langkinh.jpg - 41.3 K

LỜI TỰA
Gần 30 năm về trước, trong khi đang học Phật, được đọc bản BÁO CÁO CỦA MỘT NHÀ KHOA HỌC NGHIÊN CỨU KINH PHẬT (Nhứt Cá Khoa Học Giả Nghiên Cứu Phật Kinh Đích Báo Cáo) của kỹ sư Uông Trí Biểu, người Trung Hoa, tôi đã xúc động. Xúc động vì sự xác tín của tôi ở nền giáo lý Phật Đà đã có thêm được những yếu tố xác thực. Bấy giờ, khoa học đang có cái cám dỗ mãnh liệt , cái cám dỗ của những chân lý khách quan mà trí năng của con người đã có thể vươn tới được. Và những chân lý khách quan đó đã không khỏi cho con người cái tự hào và mang nặng những ảo tưởng về khả năng tính của trí năng. Cũng bấy giờ Phật giáo – ngoài những giáo lý có tính cách của một nền đạo đức thực tiễn và được lý giải bằng ngôn ngữ phổ biến của thời đại vẫn còn đó, cả một thế giới bàng bạc cái không khí "huyền chi hựu huyền", một cái "vạn hoa kính" phản chiếu muôn vàn ảnh tượng như thực như hư, như có như không, mà con người chưa thể thành đạt được sự kiến giải với một đầu óc thường nghiệm nghèo nàn và đầy giới hạn của mình. Cuối cùng trên một số lớn phương diện và là những phương diện rộng lớn, sâu thẳm nhất, đạo Phật gần như cũng phải kêu gọi đến sự xác tín hơn là xác thực như hầu hết các tôn giáo từ xưa đến nay đã kêu gọi. Và điều này, quả đã không thỏa mãn được đầu óc của con người vốn bị cám dỗ bởi khoa học. Trong một bầu không khí như thế, sự xúc động của tôi khi đọc bản báo cáo này, nó lớn biết bao. Bởi vì, ở đó, đạo Phật đã không còn xuất hiện như những tín lý mà đã xuất hiện dưới những yếu tố xác thực như của khoa học. Cũng bởi vì, ở đó, bằng vào cái nhìn đối chiếu, nó đã nói đến những đồng nhất giữa Đạo Phật và Khoa Học để có thể cho tôi hình dung được những triển vọng tốt đẹp cho một Đạo Phật ngày càng được khám phá sau này.
Tuy nhiên, một sự đồng nhất như thế chẳng phải là điều rốt ráo. Nói cách khác, Đạo Phật mà được giải thích trên lập trường khoa học có thể không sai nhưng cũng chưa hẳn là đúng – nhất là khi mà khoa học đó vẫn còn phải bị ràng buộc ít nhiều trong những lãnh vực của thường nghiệm, hay nói theo ngôn ngữ Phật giáo, vẫn còn bị ràng buộc trong tinh chất "chiêu cảm" của nghiệp lực và đang còn phải mon men tìm đường mới, mong đặt bước chân vào được những chiều kích sâu thẳm của tâm linh và vũ trụ – những chiều kích vượt khỏi những khái niệm thông tục về vật chất, thời gian, không gian và tương quan nhân quả một chiều. Mặt khác, khi mà nền vật lý học hiện đại đã vượt qua và đe doạ phá hủy những định đề đã một thời ngự trị như những chân lý của Isaac Newton và Rene Descartes thì cũng không có gì bảo đảm là những khám phá hôm nay của nó lại không bị vượt qua và phá hủy ở ngày mai. Thành ra những tương hợp khả hữu giữa đạo Phật và khoa học trên một số bình diện nào đó của hôm nay – ví dụ, trong quan niệm về vật chất và khí năng, trong cái nhìn cho rằng vật chất không phải là những sự vật ù lì và cố định : vũ trụ là một màng lưới kết dệt của những tương quan đối thể, không còn ở trong cái thế tách rời với chủ thể v.v…. có thể mở đường cho khoa học tìm tới với đạo Phật hơn là cho đạo Phật tìm tới với khoa học như tìm một cơ sở nền tảng để lý giải tính cách xác thực của nó. Mặt khác nữa, nếu ta có thể thấy hiển hiện trên những trang kinh xưa, những khái niệm mới mẻ nhất của nền vật lý học hiện đại thì ngược lại, không phải tất cả những gì hiển hiện trên những trang kinh xưa lại đều có trong những khái niệm của khoa học ngày nay. Điều này thêm một lần nữa, cho phép ta nghĩ rằng những tương hợp kia có thể mở đường cho khoa học tìm tới đạo Phật hơn là cho đạo Phật tìm tới với khoa học. Niềm xác tín của những thế hệ tu Phật, học Phật xưa nay ở những gì mà đức Phật giảng dạy hóa ra vẫn đem đến một sự thành đạt lớn lao hơn nhiều so với những gì mà chúng ta gọi là xác thực đem đến cho ta. Bởi vì suy nghiệm cho cùng, mọi xác thực cũng chỉ là xác thực trong tương ứng với nghiệp cảm, nghĩa là vẫn còn nằm trong sự tác động của những làn sóng vô minh không ngừng lay động tâm thức. Sự trì tụng kinh điển của Phật với một niềm tin mãnh liệt nhiều khi lại giúp ta sống với những chiều kích sâu thẳm của tâm linh và vũ trụ hơn là sự biện giải kinh điển với cái khát vọng và đòi hỏi sự xác thực chính là vì tính cách giới hạn mỏng manh này của những gì được gọi là xác thực.
Niềm xúc động của tôi khi đọc bản Báo Cáo của nhà khoa học Uông Trí Biểu ba muơi năm về trước cuối cùng đã chỉ còn là cái xúc động nặng về mặt cảm tình tôn giáo.
Mới đây, sau một buổi đàm đạo, tôi được Cụ Nghiêm Xuân Hồng trao cho tập bản thảo LĂNG KÍNH ĐẠI THỪA. Nói như tác giả, tập sách này là kết quả của những tháng năm "đọc kinh", đôi khi say mê đọc kinh và thường hay mơ màng hằng giờ trên những trang kinh xưa". Đọc xong tập sách tôi như cũng sống lại một niềm xúc động lớn lao. Nhưng nó đã không còn là niềm xúc động của 30 năm về trước nữa.
Khoa học dẫu vẫn còn những cám dỗ của nó đối với tâm trí con người nhưng đã không còn giữ cái thể giá cũ. Trong khi những trang kinh xưa thì vẫn sừng sững còn đó như tự bao giờ, và cũng như tự bao giờ, mời gọi con người đi tới để thâm nhập, để tỉnh thức, bừng con mắt Huệ trước màn lưới vô minh, nghi hoặc dày đặc và để hứng khởi được cái Tâm Đại Bi giữa những biển động quay cuồng điên đảo của cuộc sống.
Mặc dù tự nghĩ mình vốn chẳng khác chi người cùng tử trong kinh Pháp Hoa, trầm luân trong biển khổ nghiệp nên gia bảo có đó mà vẫn chưa thấy được hết, miệt mài với tháng năm mà sở nguyện vẫn xa vời. Nhưng nhờ vốn hằng ngày trân trọng những lời kinh ngọc vàng, sống trong âm hưởng của Diệu pháp mà Đức Phật đã tuyên thuyết từ ngàn xưa nên vẫn cảm vì Pháp nhũ ân sâu mà cố giữ lấy một lòng theo dõi di giáo. Chính với tấm lòng đó mà tôi đã xúc động khi đọc tập bản thảo LĂNG KÍNH ĐẠI THỪA này.
Xúc động vì nghĩ đến tác giả – một nhà trí thức đã từng, trong một thời gian dài, đem tâm trí mình đi vào những suy niệm triết học xưa nay, nghiền ngẫm đến cả những thành tựu của khoa học để rồi cuối cùng trở về "mơ màng trên những trang kinh xưa" của Phật. Cuộc sống vẫn đầy những biến động, tâm thức con người vẫn thường xuyên chạm mặt với những điều bí ẩn, nhưng khát vọng chân lý vẫn cứ là một khát vọng muôn đời. Và với khát vọng này trong trường hợp của tác giả, Đạo Phật đã như một con đường còn lại sau cùng mở ra thênh thang khi mà tất cả những ngã đường khác đã lâm vào chỗ bế tắc.
Xúc động cũng vì nghĩ đến tác phẩm, dù có thể không phải đã là những kiến giải rốt ráo về kinh điển Đại Thừa Phật Giáo, điều mà không ai có thể tự nhận là làm được trọn vẹn – nhưng ít nhiều , đã nói lên được một phần rất lớn, hoài vọng của những thế hệ học Phật gần đây và ngày nay – những thế hệ sinh ra và lớn lên trong một thời đại có nhiều thành tựu nhưng cũng có nhiều đổ vỡ của nền văn minh khoa học. Hoài vọng đó sẽ thành tựu hay không và thành tựu như thế nào là một chuyện. Nhưng điều đáng nói ở đây là, dù ít dù nhiều, tác phẩm này cũng sẽ đóng góp vào việc mở đường cho những tâm trí đã từng bị chi phối bởi những kiến giải của khoa học tìm tới được với Đạo Phật.
Và với những tâm trí không bị chi phối nặng nề bởi những kiến giải của khoa học này thì điều mà tác phẩm có thể mang lại là một niềm xác tin vững chắc hơn đối với kinh điển Đại Thừa.
Tác dụng của kinh là tăng-thượng-tâm cho chúng sanh . Tâm đây là Bồ Đề Tâm, là Diệu Giác – Chân Tâm, là Phật Tâm. Có được một niềm xác tin vững chắc, tác dụng của kinh cũng là điều vững chắc. Cửa ngõ vào Đạo từ đó cũng sẽ mở ra vững chắc.
Chính với niềm xúc động đó mà tôi tưởng đến lời tán thán của người xưa :
Vô thượng thâm thầm vì diệu pháp
Bách thiên vạn kiếp nan tao ngộ
Ngã kim kiến văn đắc thọ trì
Nguyện giải Như Lai chơn thiệt nghĩa.
để chân thành viết ra lời tựa này.
Los Angeles, Chùa Việt Nam,
Vu Lan năm Nhâm Tuất (1982)
THÍCH MÃN GIÁC
 

LỜI DẪN
Tôi mạo muội cầm bút viết mấy trang sau đây, trước hết là để tạ hồng ân của chư Phật, cửa Kinh đã soi sáng cho mình và rửa sạch những lớp lưới nghi trùng trùng trong tâm thức.
Sau là để gây cơ duyên với những ai muốn phát tâm đọc kinh, muốn nhập vào cảnh giới thâm diệu của kinh, nhưng còn vướng nhiều bởi những tập quán nhận thức nhị biên của thế gian trí…những vị đó, trên con đường tìm hiểu cái bí ẩn của vũ trụ và kiếp sống, vẫn còn vướng nhiều bởi những khái niệm của khoa học thần tượng. Và chưa nhận rõ ràng chính khoa học ngày nay cũng đã bắt buộc phải thay đổi nhiều những tập quán suy tư trước kia, khi bước vào lãnh vực cực đại và cực vi. Xét kỹ, khoa học ngày nay đã mang nặng một tính chất có vẻ như huyền thoại và chiều hướng mới này mặc nhiên đã ngả theo những lời giảng dạy trong những trang kinh xưa.
Sau nữa là để kết cơ duyên với những ai, do những cội căn lành đã trồng từ nhiều kiếp trong vô thức, nên nay đã có sẵn nền tín căn sâu chắc, nhưng còn bỡ ngỡ trước rừng rậm danh từ của kinh sách, và chưa biết quyết định cách nào để lý giải rõ ràng và vững chãi niềm tín giải của mình….
