Me Tin_2

 

 

     Tự thủy uyên nguyên, khắp các loài chúng sanh cùng với Phật đồng một tâm, tức cái tâm tánh tuyệt đối, chơn thường, vắng lặng, trong trẻo, tṛn đầy, trùm khắp, không lay không động, không đến không đi, không sanh không diệt, vô thỉ vô chung, cực linh cực mầu, hay sanh các pháp. Do Phật tâm thanh tịnh, vắng lặng, huyền mầu, nhưng lại khéo sanh vạn pháp, nên cổ đức mới tạm mượn lời mà đặt tên, gọi cái tánh huyền mầu đó là "chơn không diệu hữu", tức từ cái tánh linh diệu trong trẻo, không một vật mà pháp pháp tuỳ duyên trùng trùng sanh khởi.

      Từng mỗi chúng sanh hữu t́nh là mỗi pháp từ Phật tâm duyên khởi, cũng tức là những mảnh thức tâm xuất sanh từ diệu tánh Phật, có trọn đầy đủ các đức tính như trên kia của Phật tâm. Nghĩa là những mảnh tâm nguyên uỷ, ban sơ thường xuất nhập thông lưu vô ngại đồng một Phật tâm, nhưng do bôn ba lưu lăng, lâu đời lâu kiếp, càng ngày càng nhiễm ô sâu dày theo trần cảnh, vọng chấp "ngă, pháp" làm thật, tức trong chấp thân tâm, ngoài chấp vật cảnh làm thật có, khiến chúng sanh tự trói buộc theo vọng thức,vọng nghiệp, mà quên mất đường về.

Do thức tâm vọng niệm, chấp trước, hệ lụy  vào bốn tướng ngă, nhơn, chúng sanh, thọ giả nên khiến hữu t́nh phải trôi lăn đời đời kiếp kiếp trong ḍng sanh tử, trói buộc nhơn quả luân hồi.

Hơn hai ngàn rưởi năm trước, v́ ḷng từ bi thương khắp chúng sanh mà một vị Đại Bồ tát trong nhiều đời nhiều kiếp quá khư đă giáng thế vào cơi Ta bà này, tu hành đắc đạo thành Phật, rồi chỉ bày cho chúng sanh hữu t́nh, cũng tức là những mảnh thức tâm lưu lăng bất định là con người chúng ta đây, biết đường tu học để giác ngộ bổn tánh phi sanh diệt của Phật tâm. Vị đạo sư, bậc đại giác, đại từ đại bi đó chính là đức Thích ca Mâu ni Phật, là bậc Từ phụ của hàng Phật tử chúng ta vậy.

Sau khi thành đạo, Ngài đă sáng lập ra đạo Phật, để từ đó nhẫn tới ngày nay, nhân loại có được một tôn giáo để qui về, là chỗ nương tựa vững chắc để tín ngưỡng, để nương theo đó mà tu hành, hầu cứu cánh giải thoát tử sanh phiền năo. 

Lật lại từng trang Phật sử theo thời gian, th́ từ lúc đức Thế tôn thành đạo, bắt đầu lăn chuyển pháp luân nhẫn tới ngày nay, th́ trong khoảng một ngàn năm đầu tiên của thời kỳ Chánh pháp, nhờ gần gũi và c̣n chưa xa Phật là bao nhiêu, nên chúng sanh trong thời kỳ này, hễ có tu hành là gần như được chứng đắc đạo giải thoát. Trong một ngàn năm của thời Chánh pháp đó, tự nó được chia làm hai thời kỳ rơ rệt, đó là :

Năm trăm năm đầu tiên được gọi là thời kỳ giải thoát kiên cố, tức có ngàn người qui Phật tu hành, là cả ngàn người đắc đạo giải thoát.

 

Năm trăm năm tiếp theo của thời kỳ này là giai đoạn Thiền định kiên cố, tức số người qui hướng đạo Phật thời ấy đa phần tu tập theo thiền định, nên đắc đạo giải thoát cũng rất đông đảo.

