canba.gif - 14.5 K

 

 

 

Xin một đề tựa cho những câu chuyện trong đây. Bác Hai bảo là "CẶN BĂ KƯ ỨC"

Ôi! Cặn bă rồi làm sao?

Cặn bă không thể xài được nữa! Thôi hăy dùng làm phân bón cho những khóm hoa mai hậu.

 

 

 

LỜI NÓI ĐẦU

Chúng tôi may mắn quen biết Bác Hai Như Sanh và có duyên được kể cho nghe những mẫu chuyện vừa ư dị vừa dí dỏm, qua các cuộc đàm thoại với đồng đạo. Nghe qua chúng tôi thấy rất bổ ích, có thể lấy đó làm bài học tùy nghi ứng xử trong đời thường.

Đây là truyện kể bằng văn nói, điều đáng tiếc là chúng tôi lại không chuyên viết lách. Có thể nói chưa từng làm việc này lần nào. Nhưng v́ sự hữu ích, muốn được nhớ dài lâu nên chúng tôi không ngại ghi lại.

Nếu ngẫu nhiên những CẶN BĂ KƯ ỨC này có lọt trong tầm mắt quư vị độc giả, rất mong "đạt ư quên lời".

Ư Bác Hai Như Sanh chỉ muốn nêu lên một quan niệm tu hành thực tiễn, phóng khoáng, tu không xa rời cuộc sống cũng như người ta không thể xa rời hơi thở, và hiển thị nó bằng những "bằng chứng sống" trong kinh nghiệm tự thân.

Riêng đối với Bác Hai, có xem qua xin Bác bổ chính thêm cho! V́ truyện Bác kể mà chúng con viết lại tất nhiên không thể nào trángh khỏi những sơ sót, thậm chí lệch lạc cả thâm ư Bác gởi gấm trong đó nữa!

 

NHÓM SƯU TẬP

Ghi chú:

ĐT:Đức Thầy

TS: Thanh Sĩ

SG: Sám Giảng

 

1. THAM HƠN

Có hôm Bác ghé "cốc" của đứa cháu, thấy trên vách có ghi:

"Kiếp sau xin chớ làm người

Làm thân sen báu bên trời Tây phương".

Nhiều người khen hay!

Bác nói:

Tu mà tham quá!

Nêu chuyện trên dụng ư đưa ra vài dữ kiện để suy tư với cả hai chiều định lư, hầu t́m một lối thoát chính xác cho khỏi cảnh:

"Kiến kia miệng chậu ḅ quanh,

Tưởng xa nhưng chẳng khỏi vành chậu ô".

Tác giả thấy ḿnh quanh quẩn măi, chưa ra khỏi ṿng đai VỊ NGĂ nên nêu lên đề tài THAM HƠN ngầm mong một sự xót thương chung!]

 

 

 

2. PHẬT BÀ HÓA HIỆN

Bác Hai thích thực tế, không ưa chuyện mơ hồ. Bác có quen mấy cháu ở Vĩnh Chánh, những người niệm Phật kiên tŕ lắm! Họ tự qui định ngày niệm mấy muôn, nếu thiếu phải thức khuya dậy sớm niệm bù lại.

Một hôm có dịp Bác nói với các cháu ấy:

Không rơ cơ duyên làm sao mà Bác lại niệm Quan Thế Âm Bồ Tát nhiều hơn niệm Phật.

Một cháu hỏi:

Ông Hai ơi! Con nghe người ta nói niệm Quan Thế Âm hay thường nằm mộng thấy Phật Bà lắm! Vậy Ông có mộng thấy Phật Bà lần nào hôn?

Bác đáp:

 Không! Ông không chiêm bao gặp, mà có gặp Phật Bà hiện ra ban ngày ở Long Xuyên.

Cô bé tỏ vẻ ngạc nhiên, mở to mắt nh́n Bác.