***
Thực ra thì trong kiếp giảm này, không có mấy ai có lòng thành thực lại dám nói rằng mình hiểu được kinh sách. Thực ra chỉ có những bậc tu chứng khá cao rồi, mới hiểu được một phần lời kinh xưa. Và chỉ có Phật với Phật mới hiểu trọn vẹn được lời kinh thôi.
Vì sao ?
Vì những lời kinh xưa thường như hư như thực, nhưng tuy như hư như thực, chân lý của kinh vẫn là một thứ thiên la địa võng bao trùm các cõi và pháp giới không ngằn mé…Và cũng vì những trang kinh Đại thừa thường khi chỉ mô tả những cảnh giới siêu xuất bất tư nghì của những cơn tam-muội rất sâu, mà kẻ phàm phu chúng ta khó thể lãnh hội nổi…Bởi thế, mỗi khi nói những bộ kinh lớn , chư Phật thường hay nhập những cơn Định rất sâu, rồi mới nói kinh.
Kẻ viết mấy dòng này, tự biết mình phiền não chất ngất, vô minh dày đặc và đối với ngưỡng cửa của những cơn tam-muội nhỏ nhoi, vẫn lảng vảng đứng xa hàng ngàn dặm…Chỉ được cái hạnh ngộ, không biết do một chút căn lành nào lây lất rớt lại từ kiếp nào, nên thích đọc kinh, đôi khi say mê đọc kinh, và thường hay mơ màng hàng giờ trên những trang kinh xưa…
Nên tập sách nhỏ này chỉ là kết quả của sự suy tư mơ màng ấy. Cố gắng viết ra, chỉ là mong góp ý và gợi ý với những ai muốn phát tâm đọc kinh… Nếu có những lời nào lỗ mỗ hoặc sai lạc với ý kinh thì kẻ viết cũng xin được sám hối và miễn thứ.
Nếu có gặt hái được một chút công đức nào, thì cũng xin hồi hướng cho cái pháp giới vừa bao la vừa nhỏ nhiệm này… Để cầu xin cho toàn thể pháp giới đều vãng sanh, Lạc quốc, nơi xứ sở của những quang minh vô lượng…
 

CHƯƠNG 1
TÌM THỰC TẠI CUỐI CÙNG
Con người, cũng như vô lượng loài chúng sanh khác, từ ngàn xưa vô thủy, thường bị dằn vặt bởi những nỗi khắc khoải triền miên. Trong những cơn hoạn nạn, sợ hãi, lo âu kinh hoàng, hoặc giữa những giây phút xuất thần, con người thường bị những câu hỏi ám ảnh trở đi trở lại, và thường thấy rằng những câu hỏi ấy có vẻ như vượt khỏi tầm tay của mình…Ta là gì ? Kẻ khác là cái gì ? Sự vật là cái gì ? Vũ trụ là cái gì ? Cái gì đã tạo nên ta và sự vật ? Ta là thực hay là ảo ? Vũ trụ này là thực hay ảo ? Nó có cùng tận hay vô cùng tận ?….Nó có vẻ huy hoàng, lung linh, nhưng hình như cũng hay phù du, tàn lụi. Vậy thì có cái gì gọi là trường cửu miên viễn không ? … Vũ trụ này có ý nghĩa gì không, hay chỉ là một trò đùa hoặc một lầm lộn ghê gớm ? Tại sao lại có những đau khổ hoạn nạn, lại có sanh già bệnh chết ? Tại sao không trường thọ hoài hoài ? Bậc thánh hiền hoặc người ngu muội, chết rồi thì còn gì không ? v.v…
Đại khái những khắc khoải là như vậy . Mang cái thân xác phù du này, cưỡi trên con ngựa Vô thường, con người lửng lơ rong chơi giữa một cái vũ trụ lúc nào cũng nửa sanh nửa diệt, nên không thể không khắc khoải muốn đi tìm một cái gì miên viễn, một thực tại cuối cùng bền vững trường cửu để làm chỗ đặt chân.
Do đó, các triết thuyết các hệ phái, các nền tôn giáo mỗi mỗi đều cố gắng đưa ra những đáp số ít nhất cho một số những câu hỏi ấy.
Nhưng phần đông các hệ phái triết học chỉ đưa ra được một thứ mê đồ vọng tưởng, rồi chính mình sa lầy trong đó như con ruồi mắc lưới nhện tơ. Cho nên, kinh Phật thường gọi các trường phái triết học thế gian là những hý luận, tức là những trò chơi bằng sự suy tư theo ý niệm, không thể nào thể nhập được. Thật tướng (tức Thực tại) và không có lợi gì nhiều cho sự giải thoát…
Tỉ dụ như phát hiện sinh của Sartre. Sartre là một người rất thông minh, nhưng thông minh theo nghĩa thế gian trí, và không có mấy trí huệ. Ông cũng là người còn ưa xu hướng theo thời thượng thế tục, nên muốn kết tập một thứ triết thuyết nào phản ánh những tâm trạng ưa ghét của đám đông quanh mình….Tư tưởng của ông đã đưa ra được vài điểm đặc sắc : tỉ dụ như ông đã nhìn thấy cái rỗng không của tâm thức con người (absolue vacuite de la conscience), hoặc đề xướng rằng tâm thức đôi khi có khả năng hư vô hoá sự vật (L’esprit parfois a le pouvoir de neantiser les choses).
Tuy đề xướng như vậy, nhưng không biết khơi đào thêm nữa sâu vào con đường đó. Cũng như nhiều triết gia cận đại, ông cũng băn khoăn muốn tìm một cách, một con đường để hoá giải sự vật (reduction phenomenologique)…Nếu ông chịu khó đào sâu cái rỗng không của tâm thức, thì có lẽ ông đã nhìn thấy lấp ló con đường hoá giải sự vật. Đằng này không. Tuy đề xướng như vậy nhưng ông lại rẽ ngang sang nẻo khác, để đi tới chỗ bế tắc, vô nghĩa và tuyệt vọng. Vì có lẽ kết luận đó hợp với tâm tư ông và tâm trạng thời đại hơn… Tâm trạng của ông là tâm trạng của một người trí thức, rất trìu mến tâm thức và tâm tư, nhưng cũng rất ngại ngùng e sợ sự vật. Thời đại ngày nay là thời đại của những cái tạm gọi là vật, cao trào sự vật dâng lên, bao vây và bao phủ con người khiến con người nhiều khi cảm thấy rằng mình chẳng còn giá trị gì, còn thua xa giá trị của sự vật. Nên ai nấy đều đua nhau tranh giành, xâu xé để chiếm đoạt sự vật. Không mấy ai hiểu rằng sự sự vật vật, qua cái diễn trình từ vô lượng kiếp, chỉ là do sự biến hiện của những tâm tưởng tích lũy của các chúng sanh mà ra. Và cả cái vũ trụ không ngằn mé này cũng vậy… Sartre cũng vậy, cũng không hiểu chân lý đó, vì không chịu dấn thân khổ công miệt mài đào sâu cái rỗng không ấy nó đã tạo nên mọi sự vật. Rốt cuộc ông ta vấp phải cái có vẻ thực tại bền bỉ và kiên cố của sự vật, rồi kết luận rằng "sự vật là một thực tại lù lù, vô nghĩa. Giữa đám sự vật vây quanh kín mít, tôi cảm thấy mình như một thứ dư thừa. Có lẽ con người chỉ là một sự đam mê vô ích…" Nhưng vốn là một người trìu mến tâm thức và tự do của tâm thức, nên ông đành vớt vát kết luận rằng : "Rốt cuộc, con người chỉ là một thái độ là phải dấn thân vào một hành động tối thượng, để làm nổ tan cái tự do của mình vào giữa mặt sự vật…"
Tóm lại, trên con đường mong hoá giải sự vật để giải thoát con người, phần đông các triết gia cũng đều lầm lẫn về đường hướng như Sartre. Vì họ chỉ biết dùng con đường suy tư bằng ý niệm của ý thức, tức là Cogito mà thôi. Trong khi đáng lẽ phải dùng con đường Non Cogito, tu Chỉ tu Quán để đào sâu cái rỗng không của tâm thức, chiếu soi lọt dần vào Vô thức, rồi phá vỡ Tàng thức và đạt tới Thực tại Nhất như… Đến đó, thì đương nhiên mọi sự vật của pháp giới không ngằn mé đều bị hóa giải, vì pháp giới chính là sự biến hiện của Tăng thức mà thôi. Cũng cần nói ngay rằng con đường của chư Phật mười phương và ba đời chính là con đường siêu tuyệt, để reduction phenomenologique chứ không có gì khác cả…
Suy ngẫm kỹ, ta sẽ thấy một sự kiện rõ ràng là : sự vật bao vây con mắt ta, bao vây quanh ta, không lúc nào là mắt ta không nhìn thấy vật. Ngay trong giấc ngủ, ý thức ta cũng nhớ lại những bóng dáng tiền trần và tạo nên những độc ảnh cảnh sự vật. Cho đến cõi trời vô tưởng, vẫn còn ngấm ngầm có sự thấy biết. Vậy nếu không hóa giải nổi sự vật, thì con người không sao tự tại được…
Hãy nhìn đến khoa học trong việc tìm đáp số. Khác với triết thuyết, khoa học không nuôi hoài bão muốn hóa giải sự vật. Khoa học thực tiễn hơn, cẩn thận hơn, chỉ muốn tìm hiểu sự vật để cải tạo và sử dụng sự vật, để tăng cường quyền năng của con người. Nhưng trên đường tìm hiểu đo lường sự vật, khoa học cũng nuôi hoài bão muốn tìm tới cái then chốt cuối cùng của cái guồng máy đồng hồ của vũ trụ…Đã có một thời đầu thế kỷ 20, các khoa học gia hết sức lạc quan, tuyên xướng rằng chẳng còn bao lâu nữa, khoa học sẽ phanh phui hết mọi bí ẩn của vũ trụ và sẽ tìm thấy cái then chốt cuối cùng. Thế rồi họ đi sâu lần vào lãnh vực cực vi. Nhưng càng đi sâu vào, lại càng thấy mịt mùng biến ảo, không biết đặt chân chỗ nào, tưởng chừng như mình lạc bước vào một lâu đài huyền thoại. Vì các phần tử cực vi cứ HIỆN ra không cùng, ngày càng biến ảo, không biết lấy cái naò làm viên gạch cơ bản của vũ trụ…
Những trang sau đây sẽ đề cập kỹ càng hơn về cuộc phiêu lưu kỳ thú này. Bây giờ, chỉ cần ghi là các khoa học gia càng ngày càng nhận thấy rằng : Các sự vật bị nhận biết, hình như không thể tách rời ra khỏi chủ thể con người nhận biết. Và nhà khoa học lớn Eddington đã phải thốt ra câu sau : "Cái vũ trụ này hình như cóc phải là một bộ máy lớn. Nó giống như một TÂM TƯỞNG LỚN hơn là một bộ máy lớn" (Cet univers ressemble à une grande pensée, plutôt qu’à une grande machine)…
Nhưng điều đó thì lời kinh xưa đã nói rất lâu rồi. Vì kinh xưa dạy rằng Trần không thể tách khỏi Căn được, và vũ trụ chỉ là những ẢNH TƯỢNG TƯƠNG ƯNG chiêu cảm bởi những tâm tưởng tích lũy từ vô thủy bởi mỗi chúng sanh hoặc mỗi loại chúng sanh.
