suynghi-4.jpg - 64.7 K
  1. Ông Chơn-Quang có giảng tà pháp không ?
1. Ông Chơn-Quang nói ngược lại những gì Phật thuyết.

Trong kinh Đại-Bát Niết-bàn, trước khi nhập diệt, đức Phật từ bi ân cần chỉ dạy lần cuối cho Bồ-tát Ca-Diếp và các Thánh-chúng, rằng, để Giáo-pháp của Như-lai luôn trong sáng và bền vững, các Ông nên lưu ý, trong hàng chư tăng Thinh-Văn vẫn có giả danh tăng và có chơn-thiệt tăng, có Trì-giới tăng và Phá-giới tăng, có hàng Tỳ-kheo Bồ-tát đáng tôn trọng của Phật, mà cũng có ma hóa hình Phật để chực chờ phá hoại Chánh-pháp của Như-lai.

Ngài lưu ý các Bồ-tát rằng : "Sau khi Như-lai nhập diệt Niết-bàn bảy trăm năm và nhẫn về sau này, ma Ba-tuần sẽ ngăn trở và cố tâm làm hư hại chánh pháp. Giống như bọn thợ săn mà mặc pháp y của nhà Phật, ma vương Ba-tuần cũng giả hình Tỳ-kheo, Tỳ-kheo Ni, Ưu Bà tắc, Ưu Bà Di. Ma vương cũng đem thân hữu lậu hóa làm thân vô lậu để cố tình làm hư hại Chánh pháp".

(Phẩm Chánh-Tà).

Bồ-tát Ca-Diếp nghe Phật thuyết như thế, nhưng vì không biết làm cách nào để phân biệt được đâu là hàng đệ-tử chân chính đáng tôn trọng của Phật, là Bồ-tát vì Chơn-lý giải thoát của Như-lai mà thuyết pháp độ người; đâu là hạng tà thần, quỉ mị, là đồ chúng của ma vương, như bọn thợ săn mặc pháp y của nhà Phật, mượn hình Phật để nói tà pháp, dẫn dắt người vào ma đạo, cũng như cố tình bôi đen hình ảnh của đức Phật và làm bại hoại Giáo-pháp của Ngài, nên Bồ-tát Ca-Diếp đã khải thỉnh Thế-tôn chỉ ra giùm chỗ khác biệt này.

Bồ-tát Ca-Diếp thưa : "Bạch Thế-tôn ! Như lời Phật dạy có bốn thứ ma. Nay con phải làm thế nào để có thể phân biệt đâu là lời của Phật, đâu là lời của ma. Có những chúng sanh chạy theo ma hạnh nói ngược lại lời Phật, mà cũng có những người thuận theo lời Phật dạy mà nói pháp. Vậy phải làm thế nào để rõ biết hai hạng người này?".

Đức Phật dạy : ". . . Nếu có chỗ nào nói : Lúc làm Thái tử (lúc Bồ-tát Thái-tử chưa xuất gia) vì lòng ái dục nên Bồ-tát cưới vợ, hưởng thọ khoái lạc trong chốn thâm cung. Nên biết rằng đây là lời của Ma-vương. Người nào thuận nghe theo đây đều là quyến thuộc của ma.

Bằng có chỗ nói rằng : Bồ-tát (lúc Bồ-tát hiện sắc thân Thái-tử, còn chưa xuất gia) đã lìa bỏ tâm tham dục, luyến ái vợ con; vì cho đến sự vui vi diệu của tam thập tam thiên mà Bồ-tát còn lìa bỏ như nhổ bỏ đờm giãi nhơ uế thay, huống là sự vui ở cõi người. Bồ tát cạo bỏ râu tóc, xuất gia hành đạo. Nên biết rằng đây là lời của Phật nói, là kinh luật của Phật. Người tin thuận nghe theo đây đều là hàng Bồ-tát chân chính của Phật".

Phật lại nói : "Nếu có chỗ nói Như-lai không phải là kết quả của vô lượng công đức, là vô thường biến đổi, do chứng được pháp "không" nên tuyên nói lý vô ngã, chẳng thuận với thế gian. Thì đây là lời của ma, mà người tin thuận theo lời này đều là quyến thuộc của ma.

Bằng có chỗ nói rằng : Như-lai là bực Chánh-Đẳng-giác, không thể nghĩ bàn, là kết quả của vô lượng công-đức, là thường trụ không biến đổi. Thì đây là lời Phật, mà ai tin thuận theo lời này đều là bực Bồ-tát chân chính của Phật vậy." … vv.

(Niết-bàn kinh – Phẩm Chánh-Tà).