Bác kể tiếp:

 Hôm ấy khoảng 34 giờ chiều. Chiếc xe Long Xuyên  Cái Dầu sắp rời bến. Nhưng có một băng chưa đủ người, v́ có một ông cùi ngồi nên c̣n hai chỗ không ai chịu ngồi cả. Lẽ ra với số khách đó cũng đủ cho xe rời bến, nhưng v́ dưới bến c̣n khách nên lơ xe t́m cách chở đủ số lượng. Bác tài lại thương thuyết ǵ đó với ông cùi, nhưng ông tỏ vẻ bất b́nh, không chịu. Sau cùng chú lơ xe lại đôi co:

 Ông đi làm tôi mất hết hai chỗ ngồi.

 Việc đó đâu phải lỗi tại tôi, Ông cùi đáp. Người ta không đi mặc họ, tôi đi trả tiền đủ thôi!

Chú lơ cáu lên:

 Ông xuống đi xe khác, tôi cho tiền xe ông!

Ông cùi đáp:

 Tôi cần về nhà, chứ không cần tiền. Nếu ai cũng nói như chú th́ tối nay tôi ngủ đâu?

Không giải quyết được, tài xế và lơ xe lằng nhằng hoài. Hành khách cũng nhốn nháo. Ngay lúc ấy, một cô hành khách rất "moden" đứng dậy nói:

 Để tôi giải quyết cho!

Chú lơ xoay lại hỏi:

 Chị chịu trả thêm hai chỗ ngồi nữa hôn?

Không cần! Cô ấy nói. Tôi giải quyết ổn thôi.

Rồi cô đến bên ông cùi và nói:

 Thưa Bác, Bác ngồi sát vô con ngồi kế Bác là xong!

Cô vừa ngồi bên ông cùi, một người lên ngồi cạnh cô và một người khác đến ngồi ghế cô vừa bỏ trống.

Xe rời bến, người cư sĩ chứng kiến sự việc năy giờ tự nhủ:

 Lẽ ra việc làm đó là việc của ḿnh, nhưng v́ ḿnh chờ xem, ngờ đâu cô "moden" kia giải quyết đẹp quá!

(Chính vị cư sĩ này thuật lại chuyện trên).

Đến đây Bác kết thúc câu chuyện:

 Cô gái moden là hiện thân của Phật Bà đấy!

Cháu bé lên tiếng ngay:

 Con thà trả thêm hai chỗ ngồi nữa, chứ không thể ngồi như vậy được!

Bác nói:

 Phật Bà ngồi mới được! Chứ cư sĩ ngồi không được đâu![

 

 

4. PHẬT ĐI NHỜ

Bác Hai có chiếc ghe độ sáu bảy chục giạ mà mấy cháu mượn đi mua bán chuối ở Long Xuyên. Bến chuối th́ nhỏ mà ghe chuối rất đông. Chiếc nào đến sau phải đậu ngoài chờ trống mới chen vô được. Ghe chuối nào cũng có 5  7 buồng chín, cần giải quyết sớm. Có ghe đến đậu sau ghe Bác. Chủ ghe hỏi đi nhờ trên mui ghe ḿnh để đem chuối chín lên, Bác đồng ư.

Ghe Bác nhỏ, đậu cạn, mà gánh chuối đi trên mui nên rúng ghe lắm! Mấy cháu than:

 Đi như vậy tụi con thấy nhót ruột lắm! Đành rằng ghe của Bác, Bác cho người ta đi nhờ, nhưng cũng tại tụi con mượn đi buôn nên mới có cảnh này.

Bác đáp:

 Kệ rángg giúp người ta trong lúc ngặt. C̣n ghe ḿnh sớm hay muộn ǵ nó cũng phải hư thôi! Mà... Phật đi đó, chứ phải người phàm sao?

Mấy cháu hiểu ư nên cùng mỉm cười!|

 

 

5. ĐẶNG CHÀI ĐẶNG CH̀

Cô Bé (cô tên Bé) ở Long Xuyên là cư sĩ tại gia. Cô có hứa với mấy chị bạn (mấy cô này cất cốc tu theo hạnh xuất gia) là để cô thu xếp việc nhà rồi sẽ cất cốc gần với mấy chị đặng tu.