Đến một ngàn năm tiếp theo cũng được chia làm hai thời kỳ rơ rệt, đó là:

Năm trăm năm đầu của thời kỳ này là đa văn kiên cố, con người lúc đó không c̣n tha thiết nhiều với việc dụng thân tâm thực hành tu tập thiền định mà chỉ ưa nghe giảng giải kinh điển, luật luận, nên kết quả đa văn thông thái theo tri thức th́ nhiều, mà đắc đạo vô vi giải thoát của đức Phật th́ ngày càng ít hơn.

Đến năm trăm năm kế tiếp là thời kỳ tháp miếu kiên cố. Chúng sanh trong giai đoạn này biếng lười tu tập theo thiền định cũng như bớt ham thích lối đa văn suy luận, v́ nhọc thân mỏi trí, nên họ chỉ chú trọng về h́nh tướng, lo làm đền chùa, xây dựng tháp miếu, tạo dựng tượng cốt để lễ bái thờ lạy mà thôi, nên số người đắc đạo giải thoát của Thế-tôn lại càng ngày càng ít hơn nữa.

Đến năm trăm năm kế tiếp là thời đầu của mạt pháp, đó là thời kỳ đấu tranh kiên cố. Đây là thời mà như dự đoán của đức Phật, chúng ma con dân của Ba-Tuần chiếm lănh các nơi trú xá của Tam bảo, khiến nảy sinh các tông, các phái của Phật giáo chia rẽ, đấu đá, tranh giành thế lực với nhau, làm cho các giáo pháp suy yếu dần. Và lẽ đương nhiên là số người tu hành đắc Pháp giải thoát trong thời kỳ này lại càng ít hơn nữa.

Sau năm trăm năm đấu tranh kiên cố , th́ đó là chánh thời của mạt pháp (pháp ngọn, xa ĺa cái gốc pháp chân chính) mà chúng ta đang sống đây vậy. 

Ở thời này, tâm chúng sanh đen đúa nặng nề, ma tâm lừng lẫy, đạo Phật suy vi trầm trọng, t́nh trạng mê tín đă được những phần tử ác ma đội lốt con Phật thổi bùng lên, dẫn dắt chúng sanh đi vào ma lộ để trục lợi, khiến cái tâm tín ngưỡng của người ta đối với Phật đạo không c̣n là chánh tín nữa mà ngày càng bị hướng dẫn cũng như bị hiểu một cách sai lầm, lệch lạc nghiêm trọng, xa ĺa chánh pháp ban đầu mà đức Phật đă dạy.  

 Cái ḷng tín ngưỡng của hàng Phật tử đối với Phật đạo, từ xưa tới nay  luôn được mọi người tán thán. Tuy nhiên, ở vào thời pháp ngọn này (mạt pháp = pháp ngọn, tức xa cái gốc của thời Chánh pháp) đă có không ít người trong chúng ta, do nghiệp thức nhiễm ô sâu dày, si mê điên đảo nặng nề, nên đă khiến từ cái ḷng tin tốt đẹp của chúng sinh là tín ngưỡng lại trở thành si mê cuồng tín (mê tín) chỉ trong gang tấc. Và cũng v́ cái tâm mịt mờ ngu muội, mê tín nên lúc nào và ở đâu trong thời mạt pháp này, cũng đă có không ít người lầm lạc theo pháp ma dẫn dắt, khiến uổng phí một đời tu học.

V́ nghiệp tội sâu dày trong biển mê luân hồi sanh tử lâu đời lâu kiếp mà chúng ta có mặt trong cuộc sống này. Cho nên, để góp phần công đức hầu củng cố cho sự nghiệp giải thoát trong tương lai, th́ không ǵ hơn là ngay trong lúc này, chúng ta cần phải nỗ lực vun trồng cái mầm giống thiện hạnh của phước đức, song song với việc tu học của bổn tâm, hầu có thể dẹp tan được cái hàng rào kiên cố của ma chủng, lúc nào cũng muốn ngăn trở con đường trở về lại Phật tâm của chúng ta. Đó chính là phước huệ song tu mà cổ đức đă từng dạy vậy. 

Sự bít lấp con đường trở về Phật tâm khiến chúng ta trở nên ngu ngơ, mất phương hướng, mê muội, như nhược, không c̣n sự sáng suốt để có thể biện biệt được đâu là chánh pháp Phật, đâu là tà pháp của ma vương, khiến ma tâm mặc t́nh khiến sử, dẫn dắt, lôi kéo chúng ta đi sâu vào mê lộ tăm tối mà chúng ta không hề hay biết.