Mấy đoạn kinh văn Phật dạy cho Bồ-tát Ca-Diếp vừa trích nêu, giúp chúng ta có chỗ thấy biết rạch ròi đâu là lời của tà ma ngoại đạo nói ngược, làm ngược lại những gì Phật dạy, cố tình làm suy vi, bại hoại Chánh pháp của Ngài, cũng như đâu là lời chơn thật của hàng Bồ-tát Tỳ-kheo đáng tôn trọng của Phật, y theo giáo lý của Ngài mà nói pháp và hành trì như pháp, để dẫn dắt chúng sanh vào con đường giải thoát chơn thật.

Nhận ra được chỗ khác biệt mà Thế-tôn đã chỉ dạy, đồng thời kiểm chứng lại những gì ông Chơn-Quang đã thuyết, lồng chứa trong một số băng từ được gọi là "giảng pháp" cho các Tăng-Ni-sinh, chúng ta có thể nhận ra được lời của ông sư này là của ma nói hay Phật nói, liền biết ngay. Cũng từ đó chúng ta mới thấy rõ rằng dự ngôn của đức Phật từ hơn hai ngàn rưởi năm trước đều đã xảy ra một cách chính xác, trong hiện đời mạt pháp này.

* Phật thì nói, tự tánh chúng sanh đồng một tánh Phật, cũng là Phật tánh, Pháp giới tánh, luôn tự sẵn có, luôn thanh tịnh, là thường trụ, không biến đổi. Tánh này thì không sạch không nhơ, không sáng không tối, không bớt không thêm, tự dĩ vô sanh, không còn không mất, không phải vì nhờ tu nên mới có, hay không tu thì không có, mà ai ai cũng tự sẵn có. Chỉ vì giong ruổi theo nghiệp thức vô minh mà chúng sanh không tự nhận ra, nên phải làm thân chúng sanh, thay xương đổi mặt, hết đời này đến đời khác, hết kiếp nọ đến kiếp kia, hóa hóa sanh sanh, trôi lăn vĩnh kỳ trong tử sanh, nhơn quả. Bằng chợt khi tỏ ngộ được tánh này thì tự thấy biết rõ ràng nó hằng sẵn tự nơi mình, vô thỉ vô chung, không hai không khác.

Còn tà sư Chơn-Quang thì nói, "những lời như trên chỉ là sự hiểu lầm của Lục Tổ Huệ-Năng và các Thiền-sư mà thôi. Tánh này không phải tự sẵn có mà do tu từ từ như ông ta mới có, và cũng chỉ mới có đây à". (Đã có phân tích ở bài III ).

Xem thế đủ thấy rõ ông sư này thuyết tà pháp hay Chánh pháp, là thuyết trong giòng pháp hay đi ngược lại những gì Thế-tôn đã chỉ dạy.

* Lại nữa, Phật thì khẳng định trước Bồ-tát Ca-Diếp và muôn vạn Bồ-tát mười phương : "Từ lâu Bồ-tát đã lìa bỏ tâm tham dục, luyến ái vợ con, cho chí đến sự vui vi diệu của tam thập tam thiên cũng nhổ bỏ như đờm giãi nhơ uế thay, huống là sự vui ở cõi người. Bồ-tát cạo bỏ râu tóc, xuất gia hành đạo".

Đoạn kinh văn trên có nghĩa, đức Như-lai Chánh-giác đã thành Phật từ lâu, vì đại sự nhơn duyên muốn cứu độ chúng sanh nên mới thị hiện làm Phật ở cõi này và tùy thuận thế-gian nên mới thị hiện có cha mẹ, nhơn nơi ái dục hòa hiệp mà sanh. (Phẩm Chánh-Tà).

Lại nói, Bồ-tát này đã trãi qua nhiều đời nhiều kiếp thật hành hạnh Bồ-tát để độ sanh, đã rời lìa tâm tham dục, không tha thiết với cái vui luyến ái cùng vợ con. Vì sao ? Vì đối với những sự vui vi diệu của khắp các cõi nước của tam thiên đại thiên thế giới, Ngài còn xem như đờm giãi nhơ nhớp mà nhổ bỏ thay, huống là cái vui luyến aí ở cõi người gấp vạn lần ô uế hơn thì làm sao Ngài có lòng tham luyến được.

Thế mà ông Chơn-Quang lại đem cái tâm tối tăm, đen đủi, phàm phu, tà kiến, tham dục của mình ra để soi tâm Phật, làm cái việc đại nghịch là gán cho Phật cũng có cái tâm luyến ái tham dục như mình. Để rồi tà sư này thuyết nhăn, thuyết càn, đại ý rằng : - Phật cũng có cái bản năng tình dục tự nhiên như mọi người, cũng có vợ sinh con rồi Ngài mới xuất gia, sau cũng thành Phật. Cho nên, bây giờ ai có gia đình vợ con cũng đừng nên tự ti mặc cảm mà không lo tu vì sợ không thành Phật. Đây chính là "Mậ hạnh" của ngài La-hầu-la muốn nói lại với đời sau.