Hôm nọ, cô Bé gặp Bác Hai bèn hỏi ư kiến:

 Con muốn cất cốc tu, chú Hai thấy sao?

Bác hỏi lại:

 Gia đ́nh cháu khá không? Anh em nhiều ít? Cha mẹ c̣n không?

Cô đáp:

 Nhà có ăn, cha mẹ c̣n đủ, anh em có ít người mà ai cũng dành nuôi cha mẹ hết.

Ư cô muốn nói rằng cô rất rảnh, khỏi lo tiếp gia đ́nh. Bác Hai th́ không có lập trường là phải tu tại gia, tu cốc hay chùa ǵ cả! Nhưng v́ cô Bé nói anh em cô có ít người mà ai cũng dành nuôi cha mẹ hết, nên Bác mới nói:

 Ủa! Sao người ta không tu mà biết dành nuôi cha mẹ, c̣n ḿnh tu mà không biết dành nuôi?

Thế là cô Bé bỏ ư định cất cốc. Ít lâu sau mấy cô cư sĩ rủ cô bé cất cốc hôm nọ đó, mời Bác Hai ghé cốc mấy cổ chơi. Sau khi cơm nước và đàm luận một lúc lâu, mấy cô mới nói:

 Nhờ anh Hai giải thích giùm: Cái hiếu thế gian và cái hiếu xuất thế gian!

 Chèn ơi! Hồi nào tới giờ tôi không phân chia cái hiếu ra như vậy nên không biết. Theo ư tôi th́ con người làm cách nào đó để đền ơn cha mẹ, là người con có hiếu.

Mấy cô nói:

 Có người quan niệm phải xuất gia tu hành đắc đạo để cứu vớt cha mẹ. Vậy anh thấy sao?

Bác đáp:

 Cái đó quí vô cùng, nhưng nên nhớ: "Đặng chài đặng ch́; mất chài mất ch́" nhé!

 

6. HẠNH PHÚC TRONG TẦM TAY

Ông giáo, nhà ở trong ngọn, dạy học ngoài vàm và ở luôn bên vợ ngoài ấy.

Bữa nọ chiếc tàu đ̣ trong ngọn chạy ra, dừng chầm chậm ngay trường học. Có một người tḥ đầu ra hỏi to:

 Có thầy A ở đó không?

Lũ học tṛ đáp:

 Dạ không có! Thầy A chưa đến!

 Bây báo tin gấp cho ổng hay:"Má ổng chết rồi!".

Tàu mở máy chạy luôn. Học tṛ hỏa tốc chạy cho thầy hay! Ông giáo quưnh quáng, báo cho gia đ́nh bên vợ và Ban Giám Hiệu. Ai nấy vội vàng đi mua đồ phúng điếu. Riêng thầy A đạp xe chạy thục mạng về trước, ḷng buồn vô hạn. Ông đinh ninh từ nay đă mất mẹ rồi!!!

Về tới nhà, xe vừa quẹo vô tới cửa rào thấy mẹ xách hai thùng nước nhỏ tưới trầu, ông quăng ngay chiếc xe, nhào lại ôm mẹ kêu:

 Trời ơi! Má! Má! Má ơi Má!

Bà già ngạc nhiên hết hồn, không biết vụ ǵ mà con bà ôm chặt lấy bà với nước mắt ràn rụa và cứ kêu má măi! Hồi lâu ông giáo mới bệu bạo:

 Vậy mà ai ác ôn, nhắn tin nói má chết rồi!

Lát sau, bên vợ ông giáo và mấy thầy cô đồng nghiệp chở đồ phúng điếu vô đến, hay rơ sự việc ai nấy cười ngất. Sẵn đồ đạc, thôi th́ họ làm một bữa tiệc ăn mừng!

Bây giờ ông giáo rất vui. Ông không oán trách kẻ trác ḿnh, v́ vụ "chơi khăm" vừa qua giúp ông nhận được bài học quí.