Vậy về việc tìm đáp số, mặc dầu khoa học ngày nay tiến bộ vượt bực và mang lại khá nhiều quyền năng cùng thần thông cho con người, nhưng khoa học cho đến nhiều năm nữa vẫn chưa thể nói lên lời đáp số cuối cùng về cái bí ẩn của cái vũ trụ. Vả lại, sự tiến bộ của khoa học thì cũng như mọi việc ở cái thế gian trần lụy này, nó cũng vẫn là một đồng tiền hai mặt, có mặt phải thì bắt buộc có mặt trái.
***
Nay nhìn đến các hệ thống tôn giáo khác…. Đáp số của các tôn giáo lớn, tuy không phải là những phương trình toán học có thể chứng nghiệm phổ biến, nhưng đáp số thường hoàn bị, thâm sâu và cao viễn hơn nhiều.
Khoa học là của những thứ Prométhée muốn cướp lửa của thần linh và muốn tự xưng là thần linh, trong khi chính con người Prométhée vẫn còn hàm chứa quá nhiều thú tính…Nhưng các tôn giáo lớn thì là do chính các bậc Thần linh thị hiện làm người lãng đãng nói ra qua các thời đại, rồi từ những miền sa mạc, từ những rừng sâu, núi thẳm coi là đạo trường, khoan thai và không mong cầu, nhắc nhở lại cho loài người những chân lý vĩnh cửu, phí thời gian và không gian….Vì loài người say sưa đuổi theo sự vật, nên luôn luôn quên những chân lý ấy.
Cho nên, các tôn giáo lớn như Cơ đốc giáo, Aán độ giáo, Lão giáo…đều hàm chứa một số chân lý lớn. Vì chân lý lớn nên tồn tại lâu dài. Và một số đông con người vẫn còn đủ lượng năng để lẽo đẽo hay tận tụy đi theo.
Nhưng bình tĩnh mà xét thì phần đông các tôn giáo lớn, tuy có đưa ra một số chân lý vĩnh cửu, nhưng thường dừng lại ở đó mà không nói lên được cái đáp số rốt ráo tột cùng.
Aán độ giáo chẳng hạn, giáo lý khá cao sâu. Các tu sĩ Bà-la-môn thường là những bậc tu thiền định, và nhập những cơn tam muội khá sâu. Khá sâu nhưng chưa phải là Định rốt ráo. Do đó, mới chỉ nhìn thấy một phần cội nguồn của sự vật…Nên giáo lý đó đã dừng lại ở quan niệm Nhất nguyên thần hóa, coi Phạm thiên là đấng tạo ra muôn vật. Tuy nhiên cũng biết dạy rằng : "Vũ trụ này chỉ là một giấc chiêm bao của Phạm thiên…." Do đó, đã đi gần tới giáo lý Như Huyễn của nhà Phật. Nhưng các tu sĩ Bà-la-môn chỉ biết cho đó là một giấc chiêm bao của Phạm thiên mà không hiểu rằng vũ trụ là giấc chiêm bao của chính cái tâm của mình.
Kinh Đại Bát Niết bàn và nhất là kinh Thủ Lăng Nghiêm Vương đã giải thích rất kỹ càng về hiện tượng tu thiền định lạc nẻo này. Kinh mệnh danh hiện tượng đó là tam muội đảo điên. Số là các vị tu thiền định đều phải dùng sức quán tưởng để phá và hóa giải ngũ ấm ngăn che là : sắc, thọ, tưởng, hành thức…. Năm ấm đó là năm màn sương mù che lấp cái Thực tại cuối cùng, nên cần phá cho hết… Nhưng khốn nỗi là phần đông tu sĩ Bà-la-môn thường chỉ phá được bốn ấm : sắc, thọ, tưởng, hành… rồi lại dừng chân nơi Thức ấm. Đến giai đoạn này, trong cơn tam muội, các vị đó đều có thể xuất thần thức lên cõi trời Đại Tự Tại ở đỉnh cõi Sắc giới. Ngồi trong tam muội, thấy an lạc quá, cho là niết bàn rốt ráo, ngồi lỳ trong đó. Lại thấy Thức ấm rất vi tế nhỏ nhiệm, chu biến khắp nơi, bèn cho là thường hằng. Lại thấy ông Phạm Thiên Đại Tự Tại có nhiều thần lực và tự-tại-lực quá, nên thường lầm nghĩ rằng Phạm Thiên chính là đấng tạo ra muôn vật….
Các kinh Cơ đốc giáo cũng chứa đựng nhiều chân lý lớn, nhưng cũng ngừng lại ở nhất nguyên thần hóa. Chú trọng về khiá cạnh cứu chuộc do lòng Tin, ít phát triển khiá cạnh Trí tuệ nhận thức. Tuy nhiên, thánh Jean cũng có những cơn xuất thần nhập định tại đảo Patmas, nên có vision về Apocalypse….
Lão giáo cũng rất cao sâu. Biết nói tới cái Vòng Hư Vô vốn là Thực tại bản nguyên . Biết nhắc tới cái Niệm mê mờ vô thủy , là "do hốt do hoảng "… Nhưng chưa chỉ rõ ràng cái Vòng Hư Vô ấy chính là Tâm … Tôi trộm nghĩ rằng đức Lão Tử cũng là một Bồ Tát lớn , thì hiện ra đời ở Trung Hoa , để chuẩn bị tâm thức của mảnh đất này, chờ đón kinh điển Đại thừa cùng thông điệp trực chỉ chân tâm của ngài Đạt ma .
Riêng Đức Mâu Ni thì chỉ thẳng là cái Tâm, và nói rõ rằng vũ trụ là HUYỄN HÓA. Pháp giới không ngằn mé này chỉ là sự huyễn hiện , chỉ là giấc chiêm bao của cái Tâm của mỗi chúng sanh , của mỗi loài chúng sanh …Triển khai vừa trí tuệ vừa lòng tin .
***
Đã có lần , có một vị Bà la môn tới hỏi đức Phật về nhiều câu hỏi siêu hình như đã kể ở trên . Đức Phật chỉ ngồi im lặng , mỉm nụ cười vi tiếu .
Vì sao ?
Thực ra , sự im lặng và nụ cười vi tiếu của Phật có rất nhiều ý nghĩa . Chỉ xin kể ra ba ý nghĩa :
- Thứ nhất là Ngài muốn bảo rằng : Tất cả những câu hỏi siêu hình đó đều chỉ là những câu hỏi và thắc mắc của một người đương ở trong chiêm bao . Khi tỉnh giấc chiêm bao , người ấy sẽ tự thấy rằng tất cả những câu hỏi ấy đều không cần .
Thứ nhì là Ngài muốn nói rằng : Cái Thực tại cuối cùng mà ta chứng nhập được trong cơn đại-tam-muội rất sâu , nó là Pháp thân thường trụ , là Thật tướng , là Chân thiệt tế , là Chân tâm diệu minh. Nó là minh vì chính nó là Tạng quang minh luôn luôn chiếu soi không hề ngừng nghỉ . Nó là diệu , vì nó cực kỳ nhiệm mầu , diệu dụng vô cùng , và luôn luôn phan duyên và duyên khởi ra mọi sự mọi vật . Nó là Chân không , nhưng tính chất của Chân không lại chính là Diệu hữu , vì chỉ từ cái Tột không mới có thể làm đột khởi nên cái Có mà thôi . Nó lìa ngôn từ , lìa danh ngôn , lìa mọi ý niệm , nó bất-tư-nghì , chỉ có thể tâm truyền tâm , không thể dùng lời nói mà diễn tả … Nếu có dùng đến ngôn từ , thì cũng chỉ là một phương tiện thiện xảo bất đắc dĩ của cõi Ta-bà này thôi . Vì có nhiều cõi Phật , trong đó chư Phật chỉ dùng hoặc quang minh hoặc mùi hương , hoặc tiếng vang , hoặc nụ cười , hoặc tà áo , hoặc cơm thơm , hoặc hư không v.v… để khiến các chúng sanh tâm ngộ mà thôi , chứ không dùng ngôn từ …
Thứ ba là Ngài muốn bảo rằng : Những kẻ muốn đi tìm Thực tại cuối cùng , mà cứ con mắt láo liên , lăng xăng chạy Đông chạy Tây, tìm quanh kiếm quẩn ở ngoài , thì thực là nực cười và đáng thương xót ! Tương tự như một kẻ , có một hòn ngọc vô giá buộc trong tà áo , nhưng không biết , cứ chạy đi kiếm kho châu báu … Tương tự như Bính Đinh Đồng tử Hồng hài nhi , vốn chính mình là Thần Lửa , lại cứ lăng xăng chạy quanh kiếm Lửa … Kẻ đó , trong mỗi sát-na , đều chìm đắm ngụp lặn trong Thực tại, mà vẫn không hay không biết . Thực tại đó rất khó tế nhận , nhưng lại rất bình dị hiển nhiên . Nó ở ngay trước mắt chúng ta , ở ngay trong mắt ta , trong tai ta , trong sáu căn , trong mỗi cái nhíu mày nhướng mắt , mỗi cái lay động của thân , trong mỗi cái đột khởi của những tâm tưởng vi tế …
Nó chính là cái Thần quang núp trong sáu căn của mỗi người, khiến cho con người thấy nghe hay biết . Nó chính là cái-thấy-nghe-hay-biết … Nhưng đó chỉ là một cách nói tạm mà thôi … Thực tại ấy sâu thăm thẳm ngàn trùng , và cái thấy nghe hay biết cũng chỉ là bóng dáng của nó thôi , tương tự như mặt trăng dưới đáy nước .
Muốn tế nhận được nó , cần phải khổ công miệt mài , phải nhất tâm thẳng tiến đừng có dừng ở một con đường tẻ nào cả , cứ nhất tâm cầu quả Vô thượng , lập thệ nguyện rộng lớn ôm trọn cả pháp giới này . Vì pháp giới không ngằn mé này có phải là gì đâu , mà chính là Vô thức của mỗi chúng sanh ? !… Phải Yết-đế , Yết-đế , Vượt đi , Vượt đi … phải ngược dòng. Các đức Như Lai thuận dòng đi xuống , nhưng chúng sanh phải ngược dòng đi lên … Vượt cái gì , ngược dòng nào ? Vượt tất cả những màn sương mù ngăn che là năm ấm , hay bảy đại , hay mười tám giới … và ngược dòng Vô minh .
Vậy các ông nên làm con Cá Tích . Cá tích xương nhỏ nghiệp nhẹ , nên chúng dễ lội ngược dòng suối … Ngược dòng qua mọi màn sương mù , đừng có dừng chân , vì màn sương nào cũng là huyễn cả , không phải thường hằng . Dừng chân , tức là tự mãn tự cho là đủ , là rớt vào ma chướng , rớt vào ngoại đạo hư vọng , rớt vào định tính Thanh văn và Duyên giác … Như thế thì các ông đương nhiên sẽ tới Chân tâm diệu minh , nơi đó tất cả Phật pháp đều hiện tiền , giải thoát tịch diệt hiện tiền , Thường tịch quang hiện tiền , diệu dụng vô cùng hiện tiền . Và các ông sẽ tha hồ vùng vẫy , hoá thân vô lượng cõi , tạo lập nghiệp hoá vô lượng cõi …
Còn có thể mong cầu gì hơn nữa ?
Tuy nhiên tuy Ngài im lặng , mỉm nụ cười hàm tiếu như vậy , nhưng đối với tất cả câu hỏi siêu hình nói trên , không phải là Ngài không có đáp số . Trái lại trong các kinh Đại thừa , nhất là Lăng Nghiêm , Lăng Già , Hoa Nghiêm , Pháp Hoa , Địa Tạng, Bát Nhã , Viên Giác … có đầy đủ các đáp số về mọi vấn đề . Về các cõi , về Hoa tạng thế giới , về cội nguồn vũ trụ , về lục đạo , về 28 từng trời , về các loại chúng sanh , về các ma sự , về thời gian , về không gian , về sự lay động . Lời dạy hết sức hoàn bị , không một hệ thống tôn giáo nào sánh kịp … Có điều là những đáp số đó thường được rải rác trên các trang kinh , tương tự như những ngọn hải đăng lác đác rải trên mặt biển sương mù . Và kẻ hành giả cần nhìn những ngọn hải đăng ấy , rồi gắng công lội qua mặt biển .