Ông Chơn-Quang thuyết những lời trái nghịch lại với ý chỉ của Thế tôn; ông ta nói ngược, làm ngược, và dẫn dắt người đi ngược lại pháp hành của bậc Đại-Giác, vậy mà cũng có những người u mê, mờ mịt như ông Đàm-văn-Lượm tin nghe, dùng chút tri thức hẹp hòi cạn cợt để hiểu sai lệch một đại sự nhơn duyên của đức Phật, rồi lại còn hết lời tán tụng, bênh vực cho ông Chơn-Quang nữa, thì ông Lượm nếu chẳng phải là quyến thuộc với ma thì là gì đây? .

Phật dạy quá rõ ràng, minh bạch : "Lúc Bồ-tát làm Thái-tử, vì lòng tham dục nên Bồ-tát cưới vợ, hưởng thọ khoái lạc ở chốn thâm cung. Nên biết đây là lời của Ma-vương. Người nào tin thuận nghe theo đây thì là quyến thuộc của Ma".

Như thế cũng đã rõ, chúng tôi nào có nói oan cho ông Lượm đâu. Chính ông Lượm đang bị ma khiến sử và lậm trước ma nghiệp vào thân mà không tự biết đó thôi.

Không biết dùng lời nào để nói ra hết sự mê mờ tăm tối và đầy độc hại của tâm ý và cái miệng tà của ông sư Chơn-Quang này. Không những các lý lẽ cơ bản trong nhà Phật mà ông còn không biết đã chớ, ông còn đem chỗ u tối, tà ngụy, tham dục của lũ Ma-đăng-già ra để mê hoặc người khác phải chịu trước ma nghiệp như ông. Thật là hết chỗ nói !

Aáy thế mà cũng có những người quá đỗi mê lầm, không phân biệt được đâu là chánh-tà, Ma-Phật, như ông Đàm văn Lượm, ông Ngô-văn Hiến nào đó, tán tụng tà sư này hết lời, nào là mở mang trí tuệ, giúp thoát ra ách tắc của cuộc sống, tìm ra được chơn lý của cuộc đời, nào là "Đạo Phật đi vào cuộc đời để góp sức xây dựng một thế giới an vui, đạo đức – qua lối giảng của thầy Chơn-Quang !!.

Ông Chơn-Quang đang dẫn dắt các ông vào ma nghiệp; thần thức các ông đã quá đỗi mê mờ, nghiệp ma cột buộc lại quá chặt nên khó bề thức tỉnh, như con bệnh đã ngặt nghèo, khó mà thoát ra được.

2. Ông Chơn-Quang xuyên-tạc Mật-hạnh của Tôn-giả La-hầu-la, bôi lọ Phật.

Ông Chơn-Quang đã "thuyết pháp Phật" cho các Tăng-Ni-sinh trẻ tuổi được ghi lại trong cuốn băng Pháp-hoa giảng giải,mà chúng tôi xin được trích dẫn ra một phần, để cùng nghiệm xem ông này thuyết tà hay thuyết Phật.