"Mẹ c̣n là nguồn hạnh phúc lớn lao!" Chớ có thờ ơ uổng phí!!!

 

7. CẢM NHẬN

Có một cháu hỏi:

 Câu thành ngữ: "Máu ai thơm thịt nấy" là sao Bác?

 Thường th́ mẹ rất thương con. Có khi con ḅ chơi dưới đất, mặt mày lem luốc mà mẹ vẫn ẵm bồng hôn hít một cách ngọt ngào, thơm lắm!

"Máu ai thơm thịt nấy" là thế!

 Các câu tục ngữ luôn luôn ư nghĩa rất sâu xa, mà câu này con nghĩ măi thấy nó cũng tầm thường, có ǵ đâu! Nay Bác nói con mới nhận ra.

 Cái đầu không biết đâu. Trái tim mới nhận được!¶

 

 

8. BỮA CƠM NGON TUYỆT

Vợ chồng chú Bảy mua bán máy cũng phát tài lắm! Chú thím đều dùng chay trường.

Một hôm gặp Bác, thím than văn:

 Chú Hai ơi! Ông nhà tôi dạo này ổng ngán ăn tương quá rồi! Chú làm sao khuyên giúp giùm.

Nhân có mặt chú Bảy ở đó, Bác nói:

 Ăn chay không nổi tôi biết nói sao bây giờ, tính sao đó tính.

Rồi Bác nói tiếp:

 Có hai vợ chồng chú Út nọ, đều là giáo viên, đời sống cũng tương đối khá. Chú có người anh là sĩ quan ngụy, học tập hơn 5 năm mới về.

Trong câu chuyện ông anh kể lại những nỗi khổ ở trại cải tạo, có nhắc đến ông Bác sĩ trước là Trưởng ty Y Tế Kiến Phong (Đồng Tháp) cũng học tập cùng trại.

Ông Bác sĩ khao khát được ăn một miếng canh rau tươi. Bên ngoài vách trại có loại rau trai. Ông lấy kẽm gai làm cây móc để khều từng cọng rau kẽ theo vách, khó khăn lắm mới nhặt được một đọt. Được 57 đọt ông rửa sạch để vào lon Guigoz cho vào ít nước và muối, đậy kín gởi trong chảo cơm. Thế là bữa đó có món canh ngon! Mà lâu lắm mới được một bữa như vậy. Chế độ ăn uống trong trại thật kham khổ, một cái hột vịt tám người ăn v..v.. Cả cơm cũng thiếu!

Nghe ông anh kể nỗi khổ trong tù, chú giáo xúc động lắm!

Chiều hôm đó vợ chú dọn cơm canh bồ ngót với cá kho. Bữa cơm b́nh dân, đạm bạc thôi, thế mà chú ăn ngon lạ!

Do sự xúc động thương tâm v́ chuyện nhọc nhằn, thiếu thốn, khổ đau trong tù của người anh, khiến chú thấy bữa ăn đơn giản ấy trở thành thịnh soạn, ngon hiếm có vậy!

Bác kể đến đây thôi, không kết luận.{

 

9. TỤNG - NIỆM, CÁI NÀO HƠN?

Một ông bạn hỏi Bác Hai:

 Theo ư anh tụng  niệm, cái nào hơn?

Bác trả lời:

 Hai cái đó chẳng có cái nào hơn cái nào cả. Hơn kém do sự dụng tâm của con người. Nếu ḿnh niệm Phật mà thấm nhuần các đức Từ, Bi, Hỷ, Xả của Phật và đem ứng dụng vào đời sống, cái tác dụng đó mới đáng kể. C̣n tụng kinh mà ḥa nhập cuộc sống sát với nghĩa lư trong kinh th́ sự tụng kinh ấy mới có giá trị.

Ngược lại, nếu niệm Phật mà không thể hiện được đức Từ, Bi, Hỷ, Xả của Phật; tụng kinh mà không thấu được nghĩa lư, không sống khế hợp với lời dạy trong kinh th́ cũng như trả bài vậy thôi! Tóm lại, do dụng tâm đúng sai mà có hơn kém, chẳng phải do tụng hay niệm.