Nụ cười vi tiếu cùng sự im lặng cũng nghĩ một số người lầm nghĩ rằng giáo lý Phật mang mầu sắc một thứ bất-khả-tri-luận (agnosticisme) . Hoặc lầm nghĩ rằng giáo lý Phật là không có thần linh … Thực ra thì giáo lý Phật dạy chúng ta thấu suốt mọi thứ , và không khí các kinh Đại Thừa thường là tràn ngập quang minh , tràn ngập thần lực của Phật và Bồ tát

 
CHƯƠNG II
PHÁP GIỚI NHƯ HUYỄN
Pháp giới là vũ trụ này , và đồng thời cũng bao gồm tất cả những cảnh giới siêu xuất mà chúng ta không nhìn thấy , không nghe thấy , không mường tượng nổi .
Trong kinh Hoa Nghiêm , phẩm thứ 39 gọi là phẩm Nhập Pháp Giới. Trong đó, mô tả những bước đường tiến tu cầu đạo của Ngài Thiện Tài đồng tử, lần lần chứng nhập của thể tính của pháp giới .
Vậy thể tính của pháp giới là gì ?
Kinh Kim Cang dạy : " Các pháp vốn không Thật không Hư " Pháp giới tức là các pháp, các hiện tượng hữu hình hay vô hình, các cảnh giới … Pháp giới cũng không thật không hư , nó chỉ là như Huyễn như Hoá . Vì sao ?
Vì nó chỉ là Duy tâm sở hiện , chỉ là do Tâm biến hiện , chỉ là những Aûnh biến hiện của Tâm , của mỗi cái tâm chúng sanh mà thôi .
Đó là lời dạy căn bản của kinh Phật , là điểm giáo lý trung tâm và nòng cốt mà người Phật tử cần ý hội . Điểm thắng giải đó khiến cho giáo lý chư Phật vượt lên trên tất cả những giáo lý khác … Cũng từ điểm đó mà xuất phát ra tất cả những điểm khác . Hoa tạng thế giới của Hoa Nghiêm cũng từ đó mà ra , hệ thống Duy Thức cũng từ đó mà ra , hệ thống Bát Nhã cũng từ đó mà ra . Nếu người Phật tử lãnh hội được một phần nhỏ trong muôn một của lời dạy ấy , thì cũng đã lãnh hội được ý chỉ của chư Phật rồi .
Lý Duy Tâm Sở Hiện ấy chính là Lăng Kính Đại Thừa . Nó bàng bạc trong tất cả các kinh Đại thừa , nó là cái màn phong đáy tầng của Kinh Đại Thừa … Song , những kinh giảng dạy , lý giải kỹ càng nhất về lý này là kinh Lăng Nghiêm , Lăng Già và Hoa Nghiêm . Nhất là kinh Lăng Nghiêm .
Kệ Hoa Nghiêm dạy :
Tâm như người họa khéo ,
Vẽ vời canh thế gian .
Trong kinh Thủ Lăng Nghiêm , Phật dạy : " Các cảnh giới , các cõi vô số vô lượng nổi lên trong hư không . Và hư không nổi lên trong Chân tâm diệu minh , tương tự như một áng mây trắng nổi lên trên nền trời xanh mà thôi ."
Mở đầu một cuộc thuyết pháp tại Đông Độ, ngài Đạt Ma cũng dạy ngay :" Tất cả thế giới được nghĩ trong tâm v.v… Tâm ơi Tâm , chỉ vì mi mà ta phải lao đao lặn lội…" Ngài cũng nhắc nhiều đến Vô thức , tức Tàng thức . Vì thực ra , pháp giới chẳng phải là gì khác, chỉ là Vô thức của mỗi chúng sanh mà thôi . Nhưng hầu hết chúng sanh thường ngừng lại ở ý thức , tự lìa bỏ Vô thức , nên quên mất điều ấy . Hầu hết chúng sanh , do sự suy động của những niệm–mê-mờ-câu-sanh-ngã-chấp tích luỹ từ thời vô thủy , cũng thường ngừng lại ở căn thân của mình , đối lập căn thân đó với pháp giới , rồi lìa bỏ luôn pháp giới . Không biết rằng cái pháp giới mênh mang bát ngát đó , chính là diệu-sắc-thân của chính mình .
Tại Hoa Nghiêm hội , Ngài Phổ Hiền cũng ân cần dạy rằng :" Người Phật tử chúng ta phải hiểu rằng thế gian này là Biến hoá , là Huyễn Hóa…"
Hãy lắng tâm suy ngẫm giây lát về cái bí ẩn của pháp giới , của cái vũ trụ này… tỷ dụ như hiện nay , ta đang ngồi trong nhà, hoặc đi dạo ngoài phố . Ta thường có cái cảm tưởng là vững-vàng-chắc-chắn-ngay-thẳng , là vì ta đang đứng trên mặt trái đất . Sở dĩ có cảm tưởng như vậy , là vì nghiệp lực của chúng ta Tương Ưng với trái đất , và tạm thời , trái đất là nơi nương về của ta … kỳ thực thì cái cảm tưởng vững–vàng-ngay-thẳng-ấy chỉ là giả . Vì trái đất đương lôi chúng ta , và quay với một tốc độ không biết bao nhiêu ngàn cây số một giờ . Và ta vẫn đi ngang, đi ngửa, đi úp, đi sấp … mà chẳng hề hay biết . Nhưng ta vẫn có cảm tưởng vững vàng , vì nghiệp lực tương ưng với trái đất . Cũng như nghiệp lực của con cá tương ưng với nước , con chim tương ưng với hư khôn.
Vậy ta Nương về trái đất . Nhưng trái đất nương về đâu mà lừng lững hiện hữu tồn tại ? … Trái đất ở trong thái dương hệ , nên quay xung quanh mặt trời , nương về mặt trời . Thái dương hệ là một tiểu thiên thế giới nói trong kinh , và núi Tu di sơn rất có thể là cái guồng trục của thái dương hệ . Có điều là núi Tu di được kết tập thành do những quang minh khá vi tế , nên mắt thịt chúng ta không nhìn thấy . Khi có thiên nhãn sẽ nhìn thấy .
Đến lượt thái dương hệ . Thái dương hệ này là phải nương về một hệ thống nào khác lớn hơn ở trong trung thiên thế giới , hoặc ở trong dải ngân hà .
Rồi tất cả những thế giới đó , lúc hình thành như những chiếc hoa nở , lúc tàn lụi như lá rụng , cứ thế xoay vần miên viễn , thì chúng nương về đâu ?
Chúng nương về hư không ?
Vậy hư không nương về đâu ?
Hư không này có vẻ như không có chỗ nương về , không có chỗ trụ . Hư không vô trụ, thì pháp giới cũng vô trụ. Vô trụ thì không thể tồn tại nổi một sát- na .
Nhưng thực ra thì hư không cùng pháp giới đều nương về cái bể tinh lực uyên nguyên, cái tạng quang-minh-uyên-nguyên của Pháp thân thường trụ của Chân tâm diệu minh , của Thần-lực-hải của chư Phật , của Nguyện–lực–hải của chư Đại Bồ tát, của Nghiệp–lực–hải của tất cả chúng sanh .
Bởi thế , kinh Hoa Nghiêm dạy :" Pháp giới không ngằn mé này được an lập , là do Thần lực hải của chư Phật , do Nguyện lực hải của chư Đại Bồ Tát, do Nghiệp lực hải của chúng sanh ".
Cả ba thứ "hải" đó đều là bất tư nghì . Nghiệp lực hải thuộc về vô minh , còn Thần lực hải và Nguyện lực hải là do tâm bình đẳng đại từ bi và trí tuệ Bát-nhã .
Đó là điểm chân lý tuyệt vời được xiển minh bởi hằng hà sa chư Phật . Chân lý tối thắng, vừa tuyệt vời , vừa bình dị hiển nhiên , nhưng cũng khó tin nhận .
Cho nên , cái pháp giới bao la không ngằn mé này , chỉ trụ ở trên đầu một sợi lông , treo trên đầu một Tâm Niệm … Pháp giới chỉ là ảnh tượng khởi lên do một niệm mê mờ vô thủy của chúng sanh . Khi một chúng sanh biết quay đầu lại , chuyển Mê thành Giác , thì những ảnh tượng pháp giới ấy lập tức biến đi đối với chúng sanh ấy. Và chúng sanh đó sẽ chuyển thành một bậc Chúng sanh Lớn , bước vào Sự-sự-vô-ngại-pháp-giới .
Thiết tưởng cần đi sâu hơn nữa vào những lời kinh xưa , để lý giải cái pháp giới vừa như –như , lại vừa như –huyễn này .
Kệ Lăng Già dạy :
Pháp giới như không hoa
Sự vật đều như huyễn
Thế gian hằng như mộng
Trong pháp hội Đại Bát Nhã, Đức Phật thường nhắc đi nhắc lại nhiều lần câu sau :
-" Các cõi , các cảnh giới , các thân căn chúng sanh … đều như huyễn, như hoá, như mộng, như ảo, như bào, như ảnh, như lộ như điển … như một giấc chiêm bao, như làn khói toả, như bọt tụ , như ảo ảnh nước ngoài sa mạc, như tiếng vang, như hoa trong gương , như trăng đáy nước , như một tuồng ảo hoá bày ra bởi một tên đại phù thủy ngồi xổm ở ngã tư đường …
Bài kệ sau đây cũng tuyên xướng chân lý :
Phật pháp như đại hải
Còn rộng và sâu hơn ,
Chẳng có gì thoát khỏi
Thiên la địa võng này
Mọi vật đến từ đó
Đột hiện rồi đột tan ,
Tương tự như bào ảnh
Chẳng khác một giấc mơ
Kẻ mê muốn nắm bắt
Như nắm bắt hư không ,
Tựa như đường chim bay
Mịt mùng không vết tích …
Lý Duy-tâm-sở-hiện này, tuy mênh mang bao trùm các cõi , nhưng cũng có thể thâu gồm trong mấy chữ : Chân tâm , Bất Giác , Động Niệm, Quang Minh, Biến Hiện , Tương Ưng .
Do sự suy động của những ngọn gió Vô minh bất giác , thì biển Tâm động niệm , vọng động và nổi sóng , biến thành muôn vạn những đợt sóng nhấp nhô chập chồng, mỗi đợt tự lìa mình ra khỏi biển cả . Động niệm ấy cũng làm phát xuất vô lượng quang minh cùng quang minh quyến thuộc , những quang minh này kết tập lại , biến hiện thành những thân căn và khí thế giới , và thân-căn cùng khí thế giới này bao giờ cũng tương ưng với nghiệp lực của sự khởi niệm … Do đó , căn và cảnh không thể nào lìa nhau được , vì đều là sự biến hiện của cái Diệu Tâm nhiệm màu mà thôi .
Cũng bởi vậy , kinh Lăng Nghiêm dạy : " Nhân động mà có quang minh , nhân Quang Minh mà có hình sắc , nhân hình sắc mà có mùi hương v.v…"
Suy ngẫm kỹ , thì thấy không thể có một Chân lý nào khác để lý giải về cái bí ẩn của vũ trụ và kiếp sống .