Ma chủng dụ dỗ, dẫn dắt chúng ta đi vào mê lầm theo ma đạo, mê hoặc chúng ta tin tưởng vào những lời đường mật của chúng là đúng, làm cho chúng ta vô t́nh quay lưng lại với những lời dạy dỗ chân chính của đức Phật.

Đa phần trong chúng ta đă lầm khi cố đi t́m cái dễ cho một sự giải thoát mau chóng mà không cần phải nhọc công, bỏ sức . Ngoái đầu nh́n lại th́ thấy chúng ta đă đi lạc ra ngoài ḍng đạo pháp của đức Phật rất xa. Chúng ta thường có cái tâm lư khinh thường chuyện làm phước, v́ cho rằng đó là phước hữu lậu, mà quên rằng, trong kinh vô lượng thọ , đức Phật đă từng dạy: "Không chịu tu thiện trước, đến khi gần chết mới ăn năn th́ quá muộn, làm sao cứu văn cho kịp...".

Trong khi đó, ở vào thời mạt pháp này, chúng ma đội lốt Phật, núp bóng nhà Phật th́ quá tinh vi, xảo quyệt mà với nhục nhăn và tri thức phàm t́nh của chúng ta th́ khó bề phát hiện nổi. Chúng ma đó không từ bất cứ một thủ đoạn nào kể cả phỉnh lừa chúng ta đi vào con đường mê tín để trục lợi. Mà ai cũng đều biết, mê tín là cách thức dễ dàng nhất để những cái tâm đen đúa, xấu xa lôi kéo, phỉnh lừa những người nhẹ dạ, cuồng tín, u mê một cách dễ dàng nhất. Cho nên nếu chúng ta không ư thức được tầm nguy hiểm của mê tín, th́ chúng ta sẽ măi măi lặn ngụp trầm luân thống khổ trong biển mê luân hồi sanh tử.

Đức Đạt Lai Lạt Ma nói một câu rất hay, đáng cho chúng ta suy ngẫm: "Không cần xây chùa, không cần triết lư rắc rối. Trí năo ta, trái tim ta là ngôi chùa của ta. Triết lư của tôi là Từ Bi (compassion) - Trích trong TẠNG THƯ SỐNG CHẾT, NS Trí Hải dịch.

Quả thật đúng như vậy ! Qua hạnh lành của việc làm phúc thiện mà từng ngày chúng ta đă từng bước tự tẩy rửa những uế trược nhiễm ô của nhiều đời nhiều kiếp trước, để tự trang nghiêm ngôi bửu tự trong tâm ta, để nó ngày càng hiển lộ rơ ràng hơn. Đến chừng ấy, chúng ta sẽ khám phá ra được kho tàng trí huệ đă bị chôn vùi từ lâu đời lâu kiếp. Đến chứng ấy, tự tâm bổn tánh bừng sáng, cũng là tự chứng cái tâm phi sanh diệt đồng như Phật không khác.

Chỉ có ngay tự bây giờ chúng ta đă và đang ươm mầm phúc thiện, thực hành thiện hạnh một cách tích cực như lời đức Phật và chư Tổ đă dạy, song song với việc tu tâm tu trí th́ trong tương lai chúng ta mới mong thâm đạt chân lư giải thoát của Thế tôn; đến chứng ấy chúng ta mới mong thật chứng thế nào Bồ đề giải thoát tâm, tức cái tâm không sanh không diệt đồng như Phật không khác kia.

Từ lâu chúng ta thường nghe các thầy giảng, hoặc đọc kinh điển, sách vở của nhà Phật, biết được rằng có một pháp tu vi diệu gọi là Phước Huệ song tu mà nhiều người tu pháp này đă thành công, nghĩa là đă thật chứng được cái tâm bất sanh như Phật không khác. Điều này đă nêu bật một chân lư, đó là nếu thiếu phước th́ huệ kia cũng khó phát sanh. Từ đó suy ra, một khi thiếu cái nhân phước, lại sai lầm trong tính cách tín ngưỡng, tức tin mù quáng, mê tín do bị ma khiến sử, biết cái này hay thấy cái kia theo sự dẫn dắt của ma tâm, th́ đó MA huệ chứ đâu phải Phật huệ.