Ông ấy hỏi tiếp:

 Theo tôi nghĩ ḿnh khởi tâm muốn niệm Phật là động. Niệm năm mười tiếng rồi khởi tâm niệm Phật thêm là động nữa. Vậy có phải động không?

Bác Hai đáp:

 Đúng rồi! Khởi tâm niệm Phật là động. Nhưng, thí dụ nhà hàng xóm gặp tai nạn nguy cấp, ḿnh lo lắng cứu giúp lăng xăng th́ đó là động mà ḷng ḿnh cảm thấy b́nh an. Thế là động, mà vẫn tịnh. Lại có khi ḿnh ngồi không, chẳng làm ǵ hết lại không an. z

 

 

10. SỐNG CHẾT LÀ MỘT

Có người hỏi:

 "Sống chết là một". Là sao Bác Hai?

Bác đáp:

 Mỗi một ngày qua, có thể nói ḿnh sống thêm được một ngày, hay bảo rằng ḿnh đă chết đi hết một ngày cũng đều đúng!|

11. XIN MỘT LỜI KHUYÊN

Có mấy cháu đến nhờ Bác dạy cho những kinh nghiệm tu hành.

Bác trả lời:

 Bác chẳng có kinh nghiệm ǵ cả, chỉ coi Sấm giảng mà tu như mấy cháu vậy thôi.

Mấy cháu năn nỉ:

 Thôi th́ Bác cho cháu một lời khuyên.

Bác nói:

 Việc tu hành điều quan trọng là phải thành thật với chính ḿnh. Nếu không thành thật với ḿnh th́ không thể tu được. Với người, đôi khi ta có thể dấu được. V́ sao? Bởi có những sự thật không nên nói, v́ nói không có lợi. v

 

12. KHỎI CHỈNH

Bác có người bạn trường chay, vừa sắm thùng suốt lúa mướn. Có lần Bác ghé thăm chơi, xem việc làm ăn của bạn khá không?

Ông bạn ấy than thở:

 Làm kiếm ăn được. Có điều từ hôm suốt lúa mướn đến nay, tôi hay nổi sân quá chừng! Nhiều cái tức lắm! Anh coi, hai ba chủ ruộng qua đây kéo tiếp thùng suốt đến đất của họ đặng suốt. Đến nơi, có con mẹ đó đ̣i phải suốt cho nó trước, v́ nó bận việc nhà. Nó cự nự vang dội! Tức quá, tôi la: "Bộ bây mẹ người ta hả? Đẩy thùng qua mệt muốn chết, bây không tiếp, bây giờ giành suốt trước!"

Đại loại như vậy, theo máy suốt riết tôi hung dữ lắm rồi! Anh ở lại chơi chỉnh tiếp giùm tôi.

 Được rồi! "KHỎI CHỈNH!" Để vậy, người ta gặp ai ăn chay trường họ mới ngán, không dám ăn hiếp chứ!!!̀

 

13. VỀ TÂY PHƯƠNG

Một lần nọ Bác về viếng chùa Tây An và thăm mấy cô cư sĩ tu thuở trước. Lâu quá mới gặp lại, ai nấy đă già cả hết rồi! Mấy cô mừng Bác và trách:

 Sao lâu ghê anh không về đây chơi. Thỉnh thoảng anh ghé qua để khuyến tấn tụi em tu tiến, đặng có về Tây phương, chứ ở cơi Ta bà này nhiều chuyện bực ơi là bực!

Bác nói:

 Thôi về trển làm chi! Ở trần này mà biết thương yêu, tha thứ và đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau cũng vui rồi. Về Tây phương mà người ngồi cao, người ngồi thấp rồi háy nguưt nhau cũng vậy hà!

 

14. XÓA MẶC CẢM

Một hôm Bác đạp xe lên Long Xuyên, đến giữa dốc cầu Cái Sắn xe chậm lại v́ hết trớn. Ngược chiều với Bác, một chú bộ đội mặc quân phục (nylon dầu), đội nón tai bèo, dáng vẻ xem khó thương lắm! Xe chú ta cũng sắp hết trớn nên chậm lại khoảng giữa cầu.