" Cái "Mật hạnh" của ngài La-hầu-la làm con của Phật, nó dạy cho chúng ta một cái điều rất là lớn lao, mà cái công đức đó lớn như là công đức của Ngài A-nan giữ gìn được cái tạng kinh pháp của Phật vậy (?). Ở đây bây giờ chúng ta phân tích cái hạnh đó như thế nào mà đức Phật gọi là mật hạnh.
Hễ là Mật hạnh thì không nói được phải không ? Mà hôm nay mình lại nói ra, cho nên nó cũng không khéo lắm, nhưng mà buộc lòng mình phải nói, vì không thể im lặng nữa (!) .
Ở vị trí đức Phật vừa là vị thầy, vừa là cha của La-hầu-la nên đức Phật im lặng không nói, nhưng mình thì có thể nhìn để mình hiểu coi cái bài học mà ngài La-hầu-la muốn nói lại với hậu thế là bài học gì, khi mà ngài thị hiện làm con của đức Phật . Đây thứ nhất là chúng ta nghe đây: làm ở đây cho chúng ta thấy cái quan điểm của một con người với quan hệ gia đình và trong cái tinh thần của Phật pháp, lập lại quan hệ của gia đình trong tinh thần của Phật pháp, đây là điểm mấu chốt. Như chúng ta chỉ so sánh vài điểm chúng ta thấy. Như khi một người đó, một ông đó, một bà đó, lớn tuổi muốn đi vào chùa để tu, nghỉ ngơi tuổi già tu hành để chuẩn bị một ít công đức trước khi nhắm mắt qua đời sau .Qua nhiều đời, ngài La-hầu-la luôn luôn làm trưởng tử cho các đức Phật ở vị lai. Là vị nào mà ra đời làm Phật, thì ngài La-hầu-la luôn luôn thị hiện làm con, trước khi vị đó tu thành Phật.
Điều này nó nói lên một cái, một cái điều hết sức tế nhị mà nó giải phóng được cho rất nhiều chúng sanh, do đó ngài có phước lớn ở chỗ này, nghĩa là làm sao ? NGHĨA LÀ ĐIỀU NÀY MÌNH NÓI THẲNG RA LUÔN. THƯỜNG THÌ CON NGƯỜI TA AI CŨNG CÓ CÁI BẢN NĂNG TÌNH DỤC, CÁI BẢN NĂNG TỰ NHIÊN CỦA MUÔN LOÀI, CẢ CÂY CỐI HOA CỎ CŨNG CÓ NỮA. NÓ CŨNG CÓ SỰ GIAO PHỐI GIỮA CÁI, CÁI GIỐNG KHÁC, PHẦN TỬ ĐỰC VÀ PHẦN TỬ CÁI. . . . . GIỮA CON ĐỰC VÀ CON CÁI , NÓ LÀ CÁI BẢN NĂNG TỰ NHIÊN TRONG CON NGƯỜI.
Tuy nhiên, người tu theo đạo Phật thì phải vượt qua cái bản năng đó, tức là người muốn đi tìm giải thoát, thì phải vượt qua cái bản năng tình dục đó.
Tuy nhiên vì nó là một lý tưởng đẹp, bắt đầu đôi khi chúng ta sẽ trở thành cực đoan. Cực đoan là làm sao ? Là chúng ta lên án cái điều đó quá đáng. Khi mà chúng ta lên án cái bản năng tình dục đó quá đáng, thì đây là điều tai hại xảy ra. Là những người mà đã đi qua cái đời sống gia đình, đi qua đời sống vợ chồng, họ cảm thấy họ bị cái mặc cảm tự ti nói là mình không còn thanh tịnh, không còn trong sạch để mà tu hành giải thoát. Chính vì cái tự ti đó mà họ làm sao, họ bị thối tâm phải không ? . . . Do đó cái hình ảnh mà ngài La-hầu-la thị hiện làm con Phật trước khi Ngài (Phật) đi tu để cho người ta hiểu rằng nó là một bản năng tự nhiên, tuy cần phải vượt qua nhưng mà nó vẫn là một bản năng tự nhiên!!!

Cho nên nếu người đi qua đời sống vợ chồng rồi, đã từng có kinh nghiệm về tình dục rồi thì vẫn đến với đạo Phật được, vẫn tu hành, vẫn vượt qua được, để đi đến giải thoát được MÀ ĐỨC PHẬT LÀ MỘT TẤM GƯƠNG TIÊU BIỂU PHẢI KHÔNG? !!

Mặc dù đây là một bài thuyết ma "hổ lốn", phi Phật, phi Pháp, tanh hôi, bậy bạ, không có một chút gì để gọi là hiểu biết cách chơn chánh về Phật pháp của ông Chơn-Quang, nhưng chúng tôi cũng xin được làm cái việc tóm tắt những gì ông ta muốn nói, để người đọc dễ nhận ra, dù là tà thuyết, kẻo vì mớ ngôn từ hổ lốn, ý tưởng bệnh hoạn và sự điên cuồng vì bị ức chế tâm sinh lý của ông này có thể làm cho độc giả dễ tẩu hoả nhập ma khi nghe ông ta thuyết bịa.
Ý ông Chơn-Quang muốn nói : "Sở dĩ có chuyện La-hầu-la luôn luôn thị hiện ra đời làm con của các vị Phật, là để cho chúng sanh thấy rằng, chuyện vợ chồng, đực cái là chuyện bản năng tính dục, mà hễ làm người (như chính bản thân của tà sư) thì ai cũng phải có. Đức Phật cũng như thế, không khác. Lúc Thái-tử chưa đi tu, cũng vì có cái bản năng tình dục mà Thái tử cũng lấy vợ là bà Da-du đà-la, sanh ra La-hầu-la, cũng ham thích cái việc luyến ái vợ chồng thường tình như phàm phu. Vì theo ông sư hổ lốn này thì đó là bản năng tình dục, không ngoại trừ ai cả; rồi sau đó Ngài mới đi tu mà cũng vẫn thành Phật. Cho nên những người đang nghe ông Chơn-Quang "thuyết pháp ma" (trong đó có cả Tăng-Ni-sinh trẻ tuổi của trường Cơ-bản Phật-học) cũng cứ yên tâm mà vừa có vợ chồng, vừa có kinh nghiệm tình dục như ông Chơn-Quang, vừa cứ tu như ông ta rồi cũng sẽ thành Phật. Đây là"Mật hạnh" mà ngài La-hầu-la muốn nói lại với hậu thế đó !!!
Lại nữa đây là chuyện kín (Mật, theo ý tưởng bại hoại, đồi trụy, dâm tà, không chơn chánh của ông sư hổ lốn này) mà Phật khó tự nói ra, cũng như từ xưa tới nay chưa ai biết cái "Mật" này cả, cũng như dẫu có biết cũng không ai dám nói ra, mà chỉ có ông, tức tà sư hổ lốn Chơn-Quang là dám nói (ông là ma chúa thì việc gì chẳng không dám làm, kể cả phỉ báng Phật và xúi người cùng làm như ông) .
Sư "tà"ø này cho rằng đây là một việc quá trọng đại, buộc lòng ông ta phải nói ra, vì ông không muốn im lặng nữa; bỡi cái miệng tà của ông Chơn-Quang mà không nói chuyện dâm ô, tình dục, thì ông chịu không nổi".