Chúng ta đi vào đường sai mà cứ ngỡ ḿnh đi đúng, chỉ có Phật huệ mới giúp chúng ta tránh sa vào đường ác và phát hiện được hành trạng của MA. Trong Lục Độ Ba La Mật bắt đầu bằng hạnh bố thí, nó là cái móng của ngôi nhà 6 tầng. Trí huệ là tầng thứ sáu, tầng bậc cao nhất mà chúng ta cần phải đạt tới để cứu cánh giải thoát. Bố thí-Tŕ giới-Nhẫn nhục-Tinh tấn-Thiền định mới đến được Trí huệ. Nếu bám chặt không buông lơi “Lục Độ Ba La Mật” th́ chúng ta sẽ không đi lạc ra ngoá ḍng pháp của Phật. Tiến tŕnh học Phật đi theo giáo lư nhân quả, ai cũng phải trải qua nghiệp của ḿnh, không ai thay thế cho ai được, Đức Phật cũng có cái nghiệp của nhục thân phải trả trước khi đắc quả, nên chúng ta không thể đi ra ngoài qui luật này, không thể vượt trên giáo lư nhân quả cho sự đạt ngộ được.

Đức Phật sau 6 năm tu khổ hạnh, Ngài kiệt sức lê bước xuống ḍng Ni Liên Thiền đựơc nàng Su Già Ta dâng cúng 1 bát cháo sữa. Sau khi uống xong và trước khi quăng cái bát xuống ḍng sông, Ngài đă dơng dạc tuyên bố: "Nếu ta chứng đắc thành Phật quả, th́ cái bát này sẽ trôi ngược lại ḍng sông". Đó là bài pháp vĩ đại mà Ngài đă để lại cho thế gian, chúng ta cũng vậy, phải lội ngược ḍng thế gian, tức cái ḍng thác ngu si, điên đảo, mê tín đă cột trói chúng ta trong sinh tử luân hồi. Chúng ta cứ tưởng những ǵ chúng ta đang theo là đúng mà không biết rằng, chúng ta bồi đáp từ cái sai lầm này đến cái sai lầm khác, Như khi cài sai cái nút áo đầu tiên th́ nguyên dọc nút c̣n lại cũng đi theo cái sai này. Chủng tử này ngày càng lớn mạnh, chúng ta sẽ chống lại những ai đả phá lại niềm tin sai lạc của ḿnh. Đó là vận hành của MA chủng, chúng khởi lên trong tâm chúng ta, như một thứ mệnh lệnh trong vi tính, chúng ta không c̣n khả năng sử dụng đến trí tuệ ḿnh. Không có vị Thầy nào đưa ta ra khỏi bến mê này, đó là nghiệp xấu mà chúng ta đeo mang từ vô lượng kiếp, chúng ta chỉ có thể hoá giải bằng thiện hạnh vun trồng, đó là phương thuốc duy nhất, chỉ có PHƯỚC LỰC mới thoát được MA LỰC.

Chúng ta chỉ cần biết, do chúng là là kể thiếu nợ mới có mặt ở cảnh giới này. Chúng ta chớ nên khởi tâm chấp trước  mà phân biệt  phước nào là  phước hữu lậu, phước nào là  vô lậu, rồi sinh khởi định kiến, mà quên việc làm phước. Chúng ta đừng bị MA đánh lừa để không chịu làm phước, đừng bị MA lung lạc cho rằng việc làm phước thiện này chỉ là phước hữu lậu, chỉ được lên cơi trời và khi hết phước bị đọa xuống làm thân chúng sinh. Đừng tưởng lên cơi trời là dễ. Muốn sanh hóa lên cơi trời cần phải tu Thập Thiện một cách chân chính mới có thể được lên cơi trời. Nếu bạn tu Thập Thiện được một cách chân chính th́ bạn phải là người đă từng vun trồng nhiều  phước đức trong quá khứ, cũng như trước mắt bạn không bị MA khống chế để thốt lên những lời phê phán lệch lạc về giáo lư của đức Phật.