Trong bộ kinh Lăng Già , bộ kinh mà ngài Đạt-ma mệnh danh là bộ kinh Tâm Aán , lúc khởi đầu , Ngài Bồ Tát Đại Huệ đã mang ra hỏi Phật 108 câu hỏi .
-108 câu hỏi này bao gồm tất cả pháp giới hữu hình và vô hình , bao gồm tất cả những sự vật , trong đó có nhiều sự vật khá kỳ dị . Tỷ dụ như hiện tượng Rừng Nam Nữ , tức là một khu rừng bên Aán độ trong núi Tuyết Sơn , nơi đó có thứ cây sinh ra hai thứ trái , một thứ trái giống hình người nam , một thứ giống hình người nữ. (Ngài Đại Huệ hỏi Phật : có bao nhiêu vi trần trong một thân căn chúng sanh ? Thế nào là cực vi ? Thế nào là sát-na ? Thế nào là thời gian ? … Tại sao lại có Rừng Nam Nữ ? )… Đồng thời , cũng bao gồm tất cả những bậc tu chứng , cùng những triết thuyết của mọi trường phái ngoại đạo và thế luận .
Phật đã khởi lòng từ ái trả lời khá dài , nhưng tựu trung , câu trả lời của Ngài chỉ thâu gọn trong một chữ " Phi" mà thôi .
" Sanh tức là phi sanh , bất sanh là phi bất sanh , thường là phi thường, vôâthường là phi vô thường , đoạn là phi đoạn , khứ là phi khứ , lai là phi lai , hữu là phi hữu , không là phi không , tương tục là phi tương tục , đồng thời là phi đồng thời , trước sau là phi trước sau , sát na là phi sát na , thời gian là phi thời gian , không gian là phi không gian , minh sơ là phi minh sơ , thần ngã là phi thần ngã , nhân duyên là phi nhân duyên , tự nhiên là phi tự nhiên , cực vi là phi cực vi , vật là phi vật , tưởng là phi tưởng , ý niệm là phi ý niệm v.v…"
Đọc thì thấy rất bí ẩn , khó hiểu , trái ngược … vì chúng ta vẫn còn quáù nhiều trong vô thức , những tập khí tình thức thông thường của phàm phu . Tựu trung là ý của Ngài muốn dạy như vầy :
-" Xét đến bờ mé tột cùng của Chân tâm diệu minh , cũng là Trí tuệ Bát Nhã , cũng là Như Lai tạng xuất triền , cũng là Chơn thiệt tế , cũng là Thật tướng … thì bổn lai chẳng có Vật gì cả . Không vật , không cảnh giới , không chúng sanh , không Bồ Tát , không Phật , không có đường tu chứng , không có đắc , không có người đắc , không có quá sở đắc , không mê , không ngộ . Vì các pháp bổn lai vẫn Rỗng lặng , Như Như … Như Ta đây , Ta cũng như chư Phật , vẫn ngồi diễn nói lịch kiếp tu hành , mà Ta vẫn ngồi ở nơi Không hải . Vì tuy diễn nói các kiếp tu hành vô lượng , Ta không hề có một sát-na rời bỏ cái Tâm không tịch ấy .
Vì lẽ nào ?
Chỉ là vì Ta thường trụ ở trong những cơn đại tam-muội rất sâu , rất rốt ráo, mà tất cả các trường phái ngoại đạo chưa hề lãng vãng được đến ngưỡng cửa . Ta đã vượt hết thảy các bờ mé của mọi Vọng tưởng , dù là vọng tưởng kiên cố , hay vọng tưởng hư minh u ẩn . Nên ta nhìn thấy rõ cái then chốt sinh cơ của vũ trụ , của pháp giới này. Nhìn thấy và chứng nhập . Ta và pháp giới này vừa là một , vừa là khác . Khi ta an trụ trong cái biển Pháp thân thường trụ , thì Ta với Pháp giới là một . Nhưng khi Ta hiển hiện sắc tướng làm Phật Thích Ca Mâu Ni đi ta bà các cõi thị hiện thành Chánh giác, để thành tựu căn lành của chúng sanh , thì Ta lại có vẻ khác với pháp giới .
Trụ trong tam-muội sâu . Ta nhìn rõ và biết chắc chắn rằng mọi vật , cảnh giới, thân căn , chỉ là do sự Biến hiện của tự tâm , của Chân tâm diệu minh , suy động bởi gió nghiệp lực tích lũy từ vô thủy …Đó là thông điệp vi mật của chư Như Lai , mà nay Ta hiển bày cho các ông và cho chúng sanh đời sau , khiến cho Phật chủng không dứt đoạn … Các trường phái ngoại đạo chưa thể hiểu nổi đến Chân lý đó . Họ thường chấp rằng các cực vi của tứ đại đã tạo thành thế giới , hoặc thời gian tạo ra thế giới , hoặc thần ngã sanh ra thế giới , hoặc tự nhiên có thế giới . Ngoại đạo cũng có thiền định , có tam muội , cũng xiển minh được ít nhiều chân lý . Nhưng không phải là Chân lý rốt ráo tối thắng . Họ chưa biết đến tột mé cội gốc , mới chỉ nhìn thấy mấy thứ hoa lá hoặc cành cây . Họ chưa biết đến lý Duy tâm sở hiện . Họ còn chấp rằng có cái này sanh ra cái kia , có sanh có bất sanh , có thường có đoạn , có ta có vật , có người , có chúng sanh , có thọ mạng , có đường tu , có quả đắc . Còn ở trong bờ mé của ý niệm , của vọng tưởng .
Không biết rằng cái Thực-tại-cuối-cùng vốn linh minh vắng lặng , tuyệt đường ngôn ngữ , bặt hết ý niệm và vọng tưởng . Phải lìa hết vọng tưởng mới chứng nhập được .
Vì thế , nên đối với các ông , Ta đưa ra chữ Phi này . Để ngăn đón phá trừ , khuyến tấn các ông lìa bỏ các ngôn từ danh tướng . Lià bỏ lời để ý hội lấy nghiã. Nghĩa là gì ? Nghĩa là lìa bỏ mọi vọng tưởng . Có lià bỏ mọi ý niệm , mọi vọng tưởng thì mới có thể thầm khế hợp , mới chứng nhập được Giác thể cuối cùng … Chứng nhập Giác thể hay Chân tâm để làm gì ? Là để có Trí tuệ tối thắng , và đồng thời có Tâm Đại Bi khởi diệu dụng vô cùng , ôm trọn pháp giới không ngằn mé này vào trong Diệu-sắc-thân của mình …"
Nói tóm lại , thì Ngài đưa ra một chữ Phi để phá bỏ mọi danh tướng , mọi ý niệm , mọi vọng tưởng . Vì ý niệm nào cũng chỉ là vọng tưởng , và sự vật nào cũng chỉ là một ý niệm tạo nên do cái vọng thức phân biệt của con người hay của một chúng sanh nào khác … Pháp giới chỉ là do Tự tâm biến hiện , chỉ là một trường biến hiện liên miên bất tuyệt Tương Tợ Tương Tục của tâm chuyển thành Thức . Rồi trong cái màn ảo ảnh liên miên và bao la đó , vọng thức của con người cắt xén lấy một số ảnh tượng có vẻ tương tợ tương tục. Vì chúng biến hiện tương tợ tương tục, nên chúng hình như có khoác một hình tướng . Vọng thức con người liền chộp lấy hình tướng đó , tạo thành một ý niệm rồi khoác cho nó một Tên Gọi ( danh tướng ) , ôm khư khư lấy nó , nhất định coi nó là có , cho nó là Vật , tồn tại độc lập và riêng biệt với mình . Trong khi chính thức , chúng chỉ là những ảnh tượng biến hiện nên một cách tương ưng do những chủng tử nghiệp lực của chính tâm thức mình mà thôi .
Do đó , xét đến cùng , thì mọi sự vật chỉ là những ý niệm , những ngôn từ danh tướng của vọng thức của chúng sanh … Vi trần cũng chẳng phải là vi trần , chỉ là một ý niệm về vi trần , nên tạm gọi là vi trần thôi . Thế giới chẳng phải là thế giới , chỉ là ý niệm về thế giới , nên tạm gọi thế giới . Sát-na cũng chẳng phải sát-na , chỉ là ý niệm về sát-na , nên tạm gọi sát-na . Thời gian cũng chỉ là một ý niệm . Ông A bà B cũng đều là những ý niệm do vọng thức phân biệt tạo nên … Sanh ra cũng chỉ là một ý niệm vọng tưởng , vì thực ra chẳng có cái gì có thể sanh ra cái gì cả . Vì chỉ là nhân duyên biến hiện . Vì chỉ là Biến Hiện . Bất sanh cũng vậy . Thường đoạn cũng vậy . Có không cũng vậy . Minh sơ hay Thân ngã cũng vậy , chỉ là ý niệm ngôn từ .
Ý niệm hay ngôn từ đều còn là rỗng tuếch , vì chỉ gợi lên được đôi chút hình tướng bóng dáng , mà không sao khế hợp nổi với cái Giác thể cuối cùng … Cần phải lià bỏ mọi ý niệm mới thầm khế hợp được . Cần phải luôn luôn niệm cái Vô Niệm . Nghĩa là luôn luôn tư duy , quán tưởng rằng mọi vật đều là do sự biến hiện của Tự Tâm . Cho nên , Ngài Mã Minh dạy rằng :" Giữ Chánh niệm tức là luôn luôn quán tưởng Lý Duy tâm sở hiện …"
Tuy khởi đầu , Phật đưa ra một chữ Phi bí hiểm như vậy , nhưng sau đó , trong pháp hội Lăng Già , Ngài đã giảng giải rất kỹ càng … Giảng giải về cái diễn trình của Tâm , của Như Lai tạng-xuất-triền chuyển biến thành Tàng thức , thành cái biển sóng ào ạt nhấp nhô của tám thức . Giảng giải về Tam tế Lục thô của Vô minh Bất giác . Giảng giải về ngôn từ danh tướng . Rồi giảng về các thế luận , các ký luận của mọi trường phái ngoại đạo . Và giảng về các địa tu chứng , về Pháp thân Phật , về Báo thân và về các Hoá thân của Phật . Trong khi giảng , Ngài luôn luôn nhắc tới Lý Biến Hiện của Tâm .
Pháp hội Lăng Già triệu nhóm những bậc Bồ Tát căn cơ đã thuần thục , nên lời kinh thường cô đọng khó hiểu … Trong kinh này , Phật cũng chỉ thẳng rằng Tàng thức chính là Như Lai tạng , Tàng thức toàn Vọng cũng chính là Chơn , Mê ngộ cùng một Thể , chỉ cần biết Chuyển là Tàng thức sẽ biến thành Bạch tịnh thức , tức là Như Lai tạng .
Phật nói kinh này tại cung vua Dạ Xoa , trên đỉnh núi cao chót vót không lối vào , nhìn xuống mặt biển sâu . Đỉnh núi cao tượng trưng cho pháp môn tâm-địa cao vòi vọi . Biển cả tiêu biểu cho biển tâm thanh tịnh , phản chiếu hết thảy vũ trụ . Nhưng khi ngọn gió vô-minh-bất-giác nổi lên , thì sóng thức cũng nổi lên ào ạt mịt mùng …
Bộ kinh được kết thúc bằng một phẩm chót nói về giới cấm ăn thịt . Không được ăn thịt chúng sanh … Chắc là tại loài Dạ Xoa ham ăn thịt người , và trong khi nghe kinh , vẫn có thứ Dạ Xoa thấy đói bụng lại khởi tâm muốn đi kiếm thịt ăn …
Đọc những kinh như Lăng Già , Lăng Nghiêm , Hoa Nghiêm … ta sẽ thấy rằng chỉ có một bậc Đại Giác mới có thể nói nổi những lời kinh như vậy . Phải là một Bậc , ngồi dưới gốc Bồ Đề , thị hiện thành Chánh giác , thâu suốt tất cả pháp , siêu xuất tất cả cõi , mới nói được như vậy . Lời diễn giải như nước chảy mây trôi , và văn chương nhiều khi siêu tuyệt … Bởi thế chúng ta cần đảnh lễ , cần phải niệm . Niệm Phật , niệm Kinh , niệm Tăng . Và niệm niệm chớ sanh nghi…
Vậy thì pháp giới vừa là Như Như vừa là Như Huyễn .