Bên lan can cầu có mấy đứa nhỏ xin ăn ngồi thơ thẩn ở đó. Thấy chú bộ đội vừa đạp xe chầm chậm, vừa nh́n lom lom mấy đứa nhỏ ấy, Bác nghĩ bụng chắc hắn ghét tụi nhỏ lắm (Cách Mạng vốn không thích người ăn xin). Không ngờ, chú ngừng xe lại và ra dấu gọi mấy đứa bé cho tiền, rồi chú thả dốc chạy luôn xuống Thốt Nốt. Bác cũng gọi chúng nó qua cho tiền, rồi thả dốc chạy lên Long Xuyên.

Bấy giờ mặc cảm không c̣n. 

 

15. BA PHẢI !

­ LÀM BIẾNG TU ĐƯỢC KHÔNG?

Một cháu gái hỏi:

 Con làm biếng chắc tu không được hả ông?

 Ồ! Làm biếng tu là khỏe nhất. Ông cũng tại làm biếng mới tu đó! Lo gánh vác gia đ́nh, vợ con đau đói, làm ăn thắng thối lỗ lời... mệt chết! Làm biếng nên chọn đường tu là đúng rồi!!!

­ HAY LO QUÁ TU ĐƯỢC KHÔNG?

Một cháu thợ may hỏi:

 Con tánh hay lo "bá ban vạn sự" lu bu chắc tu không được quá chú?

 Tánh hay lo tu được lắm cháu! Thứ "đặng không mừng, mất không lo" mà tu ǵ? Hay lo là tu được, cứ tu đi!

 Hèn chi người ta bảo chú là "ông già ba phải". Cái ǵ cũng được, cũng phải hết!¯

 

16. THIỆN HAY ÁC?

Người toán trưởng nhóm tù Nga, một hôm dẫn tù đi lao động. Một tù nhân ở chỗ khuất gió, ấm áp (xứ Liên Xô mùa đông lạnh khủng khiếp) nên anh ta ngủ quên. Hết giờ lao động, lính điểm danh dẫn tù về. Thấy thiếu một người, cả toán tù chia nhau đi t́m. Cuối cùng họ gặp anh đang ngủ. Anh ta bị lôi ra. Một người lính trở bá súng toan đánh. Người toán trưởng thấy thế, nhào lại đánh đá người tù túi bụi và đẩy anh ta xếp vào hàng.

Hành động đánh trông hung hăn lắm! Nhưng anh toán trưởng muốn "cứu bồ" đấy! Nếu không làm như thế, để tên lính đập bằng básúng chắc người tù kia mệt lắm!

"Ở h́nh thức, thế nào là thiện ác!"c

 

 

18. THÉT THẲNG CON ĐƯỜNG

Có cô ở Long Xuyên, tu lâu rồi mà thường gặp chuyện buồn phiền, bứt rứt trong ḷng. Gặp Bác, cô ấy hỏi:

 Anh Hai à! Không hiểu sao tôi tu mà cứ gặp chuyện lu bu hoài không yên?

Bác đáp:

 Tại cô chưa "Thét thẳng con đường".

Cô làm thinh! Mấy tuần sau gặp lại, cô nói:

 Hôm trước anh nói mà tôi không dám căi, v́ xưa nay anh nói ít trật lắm. Nhưng việc này tôi nghĩ măi chưa ra! Tôi th́ đă quyết tâm tu từ lâu, nguyện dù bỏ thân, chớ không bỏ đạo. Mà anh bảo tôi chưa thét thẳng con đường, là ư làm sao?