Chúng tôi đã giải mã đúng ngay như tim đen của ông phải không, thưa ông Chơn-Quang? .

Trời ơi là trời! Ông Chơn-Quang ơi là ông Chơn-Quang! Dốt nát, tà đạo, tham dục như ông, không hiểu một chút gì về ý nghĩa thâm sâu của Phật pháp, mà cứ dùng cái tâm đen tối để tưởng tượng và cái miệng "tà" để nói chuyện nhơ nhớp, bậy bạ, không dính dấp gì tới đạo pháp, làm bại hoại gia phong (nếp nhà của Phật đạo), mà không có ai khóa giùm cái miệng ma của ông này.

Việc Tôn-giả La-hầu-la có đại duyên, đại phước, công đức sâu dày để luôn luôn được thị hiện làm trưởng tử cho chư Phật ba đời là điều tất nhiên chứ có chi bí mật đâu mà Phật phải dấu diếm, mà ông phải khổ sở "buộc lòng phải nói ra, không thể im lặng mãi". Đó là vì Ngài đã từng gieo không biết bao nhiêu là căn lành, thiện nghiệp trong vô lượng kiếp Phật rồi.

Việc ông nói ra, hay không nói ra đó có chết ai đâu mà ông phải buộc lòng, ấm ức, tức tưởi; chỉ có điều khi nói ra cho thõa mãn cái "ý dâm và khẩu dâm" của ông thì nó lại lòi cái dốt đặc, u mê, tà nguỵ cùng cái tâm chất chứa dâm ô nhưng bị ức chế về tâm sinh lý của ông mà thôi, chứ có ai ảnh hưởng gì đâu mà ông phải tự thấy khổ sở, ấm ức khi phải im lặng.

Nghe qua những cuộn băng của ông, không chỗ nào là ông không nói chút chút tới cái chuyện gái trai, cồ mái, đực cái, nam nữ. Ông ức chế dữ lắm hã ông ? Đến nỗi cái chuyện La-hầu-la làm trưởng tử cho chư Phật mà ông cũng cố tình xuyên tạc, chen vào cái bản-năng tình dục nữa để ông được dịp nói cho sướng miệng ma, thì ông chỉ là cái con ma chúa dâm dục mất tính người chứ nào phải là tăng, là đệ tử chơn-chánh của Phật.

Ông có biết thế nào là tăng không ? Thật nghĩa, đệ nhất nghĩa của tăng là ba nghiệp Thân, Khẩu, Ý hoàn toàn như-như thanh tịnh, một bản sao của Phật không dấu vết, đó ông à. Thanh tịnh từ đỉnh đầu đến gót chân, luôn thể hiện ra trong bốn tướng oai nghi, từ trong chỗ ẩn mật, sâu kín nhất là cái bổn tâm cho đến chỗ loạn động nhất là cái miệng, cũng phải thanh tịnh. Đó mới gọi là tăng. Tăng phải là như thế đó. Bằng khác đi thì chẳng phải vậy.

Không có ai cấm ông nói pháp. Đời này, chúng sanh đang rất cần người nói pháp. Nhưng khi nói pháp, phải "đúng như pháp" mà nói, nghĩa là "một" với Pháp tánh, nói mà thật không nói, bình đẳng, trong sáng như như, thì sự nói đó mới không lạc điệu, không ra ngoài giòng đạo pháp, ma quỉ mới không thể chen vô mà đánh lừa, nghĩa là nương gá thân miệng người nói pháp để làm cái việc phụng sự cho ma nghiệp.