Lối nhìn của các loài chúng sanh đối với pháp giới là tuỳ theo mức độ tâm thức , mức độ đạo lực của chúng sanh đó .
Kẻ phàm phu thì nhìn sự vật , nhìn pháp giới , thấy như có thực , thấy có cái này sanh ra cái kia , thấy có mẹ sanh ra con , thấy cây sanh ra bông lá, thấy chất sữa sanh ra chất lạc và tô , thấy cái trống và tay người cầm dùi sanh ra tiếng trống .
Nhưng kỳ thực thì chẳng có cái gì có thể sanh ra cái gì được cả . Vì sao ? Là vì chính nó đã vô thường , niệm niệm sanh diệt , nên chẳng có tự thể gì , thì làm sao mà sanh ra một cái khác được ? Bởi vậy , pháp giới chỉ có thể là biến hiện .
Người có tâm thức cao hơn một chút nữa , khi nhìn pháp giới , thì thấy nó là nhân duyên tương sanh tương diệt . Nhưng lối nhìn này cũng chỉ mới là quyền nghĩa thôi , chưa phải là nghĩa cứu cánh .
Xét đến tột cùng ngằn mé , đến bờ mé của Tận nhập vào Vô tận , bờ mé của Vô minh nhập vào Chơn thiệt thể , thì pháp giới chỉ có thể là Biến Hiện , chỉ là sự biến hiện của Vô minh bất giác , của vô lượng vọng tưởng tích lũy từ thời vô thủy , huân tập trong Tàng thức thành những chủng tử vô hình vô ảnh , nhưng khi thời tiết chín mùi , đã làm nở ra những ảnh tượng pháp giới tương ưng với nghiệp lực của mình mà thôi .
Bởi thế nên mỗi chúng sanh đều đeo theo một ảnh tượng tương ưng và Riêng Biệt về pháp giới . Nhưng hầu hết chúng sanh đều không hay biết , cứ lầm tưởng rằng cái pháp giới đó là ở ngoài mình , và tồn tại một cách khách quan độc lập , không dính dáng gì đến mình hết .
Điều khiến cho phàm phu chúng ta dễ chấp rằng pháp giới là có thực , là các sự vật chung quanh ta đều có vẻ chắc nịch , lưu ngại , ù lỳ , cố định , rất khó chuyển hoá . Chúng ta thường tin ở giác quan của mình , nhất là xúc giác . Cái gì sờ thấy , mó thấy thì không thểkhông thực được . Mắt và tai còn có thể có ảo giác được , chứ tay sờ mó thì khó có ảo giác . Cũng tương tự như tông đồ Thomas xưa kia hoài nghi nói rằng :" Tôi chỉ tin là Chúa Ki tô sống lại , khi nào chính tay tôi được sờ mó những vết thương đóng đinh câu rút trên người Chúa …" Nhưng thực ra , thì cái cảm giác chắc –nịch-ngăn-ngại-ù-lỳ ấy cũng chỉ là một cảm giác hư minh . Sự vật có vẻ kiên cố , nhưng nó cũng chỉ là kiên cố vọng tưởng thôi . Vì sao ? Vì sự vật nào cũng là do những quang minh thô kệch , chuyển động chậm lại , cô đọng lại, và kết tập nên . Và quang minh thì phát xuất do tâm tưởng , tập khí tâm tưởng tích lũy từ vô thủy nên kết tập thành những kiên cố vọng tưởng là sự vật … Vậy nên , sự vật chỉ là những dấu vết biến hiện của tâm chúng sanh , những ký hiệu (signe) của tâm chúng sanh . Và những Bậc nào đã lìa được mọi vọng tưởng , thì sẽ bước vào bình diện của những quang minh vi diệu nhất , sẽ có đại thần lực , có thể sử dụng quang minh để chuyển hoá Vật, chuyển hoá pháp giới một cách dễ dàng như đại lực sĩ co duỗi cánh tay mà thôi .
Pháp giới bao la không ngằn mé này , trụ trên đầu một sợi lông , treo trên đầu một Tâm niệm . Một niệm Mê Mờ Vô Thủy , một niệm vô minh câu sanh .
Chìa khoá của Chân lý Chư Phật là ở hai chữ : Động Niệm . Tâm của chúng sanh luôn luôn bập bềnh dao động , không ngừng nghỉ , niệm niệm vi tế tiếp nối . Và sự động niệm ấy làm phát hiện lên những ảnh tượng pháp giới . Tương tự như những làn sóng biển li ti nhấp nhô , mỗi đợt sóng làm phát hiện một ảnh tượng lệch lạc của mặt nhật … Nếu một chúng sanh nào bặt được sự động niệm vi tế ấy , thì ảnh tượng pháp giới cũng bặt luôn đối với chúng sanh ấy .
Nhưng tại sao cái niệm ấy lại Vô Thủy ?
Vô thủy là không có bắt đầu . Niệm ấy vô thủy , là vì ngọn gíó Vô minh hằng khởi , không hề ngừng nghỉ . Tương tự như trên mặt biển đầy sóng ào ạt , thì biết cái nào là đợt sóng đầu tiên ? Vả lại , hai chữ Thủy Chung cũng chỉ là một cặp ý niệm đối đãi , do vọng thức của chúng sanh dựng lập nên . Chúng sanh nhìn sự vật , thì thấy sự vật hình như có sanh có diệt , có bắt đầu , có chung cuộc . Nên hay hỏi tại sao lại vô thủy . Nhưng khi chúng sanh đó đưa tâm thức của mình tới bờ mé của sanh diệt nhập vào vô sanh , thì tự sẽ thấy câu hỏi trước của mình chỉ là câu hỏi của một kẻ ngủ mê .
Vậy niệm ấy là vô thủy . Và pháp giới bao la này , phát hiện từ niệm ấy , cũng là vô thủy , và thường là vô chung . Chỉ trừ đối với bậc nào đã lìa bỏ hết vọng tưởng , hết khởi niệm , thì pháp giới cũng tự bặt dứt , và như thế, trở thành hữu chung đối riêng với bậc ấy .
Nhưng tại sao gọi là niệm Mê Mờ , niệm Vô-minh-câu-sanh hay Sanh-tướng-vô-minh ?
Niệm ấy mê mờ , vì là Vô minh, là Bất Giác . Đây là cái điểm bí ẩn nhất của mọi Bản thể luận , vì nó ở bờ mé của Phổ-biến nhập vào Chân-thiệt-tế , của Nhiều nhập vào Một … Trong Luận Khởi Tín , ngài Mã Minh dạy : " Do không thật biết pháp Chân như , nên tâm bất giác nổi lên , khởi vọng niệm . Song vọng niệm vì không có thật thể , nên chẳng tới Bản giác Chân như …"
Vậy thì cái Vô-minh-bất-giác đó nó không có thật thể , không nguyên nhân , nó nổi lên như một cái bóng mờ , một làn sương tỏa , nổi lên như hốt như hoảng , như một cơn mê sảng . Tương tự như anh chàng Diễn-nhã-đạt-đa trong kinh Lăng Nghiêm, soi gương thấy mình có đầu , có mặt , bỗng cái gương lệch đi , không thấy đầu nữa , bèn tưởng là mình mất đầu , phát cuồng chạy đi kiếm cái đầu .
Thực ra thì trong Chân tâm diệu minh , chẳng có một vật gì cả , và chân tâm vẫn lặng lẽ thường tịch chiếu soi , trong sáng đến tột bậc . Nhưng bỗng nhiên , một niệm mê mờ , một cơn mê sảng nổi dậy , quên rằng chính mình vốn là Trong sáng tột bực , lại muốn quay lại soi sáng chiếu soi vào chính mình … Một niệm mê mờ nổi lên , thì vô lượng niệm mê mờ đều nổi lên . Do đó , cái Minh trong sáng tột bực chuyển thành cái hư minh , và Chân tâm bị bao phủ ngăn che bởi những màn vô minh lớp lớp, cũng chuyển thành Tàng thức , cỗi nguồn của sanh diệt . Và những niệm mê mờ ấy cứ trùng trùng nổi lên , tích lũy từ những kiếp vô thủy , trở thành vô vàn tập khí chủng tử huân tập trong Tàng thức . Hư minh quay lại tự chiếu soi , nên liền phân thành năng sở , và Nga õchấp , Ngã tướng nổi lên tương tự như một cơn lốc hư minh . Đã có năng thì phải có sở , có ngã thể thì có khách thể , có trong thì có ngoài… nên các pháp , các hiện tượng đều trùng trùng nổi dậy , phát hiện vô cùng vô tận , tương tự như vô vàn những Vô minh câu sanh , hay vô-minh-uyên-nguyên này cũng được kinh Phật gọi là Nghiệp tướng vô minh . Nó cực kỳ vi tế nhỏ nhiệm u ẩn , nó lại hằng khởi nên rất bất tư nghì . Vì thế đến bậc Đẳng giác Bồ Tát cũng còn một phần vô minh này chưa gột sạch được. Lối sở hành của nó cũng rất vi tế u ẩn . Khi nó vọng khởi , thì nó Chuyển thành một phần gọi là Năng hiện , và một phần gọi là Sở hiện . Năng hiện là cái phần hư minh muốn chiếu soi , và Sở hiện là phần bị chiếu soi , nên hay hiện ra các thứ cảnh giới . Ba phần này gọi là tam tế , tức là ba tướng vi tế của Vô minh chuyển hiện … Chỉ có những bậc Bồ Tát cao từ đệ bát địa trở lên , mới tế nhận được những sở hành này .
Tam tế này chuyển dần xuống thành Lục thô , tức là những tướng chuyển hoá thô kệch hơn , tương đối dễ tế nhận hơn . Tức là chuyển dần từ chỗ vi tế vô hình tới chỗ hữu hình … Đó đều là sự hiện hành và biến hiện của những tập khí chủng-tử-vọng-tưởng-tích-lũy trong Tàng thức .
Trong cái diễn trình hiện tượng hoá từ tế đến thô này , cái mê-muội-vi-tế kết lại thành hư không , cái thiên-lưu-biến-dịch kết lại thành thời gian kiếp số , cái mê-muội-tối-tăm-thô-kệch-lưu-ngại kết lại thành vật . Cái tối-tăm-thô-kệch này tức là cái si-mê-kiên-cố , nó lóng lại và kết thành vật và khí thế giới , như trong kinh Lăng Nghiêm nói . Còn cái si-mê-vọng-tưởng có ít nhiều linh minh phân biệt thì kết lại thành thân căn của các loài chúng sanh .