Bác đưa ra thí dụ:

 Như cháu bé (chỉ cháu nội của cô ấy) ḅ ra lan can nhà phía sau mé sông, sắp té. Cô thấy vậy, gấp rút ra bồng nó lên. Lúc ấy những chướng ngại vật như cây củi, bàn ghế, ly chén... nằm ngổn ngang giữa đàng đi, cô bước trángh nó để dễ dàng ra ẵm cho kịp cháu bé, chớ không cảm thấy bực dọc và rầy la như thường ngày. Cô tu mà không thét thẳng con đường nên c̣n bận bịu vô số vấn đề vặt vănh không đâu. Không hỷ xả, cứ ôm gồm đủ thứ nên cô luôn luôn gặp phiền năo là vậy!v

 

19. TẦM ĐẠO KIẾM BÀI

Một hôm Bác nằm ở nhà người quen đọc quyển "Khuyến Thiện". Đọc đến đoạn:

"... thức dậy mà tầm đạo kiếm bài,

Để thi cử khỏi mang tiếng rớt"

Cô gái của chủ nhà ở đâu dưới bếp chạy lên hỏi:

 Anh Hai! Kiếm bài ǵ ở đâu anh?

Th́ bài đang học đây nè!

Bác vừa đáp, vừa vạch vạch quyển giảng.

 Em hỏi thiệt mà!

 Th́ tôi cũng nói thiệt đó! Cô nghe tiếp vài câu nè!

Bác đọc tiếp:

"Sách khuyến thiện, miệng kêu không ngớt. Mà nào ai có thức dậy tầm..."

Thế là bài học trong tay ḿnh hăy rángg t́m cho hiểu lư để tu hành, đừng mong ngóng viễn vông, phải không cô?

Cô gật gật đầu chạy tuốt xuống bếp. 

 

20. TU KHÔNG TIẾN?

Cô cư sĩ hỏi:

 Chú Hai ơi! Sao tu hoài mà không thấy tiến?

Bác nói:

 Về kiếm chuyện gây lộn một trận với người ta tơi bời th́ nó tiến hà!

Cô tưởng nói chơi nên lập lại câu hỏi một lần nữa.

Bác trả lời y như vậy rồi thôi!

Vài tháng sau gặp lại, cô nói:

 Hôm hổm chú nói, nay con biết rồi.

Bác cũng không hỏi xem cô hiểu biết ra sao.

Sở dĩ Bác trả lời với cô ấy như vậy là v́ thấy cuộc sống của cô rất bằng phẳng, êm đềm, không có đụng chạm, chẳng có ǵ để thắc mắc, suy tư, để soi rọi lại ḷng ḿnh. 

 

21. THỬ L̉NG

Có mấy cháu gái đến chùa Từ Quang tu học một thời gian. Trong chùa có bà Năm cũng vào chùa tạm trú để niệm Phật. Bà Năm rất khó tánh, không ai biết làm sao mà ch́u theo bà được! Bà thường rầy la, trách cứ các cháu (nhất là mấy đứa cháu gái). Chúng nó phiền muộn than thở măi!

Ông trụ tŕ chùa thường khuyên răn bà, nhưng tre già khó uốn!

Bác Hai thương xót các cháu v́ mến mộ đạo đức mới đến đây học hỏi, mà phải chịu cảnh ray rức, buồn phiền này!

Một hôm Bác đến cốc mấy cháu để khuyên nhủ:

 Người tu nhờ những cái bất như ư, những sự va chạm, khó khăn để có dịp soi rọi lại ḷng ḿnh mà tu sửa. Ḿnh tu, không lẽ ra ngoài xóm chọc cho thiên hạ mắng ḿnh để ḿnh tu! Thôi sẵn có "Bà Năm rắc rối" đây ḿnh tu với bả đi, không mắc công chọn người khác.

Nhờ lời khuyên có vẻ "têu tếu" đó mà mấy cháu mát mẻ suốt thời gian tu học ở chùa. Mỗi lần, "bà Năm rắc rối" rầy la ǵ đó, th́ mấy cháu nh́n nhau cười cười là hết chuyện.¶

 

22. TỰ DO VÀ TRÓI BUỘC

Có người thắc mắc làm phước thiện ḿnh có bị trói buộc bởi phước báo của ḿnh?

