế giới Cực Lạc mà cũng không có sự đối nghịch giữa hai Tông : Tịnh độ và Thiền tông . Nếu có khác nhau chăng là cung cách tu hành của mỗi Tông phái . đường đi tuy có khác nhau, nhưng mục đích cũng chỉ là một : Giải Thoát . Vả lại, theo chỗ tôi biết thì chưa có một vị nào trong Thiền tông Lục Tổ lên tiếng phủ nhận thế giới cực lạc cả .
Còn có hai lý do nữa khiến tôi có thể khẳng định điều trên .
Lý do thứ nhất là trong quá trình hình thành và phát triển Phật giáo chưa có khi nào mà hai hay nhiều Tông phái Phật giáo phủ nhận lý thuyết của nhau . có thể có những quan niệm khác nhau về mặt này mặt khác, nhưng tuyệt nhiên không có sự tranh cãi về giáo lý căn bản . Ngay như trong kỳ " Ðệ Nhất Kết tập" hay còn gọi là "Thất Bách Tập pháp" tại thành phệ Xá Lỵ (Vaisaly) sau khi Phật tịch diệt được 110 năm thì cũng chỉ nhằm sửa đổi luật cho nhẹ bớt và từ hội nghị này, giáo hội đã chia làm hai phái : Thượng Tọa bộ (giữ nguyên luật cũ) và Ðại Chúng bộ (cải cách luật) .
Lý do thứ hai là Thiền tông vốn là một tông nặng về Quán tưởng, rất ít khi dùng đến ngôn từ , có khi chỉ bằng một cử chỉ nhỏ như dơ một ngón tay lên không, hay bằng một cái vỗ tay, như vậy thì nói chi đến việc chỉ trích điều này điều kia, huống hồ chính Ðức Bổn Sư cũng nhìn nhận có Phật A di đà và Tây phương cực lạc .
Trên đây chỉ là phần góp ý của tôi, tuy nhiên để làm sáng tỏ vấn đề này, tôi nghĩ không ai có thẩm quyền, uy tín và tư cách hơn HT Thích Thanh Từ trong phần trích dẫn dưới đây của cuốn "Bước đầu học Phật" mà HT là tác giả :
" Phật dạy có nhiều lối, gọi là những pháp môn tu . Pháp môn tu thiền, pháp môn tu tịnh độ … mỗi pháp môn đều nhằm đập chết con khỉ ý thức . Tu thiền phải được định, niệm Phật phải nhất tâm . Ðã định thì ý thức đâu còn hoạt động, nhất tâm thì con khỉ ý đã chết lịm rồi . Vì thế tu thiền đến diệt tận định thì nhập Niết Bàn (vô sinh), niệm Phật đến nhất tâm bất loạn thì thấy Phật A Di Ðà đến đón về Cực Lạc. Nhập Niết Bàn thì không còn sinh tử , về Cực Lạc thì hết luân hồi trong lục đạo . Ðược về Cực Lạc (vui tột) hay nhập Niết Bàn (vô sinh) mới thật là giải thoát khổ đau hoàn toàn miên viễn . Ðây là chỗ Ðức Phật Thích Ca nhằm hướng dẫn chúng sinh đạt đến ". (Hết phần trích dẫn) .
4. Tịnh độ tông bị chỉ trích là nặng về nghi lễ và hình tướng .
Ðiều mà ngoại đạo công kích đạo Phật là sùng bái thần tượng và nặng về hình thức . muốn biết điều công kích đó có đúng không, tưởng nên nhắc lại ở đây rằng Phật giáo chủ trương "tứ đại giai không" nghĩa là vạn vật , vạn sự trong vũ trụ là do nhân duyên tạm thời tập hợp lại mà thành không có một bản thể nào thực tại bất biến, do vậy Phật giáo chủ trương "phá tướng" tức là đả phá quan niệm cho rằng mọi vật mãi mãi không thay đổi . Như vậy thần tượng phải chăng là"cái tướng" mà Phật giáo phải đả phá . Cần phải khẳng định hoàn toàn điều đó bởi vì ngẫu tượng chỉ là làm bằng gỗ, đá , đất sét, tức là một hợp thể giả tạo của nhân duyên và tất nhiên bản thể của nó là "không" . Có người lại hỏi vặn, đã là giả hợp tạm thời của nhân duyên thì tại sao chùa nào cũng thờ tượng ?
Ðể giải đáp vấn đề này, ta phải xét Phật giáo về hai mặt Triết lý và Phương tiện .