Còn chỗ nói pháp của ông Chơn-Quang thì sao ? Mọi sự, mọi chuyện khi tà sư này đề cập tới, đều có dính dấp không ít thì nhiều tới tính dục và bản năng tính dục. Đó chính là pháp hành của lũ Ma-đăng-già mà người tinh ý một chút thì mới có thể thấy được, vì chúng giỏi đánh lừa bằng ngôn ngữ và giỏi che dấu hành tung của chúng.

Chuyện xưa chuyện nay chúng tôi đọc cũng nhiều, nghe cũng nhiều; những chuyện đại loại như Lỗ-trí-Thâm chẳng hạn, có đọc biết qua, chứ chưa từng nghe, chưa từng thấy một ông tăng nào có cái miệng thực dụng và dùng nó một cách khủng khiếp như tà-sư này. Đến nỗi cái chuyệnTôn-giả La-hầu-la thị hiện làm con chư Phật mà cũng được ông này xuyên tạc để có cớ cho ông ta nói về tính dục, tình dục một cách sôi nổi, hứng thú thì thật là hết biết.

Bồ-tát Thái-tử chẳng phải giống như lối suy nghĩ tà kiến, bệnh hoạn và điên cuồng vì bị ức chế tâm sinh lý của ông đâu. Hoàn toàn không phải vậy đâu.

Hơn hai ngàn rưởi năm trước, Phật cũng đã dự ngôn rằng có ngày hôm nay ma sẽ đội hình Phật (như tà sư Chơn-Quang này) và sẽ nói cách sai lệch về Ngài như thế đó.

Chỗ ân cần nhắc nhở Bồ-tát Ca-Diếp lúc Phật sắp nhập diệt, chính là những lời cảnh báo cho chúng sanh đời mạt pháp đối với những lời tà thuyết như hạng sư tà Chơn-Quang này vậy.

Ông Chơn Quang ! Ông nghĩ rằng không ai biết hành tung ông là ma chúa dâm khẩu, dâm ý và tà mị hay sao ? Ông chớ có đem việc thuyết pháp Phật mà chen vào thuyết pháp của lũ ma-đăng-gìa nữa. Hành tung giỏi che dấu của ma, chúng tôi đã biết tõng rồi, và đang trình làng để cho mọi người cùng biết, nếu ông còn thuyết ma pháp để dẫn người vào ma nghiệp.

a). Thế nào là "Mật-hạnh" .

Mật hạnh, có nghĩa là hạnh Trì-giới thâm mật, kín đáo, cao viễn, sâu xa vượt lìa những nghĩa-lý tầm thường của ngôn từ hay hình danh, sắc tướng, mà người thường dùng thế trí chẳng thể biết được. Chỉ có các bậc tu chứng, Thiền-định thâm sâu vi mật thì mới tỏ thấu, như hai ngọn đèn cùng thắp sáng, ánh sáng cùng hoà một, dung thông chan chứa với nhau. Còn người thường thì như đưa vật vào, chẳng chút dính dấp hay tỏ thấu, vì luôn luôn bị ngăn ngại. Thiền-định và Trì giới đến chỗ vi mật thì lý trí cũng như ngôn ngữ chẳng thể với tới.
Cho nên, đã nói là "Mật hạnh" thì làm sao có thể dùng khái niệm của tâm phân biệt hay tướng của ngôn ngữ để thâm nhập được, thế mà ông Chơn-Quang lại nói :
"Hễ là Mật-hạnh thì không nói được phải không? Mà hôm nay mình lại nói ra, cho nên nó cũng không khéo lắm. Nhưng mà buộc lòng mình phải nói, vì không thể im lặng nữa".
Chỗ mà ông không thể im lặng đó, ông buộc lòng ông phải nói ra đó, hoàn toàn chẳng chút gì dính dấp tới cái chỗ "Mật" kia cả, ông Chơn-Quang à !
Như ai cũng biết, La-hầu-la là con độc nhất của đức Phật. Ngài là người đại phước, có nhơn duyên lớn với Phật pháp, nên mỗi một vị Phật ra đời, Ngài thường thị hiện làm trưởng tử cho vị đó, trước khi vị Phật này xuất gia tu hành và đắc thành Bồ-đề đạo để giáo hoá chúng sanh ở cõi Phật đó, trong kiếp Phật đó.
Vì sao lại phải làm con của Phật trước khi Phật đi tu và đắc đạo? .
Chúng ta đang sống trong cõi tịnh độ của đức Phật Thích-Ca, đang trong đời của Phật Thích-Ca giáo-hóa, vậy nên lấy trường hợp của Bồ-tát Thái-tử Tất-đạt-đa gần gũi nhất mà nói.
Trước khi nhập diệt Niết-bàn, đức Phật đã ân cần dặn dò Bồ-tát Ca-Diếp và Thánh chúng:

"Đức Như-lai đã thành tựu Chánh đẳng Chánh giác từ lâu rồi, nên cũng đã từ lâu rồi Bồ-tát này (Thái tử Bồ-tát) đã lìa bỏ tâm tham dục, tâm luyến ái vợ con, vì cho đến sự vui vi diệu của các cõi trời khắp tam thiên đại thiên thế giới, Bồ-tát này còn xem như đờm giãi mà nhổ bỏ thay, huống là sự vui nhơ uế ở cõi người. (Đây là lời Phật nói trong Phẩm Chánh-Tà, kinh Đại-Bát Niết-Bàn).

Đó là vì Ngài đã dự tri, bảy trăm năm sau khi Phật nhập diệt nhẫn về sau này, ma Ba-tuần sẽ cố tình xuyên tạc pháp hành của Ngài để làm hư hại Chánh-pháp. Chỗ thuyết pháp trái nghịch của tà sư Chơn-Quang là một minh-chứng, dự ngôn của đức Phật là chính xác.

Sở dĩ Bồ tát Thái-tử Tất-đạt-đa phải lấy vợ sanh con, chỉ vì Ngài đã nhiều lần xin vua cha xuất gia, nhưng đều không được chấp thuận. Bỡi vì Tịnh-Phạn vương có nói với Bồ-tát Thái tử rằng, chừng nào nhà vua có cháu nội trai để nối dõi vương nghiệp, thì chừng đó mới cho phép Thái-tử xuất gia. Bỡi cớ ấy nên mới có việc La-hầu-la thị hiện mà làm con trưởng cho vị Phật của hiện kiếp.
Đó là lẽ thật, chứ chẳng phải La-hầu-la thị hiện làm con Phật để cho ai nấy đều biết rằng Phật cũng có tâm ái dục, có tình tưởng luyến aí vợ con, rồi mới ly gia cắt ái để đi tu, rồi cũng thành Phật, như lời ma đạo tà mị, ý tưởng bệnh hoạn, dâm ô đồi trụy như sư Chơn-Quang đã ngụy thuyết, rằng đó là bản năng tình dục, rằng đức Phật là một tấm gương tiêu biểu, rồi cho rằng đó là cái "Mật-hạnh" mà ngài La-hầu la muốn nói lại với người đời sau. Thật là lối suy diễn bậy bạ, ngu tối, tà đạo, phỉ Phật, báng pháp của bọn con cháu ma Ba-tuần.