Về khí thế giới , thì những cõi Sắc và Vô sắc thường phát hiện trước , rồi mới đến Dục giới . Vì dục giới thô kệch hơn … Giữa khoảng hư không vô cùng tận , bỗng nổi lên những cơn gió nghiệp mênh mang bát ngát , thổi tròn như những cơn lốc , gọi là phong luân . Phong luân nương trên hư không . Rồi những thủy luân , hoả luân cũng nổi lên bạt ngàn rào rạt , nương trên phong luân và cũng tương tự như những cơn lốc . Rồi các địa luân xuất hiện , nương trên thủy luân … Bốn thứ đại này , tuy có hình tướng , nhưng cũng đều do sự biến hiện của Vô minh vọng tưởng , của Chân tâm , nên đều chu biến khắp nơi . Khi nào nhân duyên đầy đủ và chín mùi , do sức nghiệp chiêu cảm, thì chúng hiện ra như những cơn lốc hư minh .
Thực ra , thì giữa khí thế giới tạm gọi là vô tình , với các loại hữu tình , không hề có ngằn mé ranh giới gì tuyệt đối cả . Ngằn mé chỉ là do mức độ tâm thức , mức độ đạo nhãn của một loài chúng sanh nào mà thôi . Đối với một loài chúng sanh , thì bờ mé của hữu tình đến chỗ này , nhưng đối với một loài khác , thì bờ mé lại đến chỗ kia. Đối với loài người , bờ mé hữu tình ngừng ở cỏ cây sỏi đá . Nhưng đối với một con thi trùng sống trong thân người , thì nó tưởng trái tim là núi Tu-di , và bãi nhước canh trong bao tử là biển Nam hải … Kinh Lăng Nghiêm dạy rằng cây và đá lâu năm có thể thành tinh được … Và đối với một bậc đại Bồ tát , thì bậc đó thấy rằng sơn hà đại địa , các cõi , và vô vàn chúng sanh chúng ta cũng đều ngụp lặn trong diệu-sắc-thân của bậc đó . Bởi vậy kinh dạy rằng :" Cõi là thân , thân là cõi ". Tuỳ ở mức độ đạo nhãn . Và kệ Hoa Nghiêm nói :
Trong cõi các loại thân chúng sanh
Trong thân lại có các loại cõi
Trời người các loài đều riêng khác
Phật đều biết rồi đem giảng dạy …
Nay đến các loài hữu tình , hay tạm gọi là hữu tình … Một niệm-mê-mờ nổi lên, thì vô lượng niệm-mê-mờ đều nổi lên . Niệm mê mờ vô lượng , nên chúng sanh vô lượng . Tuỳ theo những tập-khí-vọng-tưởng-điên-đảo-nhiễm-ô mà biến hiện thành các loài . Loài có nhiều căn , loài có ít căn , loài có dục , loài không dục , loài có tưởng , loài không tưởng , loài có thân hào quang , loài có thân tạp thực thô kệch v.v… Như chúng ta là người có thân tạp thực bệnh hoạn khổ lụy . Cái đó chẳng phải là ngẫu nhiên , mà chỉ là do những tập khí hoài niệm tích lũy từ vô thủy . Cái hư minh kiên cố nhất , trong thời gian hoài thai , thâu góp những cơn lốc cực vi thô kệch để kết tập lại thành thân canh sắc tướng của ta . Còn cái hư minh u ẩn hơn thì kết lại thành thọ-tưởng-hành-thức .
Mỗi chúng sanh trở thành một lăng-kính-ảnh-hiện , một trung-tâm-ảnh-hiện (centre , hay prisme de miroitament ). Vì nó vốn là một cơn lốc hư minh , nên nó ảnh hiện vũ trụ , ảnh hiện thân căn của mình , ảnh hiện nên cái ảo giác là có ngã . Chấp là có ngã , rồi chấp là có pháp , có vật , có hiện tượng bên ngoài … Mức độ ảnh hiện của mỗi chúng sanh , của mỗi loài chúng sanh thì có nhiều khác biệt , nhưng mỗi mỗi đều có ảnh hiện . Và tuỳ theo nghiệp lực , mỗi chúng sanh đều ảnh hiện vũ trụ thành một ảnh tượng Riêng Biệt Của Mình . Aûnh tượng về không gian , thời gian , về các hiện tượng cũng khác biệt . Chánh báo , y báo khác biệt …
Tóm lại , đối với mỗi chúng sanh , pháp giới bao la này chỉ là những ảnh-tượng-như-huyễn-như-hóa-chập-chồng-duyên-khởi , trùng trùng ảnh tượng , trùng trùng thẩm thấu , trùng trùng biến ảo . Các cảnh giới đều chỉ là những ảnh-biến-hiện của cái Thức của chúng sanh , và xét tột cùng hơn nữa , chúng đều là những ảnh-biến-hiện của vô-minh-vọng-thức , và vô minh thì không rời Bản giác , vốn là cái bóng mờ của Chân-tâm-diệu-minh .
Hầu hết chúng sanh không biết rằng hình tướng là do tâm niệm khởi lên . Bèn chấp là có , có mình , có người , có vật … Trải qua a-tăng-kỳ-kiếp , rong ruổi theo những hình bóng đó , khởi thêm ra đủ các thứ tâm tưởng tham-ái-sân-si-mạn-nghi-tà-kiến , tranh giành xâu xé cướp đoạt những hình bóng . Các tâm tưởng đó lại huân tập trở lại vào Tàng thức , tạo thêm những tập-khí-chủng-tử-nghiệp-lực , sau này lại nở ra hiện hành ở các kiếp khác , thành những căn thân và khí thế giới khác . Nên các chúng sanh tự quyện lấy nghiệp , như con tằm quyện trong cái kén , và nghiệp đeo theo chúng sanh như bóng theo hình … Cho mãi đến khi nào , gặp được một bậc thiện tri thức chỉ bày cho biết cái u ẩn mầu nhiệm của tâm niệm , hoặc gặp kinh chỉ bày cho cái bí ẩn của Chân tâm , thì lúc bấy giờ mới biết Hồi Đầu , quay đầu lại để nhìn vào những tâm niệm của mình , để coi xem tại làm sao chúng lại có thể biến hiện thành hình tướng …
***
Lăng-kính-ảnh-hiện những ảnh-tượng-như-huyễn-như-hóa-trùng-trùng-duyên-khởi .
Đó tạm gọi là mường tượng diễn tả pháp giới .
Xưa kia , tại cổ Trung Hoa , một vị nữ bạo chúa nổi tiếng là hoang dâm vô độ , hoàng hậu Võ Tắc Thiên , lại đến thưa hỏi ngài Đại sư Pháp tạng rằng : Cảnh giới Hoa Nghiêm là như thế nào ? Đại sư bèn lấy một cây nến lớn thắp giữa một căn phòng rộng , xung quang ngọn nến có bày la liệt những tấm gương trùng trùng lớp lớp, rồi nói rằng : " Thưa lệnh bà, cảnh giới Hoa Nghiêm cũng hơi tương tự như vậy ".
Đây là tạm ví dụ cảnh như-huyễn-ảnh-tượng .
Vào ngày nay, chúng ta có thể thay đổi sự xếp đặt khác hơn nữa . Thay thế những tấm gương bằng phẳng đó bằng trùng trùng lớp lớp những tấm gương có nhiều màu sắc : xanh vàng đỏ trắng…, nhiều hình thù : gương lồi , lõm , méo , nhiều cạnh , ít cạnh . Và mọi thứ lăng kính ấy đều lay động , di động … Và tất cả đều óng ánh những ảnh-tượng-màu-sắc , thành một cảnh tượng psychedelic , thì tương tự như cảnh giới Hoa Nghiêm hơn .
Nhưng ví dụ nào cũng chỉ là thô kệch , tạm bợ . Vì cảnh giới đó thì nói chẳng xiết , ví dụ chẳng cùng .
***
Mỗi chúng sanh đều đeo theo một mức độ ảnh hiện riêng biệt , về chánh báo y báo , về thân căn quốc độ . Mức độ đó có thể là cao hoặc thấp , bao la mênh mang hoặc hạn cuộc ngắn ngủi .
Đối với những loài côn trùng chẳng hạn , như giun , dế , chuồn chuồn … thì tâm thức trì trệ ở mức độ rất thấp kém , nhưng chúng vẫn là những lăng kính ảnh hiện , và sự ảnh hiện này chỉ có thể là đơn sơ hạn cuộc . Thời gian , không gian đối với chúng cũng đơn sơ , và ảnh tượng về vũ trụ cũng vậy .
Tiến đến những loài như chó , ngựa , voi , hạc … thì mức độ tâm thức của chúng ta đã cao hơn nhiều , nên những ảnh tượng về vũ trụ chắc là phải bao la bát ngát hơn nhiều .
Đến loài người thì lại càng cao hơn nữa rất nhiều . Đến chư Thiên , thì những ảnh tượng pháp giới càng phát triển bao la mịt mùng hơn nữa .
Đến một bậc Bồ Tát lớn , thì những ảnh tượng về pháp giới lại càng xuất hiện mịt mùng , vi diệu và mầu nhiệm hơn rất nhiều .
Một chương sau đây , khi bàn tới vấn đề thời gian và không gian , sẽ cố gắng suy luận kỹ càng hơn về những điểm này … Có điều chắc chắn là những chúng sanh lớn , có mức độ tâm thức cao , đều có thể nhìn thấy tất cả những cảnh giới ở mức độ thấp hơn . Trong khi những chúng sanh ở mức độ thấp , khó thể nhìn thấy , hoặc không thể nhìn thấy những cảnh giới cao được .
Bởi vậy , nên trong kinh thường nói rằng : " Tất cả các cảnh giới từ thô kệch cho đến vi diệu , đều Không Thật Không Hư".
Chúng đều Không Thật . Vì sao ? Là vì trước hết , các vật đều vô thường , niệm-niệm-sanh-diệt-biến-đổi . Chúng như những đám mây vân cẩu , trùng trùng theo nhân duyên khởi lên , rồi lại theo nhân duyên diệt đi . Sau nữa , là vì chúng không có thực tại gì nhất định hết , và bao giờ cũng phải tùy thuộc vào cái tâm thức thấy nghe hay biết của chúng sanh đứng nhìn nó . Tỷ dụ như một con sông . Loài người chúng ta cùng có một số lớn nghiệp lực tương đồng ( kinh gọi là Cộng nghiệp ).
Nên ai ai cũng nhìn và cho đó là một dòng sông . Nhưng loài ngạ quỷ , do sức chiêu cảm của một cộng nghiệp khác , lại nhìn thấy khác , cho nó là một dòng lửa , uống vào thì cháy cổ họng . Chư thiên nhìn , lại cho nó là ngọc lưu ly . Loài rồng nhìn lại thấy những điện đài lầu các … Lại tỷ dụ như núi Tu di . Chư thiên trở lên thì có thể nhìn thấy núi chúa này , nên cho nó là thật . Nhưng từ loài người trở xuống đều không nhìn thấy núi đó , nên cho là không thật .
Bởi thế , các cảnh giới đều không phải là thật thực sự . Vì nếu là thật , thì phải có một thực tại nhất định , bất biến , và bất cứ loài nào cũng phải nhìn thấy . Nhưng vì chúng là Biến Hiện , nên không thể bất biến được .
Nhưng chúng cũng không phải là Hư … Vì sao ? Là vì một cảnh giới bao giờ cũng có một số loài chúng sanh nhìn thấy được , hoặc nghe thấy nó , hoặc ngửi , nếm , sờ mó nó được , chấp nó là có , rồi khởi ra đủ mọi thứ vui buồn , phiền não … Do đó , chúng không phải là Hư … Tỷ dụ như trong kinh thường nói rằng : Khi Phật thuyết một thời pháp lớn , hoặc khi một Đại Bồ Tát đi qua một nơi nào , thì Đất thường rung động sáu cách . Sự chấn động sáu cách đó , phàm phu chúng ta đâu có hay biết , nhưng các vị đã vào được một thứ tam muội nào đó , thì thấy biết sự chấn động . Bởi vậy , không phải là Hư .