- Về mặt triết lý : Phật giáo cho rằng tượng Phật là do các vật liệu gỗ, đá , đất sét và công sức của con người (duyên) tạo nên, tháo gỡ nó ra là Không, không có một chủ thể bất biến nên bản thể là ‘Không". Một pho tượng trên đài hoa sen có thể gọi là Phật A Di Ðà, cũng có thể gọi là Phật Thích Ca, Phật Ca Diếp hay Phật Nhật Nguyệt Năng, điều đó có gì là không được. Sự phân tích đối với sự vật nói trên, trong Phật giáo trước gọi là ‘Không quán’, sau gọi là ‘Giả quán’. Tuy rằng bản thể của tượng là hình thù, xưng hô đều là giả, nhưng điều đó không chứng tỏ Phật giáo phủ định sự tồn tại của tượng Phật, vì tượng Phật tuy là giả hợp, vẫn khiến con người nảy sinh cái "tâm’ như nhìn người hiền thì tâm tư trong sáng khiến người ta nảy sinh tư tưởng ngưỡng mộ Phật pháp.
- Về mặt phương tiện giúp đỡ chúng sinh : trên đời này, nếu ai cũng có đầy đủ trí tuệ thì có lẽ không cần đến tượng nữa, bởi vì lúc đó, Phật ở trong tâm mỗi người.
Nhưng đâu có phải ai cũng là bậc thánh hiền, đại trí. Ðiều mà họ không nhìn thấy được, không sờ mó được thì họ không chịu tin. Họ không khởi được cái tâm ngưỡng mộ Phật pháp nhiệm màu. Ðối với chúng sinh căn cơ hạn hẹp, mê muội thì không thể không dùng những phương tiện thiển cận thế tục như nghi lễ, rước sách, chiêng trống, hình tượng làm chiếc cầu dẫn dắt. Do vậy việc sùng bái ngẫu tượng chính là để thể hiện Chân lý mà ngẫu tượng tượng trưng, chứ không phải ở bản thân ngẫu tượng. Còn việc dùng nghi lễ trong Phật giáo nói chung và trong Tịnh độ tông nói riêng, chính là để làm cho Phật giáo thêm tôn nghiêm : chúng ta hãy thử tưởng tượng ra một ngôi Tự viện mà trong đó không có tiếng chiêng, tiếng trống, tiếng kinh, tiếng kệ hoà với tiếng chuông, tiếng mõ, không có nhang đèn, thì ai còn đến đấy làm gì. Vì vậy nên lễ nghi, sắc tướng chẳng qua là cái phương tiên bên ngoài, đưa con người vào Ðạo mà thôi. Vả lại ta thử nhìn quanh ta mà coi ; từ trong các tôn giáo ra đến ngoài xã hội, chỗ nào cũng phải cần đến hình thức bên ngoài. Quốc gia nào cũng đều phải có quốc kỳ, quốc ca, cũng phải treo chân dung Lãnh tụ, thờ các vị anh hùng, các bậc khai quốc, chẳng qua cũng chỉ để khơi dậy lòng yêu nước, lòng ngưỡng mộ của nhân dân đối với lãnh tụ, với những người có công với nước mà thôi.
Kết luận :
Có một điều mà không ai phủ nhận được – một điều tưởng như một nghịch lý – là con người càng văn minh thì lại càng trở thành man rợ :
Ca dao ta có câu : "Ghét nhau đến cả đường đi lối về"Các nước văn minh đua nhau sản xuất vũ khí để bán cho các nước lạc hậu đánh lẫn nhau, trong khi miệng vẫn ra rả kêu gọi hòa bình Các nước lạc hậu bắn giết nhau vì đủ mọi lý do : tranh chấp đất đai, phân biệt chủng tộc, kỳ thị tôn giáo, nhất là kỳ thị tôn giáo. Chiến tranh Iran – Irak cách đây hai mươi năm cũng vì sự tranh chấp giữa hai phe Hồi giáo Chiite và Sunite, chiến tranh tôn giáo và sắc tộc ở Nam Tư cũng xảy ra giữa người Thiên Chúa giáo và Hồi giáo ; ở Aán Ðộ ba tôn giáo lớn là Hồi giáo, Aán giáo và Thiên Chúa giáo (La Mã) cũng hàng ngày xung đột nhau và gần đây nhất, là ở Indonesia, Hồi giáo và Thiên chuá giáo giết nhau không gờm tay. Báo chí Tây phương đã gọi họ là những "người điên của Thượng Ðế" (les fous de Dieu). Văn minh đến như Aùi Nhĩ Lan mà con cái của Chúa Kitô cũng sát hại lẫn nhau giữa phe Tin Lành và phe Thiên Chúa giáo (La Mã). Câu này đem áp dụng vào cuộc tranh chấp tôn giáo tại Bắc Aùi Nhĩ lan là rất đúng vì phe Tin Lành muốn rước kiệu Chúa phải đi qua khu vực của người Thiên Chúa giáo, do đó mà xảy ra xô xát vì bên nào cũng cho mình là chính truyền.