  1. Thế nào là Mật hạnh của Ngài La-hầu-la ?
La-hầu-la vừa là con của Phật, vừa là đệ tử theo học Pháp giải thoát của Ngài. Ông là vị Sa-di đầu tiên trong Tăng đoàn của đức Phật. Và cũng nhờ có Ông mà sau đó đức Thế-tôn mới chế-lập ra luật Sa-di để thâu nhận những đệ-tử trẻ tuổi xuất gia theo Ngài tu học. Ngài La-hầu-la được Phật đem giao cho Tôn-giả Xá-lơiï-phất thâu nhận làm đệ tử.
Vì là con ruột của Phật, lại cũng là cháu nội vua Tịnh-phạn, một đại thí chủ của tăng đoàn, Tôn-giả từ lâu đã được nâng niu, chìu chuộng, nên nay tuy gia nhập tăng đoàn làm sa di, nhưng vì còn quá con nít, nên không ít thì nhiều cũng được lắm người sủng ái, nuông chìu nên tập khí kiêu mạn trong ông phát sanh là điều không sao tránh khỏi.
Thế rồi, từ việc ỷ lại gia thế dẫn tới chuyện nghịch ngợm, chòng ghẹo người này, người khác của ông, lâu ngày cũng phải đến tai đức Phật. Thế là Phật đến thẳng nơi ông tu học mà răn dạy, quở trách.
Bị Phật nghiêm trách và chỉ dạy, ông hết sức ăn năn, hối lỗi và không dám tái phạm nữa.
Từ đó ông được ngài Xá-lợi phất ra công chỉ dạy và ông cũng dõng mãnh thật hành trì giới nghiêm mật, tinh tấn tu hành, không một sai phạm nào tái diễn, để chuộc lại lỗi lầm đã qua.
Tuy ông hành trì giới luật nghiêm mật, nhưng phiền não cũng chưa sạch trừ.
Nhưng ông quyết tâm trì chí làm theo lời Phật dạy, ngày đêm miên mật tịnh tâm trì giới, tùy hình oai nghi, Thiền-định kiên cố để mong sạch trừ nhiễm ô, cấu trước.
Phật dạy cho ông : quán xét sắc vô thường, quán xét thọ, tưởng, hành, thức vô thường, cùng thân tâm của mọi người và tất thảy mọi vật thế gian đều vô thường, xả tâm, buông bỏ rốt ráo.
Nghe Phật dạy, ông hành thâm trì giới, miên mật quán tâm, quên nói, quên ăn, vào sâu Thiền định, hốt nhiên tỏ ngộ, phiền não sạch trừ, chứng đắc Thánh quả.
Ông được Phật tán thán là Mật hạnh đệ nhất. Đây mới chính là chỗ trì mật-hạnh, chứng mật-tâm của Tôn giả La-hầu-la vậy.
Còn ông Chơn-Quang thì đem cái ý nghĩ phàm phu, tục lụy áp đặt cho ông và cho Phật, nào là việc Ngài La-hầu-la thường làm con của các đức Phật, rồi Phật cũng có cái bản năng tình dục, cũng có vợ con luyến ái rồi mới đi tu, rồi cũng thành Phật, để gọi đó là cái mật hạnh, ngầm ý bảo mọi người chớ nên tự ti mặc cảm, vẫn cứ lấy vợ lấy chồng, sanh con đẻ cái, có kinh nghiệm tình dục như ông Chơn-Quang rồi mà vẫn đi tu được, vẫn thành Phật được. Hãy lấy Phật làm tấm gương tiêu biểu cho việc này. Ôi, thật là Ba-tuần lộng ngôn quá sức!
Ông Chơn Quang ! Ông nghĩ là Phật không còn ở cõi này, không mồm miệng trả lời ông, rồi thì yêu ma cứ tự tung tự tác muốn nói bừa nói nhảm, hay làm gì cũng được sao?. Còn có luật nghi đó ông à. Vì trong luật nghi tự đã sẵn có gút thắt, và gút mở. Người không biết mà phạm tội còn có chỗ khinh giảm, châm chước, chứ đã "Biết mà còn cố phạm" thì khó mà thoát khỏi vô-gián địa ngục đó ông à.

Thưa ông Đàm-văn-Lượm. Ông nói rằng ông đã từng nghiên cứu qua nhiều kinh điển sách vở, Nguyên-thủy cũng như Đại-thừa, thế mà chỉ một chỗ này ông cũng không nhận ra được đâu là ma nói, Phật nói thì phải biết rằng chỗ sở học của ông cũng không qua khỏi ngưỡng cữa của cái lò đúc "ma" Chơn-Quang mà thôi.

Phật thì dạy một đàng, ông sư Chơn-Quang này thì làm một nẻo. Không những tội tình của riêng ông Chơn-Quang phải tự đeo mang, gánh vác đã đành, mà ông ta còn lôi kéo dẫn dắt người khác trước vào ma nghiệp, như trường hợp của ông đệ tử Lượm này vậy.

Chỗ sáng tối, trắng đen, Phật-ma đã rõ rành rành ra đó, thế mà cũng còn có cái ông đệ tử Lượm của tà sư tự bịt mắt mình mà cùng sư vác nặng. Thật là tội nghiệp.

Ông Lượm hãy bình tĩnh mà nghĩ suy. Nếu có gì không ổn, chúng tôi sẽ chỉ giùm ra cho ông trong các bài viết sau này nữa. Hãy cứ an tâm đi. Dù gì thì ông cũng đã lậm quá sâu vào tà thuyết. Nhưng thế nào chúng tôi cũng sẽ giúp ông Lượm sáng mắt ra để thấy đâu ma, đâu Phật.

Như-Pháp
 
 
 
 



bullets08.gif - 0.2 K Phê bình bài viết "ÂM MƯU CHỐNG THẦY CHƠN QUANG" - Bài 5
bullets08.gif - 0.2 K Phê bình bài viết "ÂM MƯU CHỐNG THẦY CHƠN QUANG" - Bài 3
bullets08.gif - 0.2 K Phê bình bài viết "ÂM MƯU CHỐNG THẦY CHƠN QUANG" - Bài 2
bullets08.gif - 0.2 K Phê bình bài viết "ÂM MƯU CHỐNG THẦY CHƠN QUANG" - Bài 1
bullets08.gif - 0.2 K Quan điểm của độc giả về "sư" Chơn Quang
bullets08.gif - 0.2 KTrang chính