Bác nói:

 Ḿnh được tự do trong nghiệp lành, chứ không được tự do trong quả ác.

Ví dụ số ḿnh được phước báo mạnh khỏe, sống lâu, mà ḿnh không muốn sống th́ cứ tự vận. Hay ḿnh đang giàu có mà không muốn giàu th́ có quyền bỏ đi dễ dàng. Ngặt ḿnh đang đau ốm hay nghèo khổ mà ḿnh không muốn cũng chẳng được. V́ lẽ đó mà chư Phật Tổ dạy ḿnh "Phải làm lành, làm phước" là vậy.

Nghiệp lành đă không trói buộc được ḿnh, mà nó c̣n giúp ḿnh tiến nhanh trên đường đạo nữa.¯

 

23. SẠCH VỌNG CHẾT C̉N G̀!

Sư Giác Thanh có xem qua quyển Ṭng Lâm Cổ Tích của Bác Hai và Sư thích lắm. Một hôm, Sư ghé thăm người bạn của Bác.

Sư nói:

 Tôi tin tưởng Bác Hai Như Sanh kiếp này sẽ sạch vọng.

Người bạn kia kể lại cho Bác nghe, Bác cười nói:

 Người ta sống nhờ có ba cái vọng, sạch vọng chết c̣n ǵ!

Ít lâu sau gặp lại Sư, bạn Bác thuật lại câu nói trên của Bác cho Sư nghe. Nghe qua Sư cười nói:

 Bác Hai nói vậy tôi hiểu, "Kính gởi Bác một thoi".{

  

24. B̀NH THIÊN KHÔNG B̀NH ĐỊA

Một cô hỏi:

 Ḿnh thương con cháu đồng như nhau, nhưng sự lo lắng giúp đỡ không đồng. Vậy có bất công không?

Bác Hai đáp:

 Không bất công đâu! T́nh thương như nước, bằng mặt trên chớ không bằng mặt dưới (B́nh thiên không b́nh địa). Mặt nước tuy phẳng nhưng đáy nước chỗ sâu chứa nhiều, nơi g̣ nỗng chứa ít nước hơn. Con cháu ḿnh thương đồng nhưng đứa nào khờ khạo tật nguyền th́ ḿnh lo cho nó nhiều hơn đứa khôn ngoan giỏi dắn.

Phật cũng vậy, người thông minh trí tụê Phật chỉ dạy vài lời thôi, c̣n kẻ hạ căn, kém trí tụê Phật phải dạy dỗ đủ điều, thậm chí phải chịu hy sinh chịu gian khổ dùng mọi phương tiện để giáo hóa.

Chứ Phật đối với chúng sanh t́nh thương vẫn b́nh đẳng như nhau.|

 

25. THIỆN NGHỆ

Có đứa cháu chuyên làm bơm nước và sửa máy. Thỉnh thoảng vợ chồng nó đến thăm Bác. Bác nói với nó:

 Ḿnh tu hành không phải có thiện tâm, thiện chí mà đủ, cần phải thiện nghệ nữa.Ví như nghề làm của cháu, có thiện chí là làm hết ḷng, có thiện tâm là không thừa cơ hội đập đổ. Nhưng nếu không thiện nghệ khiến cho máy sửa, lẽ ra sử dụng được măn mùa, mà người ta đem về xài nửa chừng lại hư. Thế nên không thiện nghệ th́ ḿnh vẫn phải c̣n thiếu nợ cuộc đời. Tu không chỉ có thiện tâm, thiện chí thôi, mà cần phải thiện nghệ nữa. Tóm lại, người tu phải hướng về chân thiện mỹ trong mọi mặt.[

 

27. TÍNH BUÔNG

Người bạn Bác bán thuốc tây, anh cũng lo tu hiền.

Một hôm gặp nhau, anh em hàn huyên một hồi, bỗng anh hỏi:

 Anh Hai à! Anh nhắm chừng nào đời tới (một biến cố lớn làm thay đổi tất cả, hoặc tận thế)?