Tóm lại , tất cả mọi cảnh giới , từ thô kịch đến vi diệu , từ chúng sanh bé nhỏ đến các bậc chúng sanh lớn như Phật , Bồ Tát … đều Như huyễn , đều chỉ là biến hiện, đều không thật không hư , vì đều chỉ là Vọng Hiện của những tập khí chủng tử của Tàng thức , do nghiệp lực chiêu cảm . Nhưng nếu kẻ hành giả quán tưởng sâu hơn nữa. tới chỗ bờ mé , thì sẽ chuyển được tất cả Vọng ấy . Sẽ thấy toàn Vọng tức là Chân, và mọi pháp , mọi cảnh giới vốn Như Như , bản lai rỗng lặng …
***
Để kết thúc chương này , thiết tưởng cần nói rõ hơn về Cộng nghiệp và Biệt nghiệp ( hay Dị nghiệp ) của một loài chúng sanh .
Tỷ dụ như loài người . Kiếp này , chúng ta vào khoảng ba tỷ người trên trái đất này , đều được sanh làm người cả . Đó vẫn không phải là ngẫu nhiên . Mà chỉ là vì trong vô lượng kiếp , chúng ta đã tích lũy trong Tàng thức những tập-khí-chủng-tử đại để giống nhau , tương ưng với tâm thức của loài người . Đến kiếp này , thời tiết chín mùi , những chủng tử ấy hiện hành , Nở Xoè ra trên biển pháp thân , nên chúng ta cùng sanh làm người , mang một ảnh tượng thân căn đại để giống nhau , và một ảnh tượng về quốc độ đại để giống nhau … Những chủng tử nghiệp lực đại để tương đồng đó gọi là Cộng nghiệp . Nó khiến cho chúng ta , khi nhìn dòng sông , trái núi , con chó …thì ai ai cũng cho là dòng sông , trái núi , con chó chứ không cho là cái gì khác . Thấy người , thì đều cho là người … Nhưng không thấy được quỷ thần , không thấy núi Tu di , vì nghiệp lực khác biệt , nên đa số người đều nghĩ rằng quỷ thần và núi Tu di chắc là không có .
Nhưng trong cái Cộng nghiệp này , vẫn có rất nhiều cái Biệt , cái Dị , tức là Biệt nghiệp … Tỷ dụ như cùng nhìn một trái núi người này thấy núi xanh xanh , người kia thấy núi xanh biếc . Người nhìn núi thấy buồn , người nhìn thấy vui thích . Đó là Dị vi tế . Còn nhiều cái Dị thô kệch và rõ rệt hơn nhiều . Có người đẹp , người xấu , người thông minh trí tuệ , người chậm chạp học trước quên sau . Người sanh ra đã mù, què, câm , ngọng , điếc : đó phần đông đều là những kẻ vừa mới phải chịu dư báo trong loài súc sanh , rồi mới thoát lên làm người . Có người mới năm, sáu tuổi đã soạn các nhạc phẩm , đã có ít nhiều ức niệm về một vài kiếp trước của mình . Có người nhìn thấy quỷ thần , hoặc chỉ tu ít lâu , đã đắc quả Tu đà hoàn , có thể nhìn thấy các cõi trời Dục giới và Sơ thiền .
Có kẻ ngủ hay thấy ác mộng , rên khóc kêu la . Có kẻ lại hay có hảo mộng, hay mộng thấy hoá sen cùng các bậc thượng thiện nhân … Có kẻ , như triết gia Sartre , chỉ chích một mũi thuốc ma túy mescaline , bị luôn ảo giác trong sáu tháng liền , lúc nào cũng nhìn thấy một con cua to tướng ngọ nguậy ở ngay trước mắt mình . Có kẻ , cũng chích thuốc đó , lại thấy một ảo giác quái dị khác … Có kẻ , tập quán tưởng lạc nẻo , lại thấy một con nhện to tướng trước mắt .
Nói chung , Biệt nghiệp rất nhiều . Càng đi sâu vào tâm thức càng phát hiện nhiều biệt nghiệp nở ra từ Tàng thức .
***
Đại đa số chúng ta thường đều tin rằng : Có một vũ trụ bên ngoài, khách quan tồn tại độc lập , riêng biệt với ngã thể của mình . Như trái núi kia , nó kiên cố vững chắc như vậy , thì nó phải là có , và sau khi ta chết rồi , chắc rằng trái núi vẫn lừng lững như vậy và vô vàn kẻ khác vẫn nhìn thấy nó .
Đây là cái điểm bí ẩn của những cảnh giới gọi là Khách quan . Điểm này đã ám ảnh khá nhiều các triết gia hiện sinh , ( nhất là Simone de Beauvoir ), mà họ cũng không tìm được lối lý giải .
Điểm bí ẩn đó chỉ nằm trong hai chữ : Cộng nghiệp .
Do sự nở ra của những chủng tử nghiệp tương đồng , nên mỗi loài chúng sanh , tỷ dụ loài người , đều chiêu cảm những ảnh tượng thế giới tương đồng . Tất cả những ảnh tượng đó , tuy Riêng Khác của mỗi người , nhưng vẫn xen-lẫn-lồng-lại-với-nhau một cách tương-tợ-tương-tục … khiến cho mỗi người chúng ta đều lầm tưởng rằng có một thế giới khách quan riêng biệt , độc lập với tâm thức mình . Kỳ thực thì nó chỉ là một trường-biến-hiện của cái Thức của mình mà thôi .
Khi thấy một trái núi lừng lững kiên cố như vậy , rồi lại thấy ai ai cũng gọi là trái núi , thì ta rất dễ yên chí rằng nó có một thực tại khách quan riêng biệt … Nhất là khi ta nghĩ rằng , sau khi mình chết rồi , thì trái núi vẫn lừng lững còn đó , và vô vàn kẻ khác vẫn tiếp tục ngắm nhìn nó … Kỳ thực thì khi ta chết rồi , nghiệp-lực-người bặt đi , và chuyển sang một nghiệp-lực-mới nở ra , hoặc của thân trung ấm , hoặc của thân thọ sanh sau . Nghiệp-lực-người bặt đi , thì những ảnh tượng về trái núi cùng thế-giới-người của ta cũng bắt buộc phải bặt đi , để chuyển sang những ảnh tượng mới phù hợp và tương ưng với nghiệp mới nở ra .
Còn những kẻ khác còn sống lại sau ta , vì nghiệp-lực-người của họ chưa hết hiện hành , nên họ bắt buộc vẫn phải nhìn thấy trái núi và thế giới ấy … Hãy tạm Giả Thiết rằng nếu không còn người nào nữa , thì trên nguyên tắc , trái núi ấy không còn phát hiện nữa . Nhưng đó chỉ là một giả thiết không thể có được ( hypothèse impossible, purement ideale ) , vì nếu tỷ dụ trái đất người đi , trở thành một hành tinh chết như kiểu mặt trăng , thì tạm gọi rằng không còn một sinh vật nào nữa theo sự hiểu biết của người . Nhưng vẫn còn vô vàn những chư Thiên , quỷ thần , hoặc chúng sanh phi nhơn mà mắt người không nhìn thấy . Và dưới nhãn quang của những chúng sanh ấy , trái núi vẫn có thể phát hiện được … Và người Phật tử chúng ta cần luôn luôn nhớ rằng có vô lượng những loài chúng sanh dị loại với loài người .
Thiết tưởng cần nêu thêm một giả thiết nữa để soi sáng cái bí ẩn của cái gọi là Khách Quan . Tỷ dụ như tại một xứ sở hẻo lánh nào đó , có chừng độ 200000 người sống với nhau . Trong số đó , có một người bị cái ảo giác , luôn luôn nhìn thấy một con vật hình thù quái dị bò lổm ngổm chung quanh mình . Người đó kể chuyện cho những kẻ khác nghe , thì những kẻ khác đều cười , cho là ảo giác … Nhưng nếu tất cả 200000 người ấy đều bị chung một ảo giác đó , và bị liên miên , thì chắc là họ sẽ bắt đầu nghĩ rằng con vật quái dị có thể là có thật . Và nếu trong vô lượng kiếp , ảo giác ấy cứ triền miên huân tập trong Tàng thức của những người ấy , thì đến một kiếp nào đó , vọng-tưởng-kiên-cố ấy sẽ trở thành ảnh tượngh kiên cố, có thể trông thấy sờ mó thấy . và những người ấy sẽ coi ảnh tượng ấy như một thực tại khách quan , tồn tại độc lập ngoài mình …
***
Chắc có người sẽ thắc mắc : Nếu vũ trụ này quả thực chỉ là sự Biến hiện của Thức , của tâm niệm của mỗi chúng sanh , vậy thì tại sao chúng ta lại không thể dùng ý chí , dùng tâm niệm để thay đổi chuyển hoá nó được ?
Câu trả lời cũng giản dị . Chỉ là vì những tâm niệm của chúng ta , thường đều là tán loạn yếu kém . Những ảnh tượng Vật kia đều là những vọng tưởng tích lũy từ vô thủy , nay trở thành kiên cố , thì làm sao có thể lấy những tâm niệm tán loạn yếu kém trong chốc lát mà chuyển hoá được ?!… Nhưng nếu ta phát tâm vững chắc , quen tưởng nhất tâm và lâu dài , thì sẽ chuyển họ được . Vì vật nào cũng chỉ được kết tập bởi quang minh của tâm thức mà thôi .
Do đó , trong kinh Quán Vô Lượng Thọ , Đức Phật bảo bà hoàng hậu Vi Đề Hy rằng :" Người còn là phàm phu , tâm tưởng yếu kém , nên chưa thể nhìn thấy cõi Cực Lạc của Phật A Di Đà . Nhưng chư Như Lai có phương tiện là khiến người có thể trông thấy được …" Và trong các pháp hội Đại thừa , trước khi nói kinh , Phật thường hay phóng quang , dùng tâm lực vô biên của mình , để nâng tâm thức của tứ chúng lên những mức độ cao hơn . Bởi thế những người có túc duyên gặp Phật , nghe diệu âm của Phật , thường đắc quả rất nhiều …
***
Pháp giới treo trên đầu một tâm niệm , là do Tự tâm Biến Hiện .
Đó là thông điệp vi mật của chư Như Lai ba đời , mười phương .
Ở thời vắng Phật này , nếu người nào nghe nói về Pháp giới Như Huyễn và Lý Duy tâm sở hiện , mà không sanh tâm kinh nghi lại có được một niệm tín giải , hiểu rằng vũ trụ là ảnh tượng và mình cũng là ảnh tượng biến hiện từ những tâm niệm dao động bập bềnh … thì người đó chắc đã trồng túc duyên từ rất nhiều kiếp số .
Vì kệ Hoa Nghiêm , phẩm Hiền Thủ , dạy rằng :
Tất cả phàm phu ở thế gian
Người hưởng Đại Thừa rất khó gặp
Người hưởng Đại Thừa còn là dễ ,
Người tin Pháp này lại khó hơn …
Có người tay bưng mười quốc độ ,
Đứng giữa không gian trọn mười kiếp
Việc người này làm chưa là khó ,
Tin được Pháp này mới là khó …
Nơi mười cõi vi trần số chúng
Cho vật sở thích trọn một kiếp
Phước đức người này chưa là thắng

Người tin Pháp này mới tối thắng …

(Còn tiếp)

* Xin chân thành cảm tạ đạo tâm của cô Quỳnh Hoa đã giúp đánh máy lại tác phẩm này.



bullets08.gif - 0.2 KTrang mục lục sách
bullets08.gif - 0.2 KTrang Pháp luận tháng 3-2000
bullets08.gif - 0.2 KTrang chính