Sở dĩ tôi phải dài dòng như trên, chỉ nhằm để nói lên điều này :
Trong khi các tôn giáo lớn cứ chém giết lẫn nhau : Hồi giáo với Hồi giáo, Hồi giáo với Thiên Chuá giáo, Aán giáo với Hồi giáo, Aán giáo với Thiên Chuá giáo, Thiên Chúa giáo với Thiên Chúa giáo, chỉ có Phật giáo là không đánh nhau với ai. Cũng chẳng có ai đánh nhau với Phật giáo. Tại sao vậy ? Xin được nhường lời cho Thiền sư Mathieu Ricard – tiến sĩ vi sinh vật đại học Paris, nguyên là chuyên viên về vi sinh vật, nay là tu sĩ Phật giáo Tây Tạng – khi Ngài trả lời câu hỏi của cha Ngài là Viện sĩ Hàn Lâm Viện pháp kiêm triết gia, ký giả, giáo sư triết học Jean Francois Revel. Chúng tôi xin dịch nguyên văn phần hỏi và giải đáp của hai cha con thiền sư để ta cùng suy ngẫm :
Hỏi : Tại sao phương Tây càng ngày càng chú ý đến Phật giáo. Và điều đó làm bố laị liên tưởng đến một câu nói của nhà sử học Anh Arnord Toynbee : "Một trong những biến cố có ý nghĩa nhất của thế kỷ 20 sẽ là sự du nhập của Phật giáo vào phương Tây".
Ðáp : Sở dĩ người ta quan tâm đến Phật giáo là do nhiều yếu tố. Trước hết đối với những ai dấn thân vào cuộc sống tâm linh và biến cuộc sống đó thành một lớn lao của đời mình, Phật giáo đang đem đến cho họ không chỉ một thứ siêu hình và một thứ đạo lý sống động mà còn là những phương tiện để làm cho con người mình được sống đạo đức. Tiếp theo và có lẽ đây cũng là điều Phật giáo có thể đem đến nhiều nhất cho phương Tây, đó là Phật giáo đã đem đến cho cả người có đạo và không có đạo một cái nhìn độ lượng, cởi mở về tâm hồn, vị tha, một sự tin yêu êm đềm, một môn học về tâm linh, nó giúp cho ta tìm được sự an ổn cho chính ta trong nội tâm và góp phần vào việc làm nẩy nở sự an ổn đó ở nơi người khác. Hơn nữa đạo Phật chỉ cống hiến những tư tưởng chứ không tìm cách áp đặt những tư tưởng đó, lại càng không nhằm cải giáo bất cứ một ai. Ðạo Phật chỉ đơn thuần chia sẻ kinh nghiệm với những ai mong muốn điều đó .
Ðức Ðạt Lai Lạt Ma thường nói : "Tôi không đến Tây phương để kiếm thêm một hay hai Phật tử mà chỉ để chia sẻ kinh nghiệm của tôi về một nền Ðạo lý mà Phật giáo đã khai triển dọc theo nhiều thế kỷ" và Ngài còn luôn luôn kết thúc những bài nói chuyện của Ngài bằng câu này : "Nếu quí vị thấy trong lời tôi nói có điều gì hữu ích, thì xin quí vị hãy lợi dụng nó, bằng không xin quí vị hãy bỏ rơi nó". Ngài còn đi xa hơn khi khuyên các vị Lạt Ma Tây Tạng đang lưu hóa: "Các thầy đừng nhấn mạnh đến giáo lý của đạo Phật mà hãy đem kinh nghiệm của ta ra, cái kinh nghiệm của con người với con người". Hơn nữa, khi ta tìm cách cải giáo một ai, có thể không những ta thất bại, mà vô tình ta đã làm suy giảm lòng tin của người đó vào chính cái đạo của người đó. Một sự vận động như vậy phải nên tránh. Tốt hơn là ta nên khuyến khích những ai có đạo nên thâm cứu thêm cái đạo của mình. Nói tóm lại, điều cần không phải là tìm cách cải giáo người khác, mà là góp phần làm cho người khác được lợi lạc hơn. (hết phần trích)
Mong rằng những lời dạy của Thiền sư Mathieu Ricard sẽ có ngày lọt vào mắt của Chơn Quang và của tất cả những ai còn nghi ngờ về tính chất cao cả mà thực dụng của Phật giáo.
Pháp Chánh________________Sách tham khảo :
Cổ văn Trung Quốc : Nguyễn Hiến Lê. Tư tưởng Phật học : Walpola Rahula, cô Trí Hải dịch. Tinh thần và nét đặc sắc của Phật giáo : Lâm Thế Mẫn, Linh Chi dịch. Phật giáo lược khảo : Phạm Quỳnh. Bước đầu học Phật : TT. Thích Thanh Từ. Le moine et le philosophe : Jean Francois Revel và Mathieu Ricard – Nguyễn Thạch dịch.
Trích đoạn băng giảng của "Sư" Chơn Quang
Trang Quan Ðiểm
Trang chính