Chúng tôi biết khi viết bài này là không tránh được những đụng chạm với những thế lực đen tối lợi dụng sự nhẹ dạ của Phật tử để trục lợi, nhưng chúng tôi vẫn phải chấp nhận nếu có xảy ra đụng chạm. Chúng tôi không ngại đụng chạm nên mới mạnh mẽ  gióng lên tiếng chuông cảnh báo, rằng mê tín là liều thuốc độc đang dần dần giết chết đời sống tâm linh chúng ta.

Đức Phật dạy: “Pháp ta như thế, phải nói như thế này, chổ thật hành của Như Lai, phải nên làm theo, gieo trồng các hạt giống phúc thiện, cầu sinh về cơi tịnh kia”. Ở đây chúng ta thấy, gieo trồng các hạt giống phúc thiện là Nhân và cầu sinh Tịnh độ là Quả . Gieo nhân  phước là điều kiện ắt có để cho quả văng sinh Tịnh độ được thành tựu một cách mau chóng vậy.

Lại nữa, cũng trong Kinh Vô Lượng Thọ . Điều nguyện thứ 19 của Ngài Pháp Tạng, tức là tiền thân của Phật A Di Đà có nguyện:  “Khi tôi thành Phật, chúng sanh trong mười phương, nghe danh hiệu tôi, phát tâm bồ đề, làm các công đức, phụng hành sáu pháp ba la mật kiên cố, không thoái chuyển, lại đem căn lành hồi hướng, nguyện sanh về nước tôi, một ḷng nghĩ đến tôi, ngày đêm không gián đoạn”. Chúng ta thấy trước câu  “Nguyện sanh về nước tôi” là một dọc dài những thiện hạnh như là điều kiện để phát nguyện văng sinh. Câu “một ḷng nghĩ đến tôi, ngày đêm không gián đoạn” là ư  muốn nói đến việc chuyên tâm niệm danh hiệu Phật A Di Đà ngày đêm không ngưng dứt cho đến lúc nhất tâm bất loạn.  Nhưng việc niệm này chỉ có thể thành tựu  song song với quá tŕnh làm phước dài lâu như Phật đă dạy trong đoạn trên. Điều ấy có khác chi một người muốn sang bờ kia, đă được các bậc thầy chỉ dẫn cho phương cách qua bờ, cũng như trí năng và sức lực của anh ta th́ gồm đủ, nhưng anh ta vẫn c̣n thiếu một chút phương tiện, đó là  cái bè. Cái bè trong trường hợp này chính là thành quả từ cái nhân phước của anh ta đă gieo trồng ở quá khứ vậy.

Lại nữa, cũng trong Kinh Vô Lượng Thọ, ngài A Nan bạch Phật: “ Cơi thanh tịnh của Đức Phật kia đặng chưa từng có , tôi cũng muốn sanh về cơi nước đó.   Đức Thế Tôn bảo rằng:  “Ai sanh về nước Cực Lạc, người đó đă từng gần gũi các Đức Phật vô lượng, từng trồng các gốc đức.Ông muốn sanh về nước kia , cần phải một ḷng quy y chiêm ngưỡng.” Đoạn này cho chúng ta thấy, con đường văng sinh Cực Lạc không phải là chuyện đơn giản. Đức Phật luôn nhấn mạnh đến việc gieo trồng nhân phước như là một điều kiện  tất yếu để được văng sinh. Lời cuối trước khi  nhập diệt Đức Phật cũng không quên răn dạy các hàng đệ tử của Ngài: “ Các Người Phải Tự Thắp Đuốc Mà Đi” Việc thắp đuốc mà đi đó, không ngoài phước huệ song tu vậy.

Cuối cùng, chúng tôi hy vọng con đường học Phật của chúng ta sẽ tiến mạnh qua nhân phước được chăm chút vun bồi. V́ chỉ nhờ phước lực chúng ta mới có thể phá tan  hàng rào mê tín dầy đặc đă ngăn che không cho chúng ta t́m thấy chánh pháp. Nhờ phước lực chúng ta sẽ có cái dũng khí để mạnh dạn lấy đi những hạt sạn đă bị người ta vô t́nh hay cố ư bỏ vào trong nồi cơm ngon, tức nêu ra những điều hủ bại, mê tín mà người ta đă lợi dụng Đạo Phật để tuyên truyền, trục lợi. Chúng ta đă quá giải đăi trong việc tu hành v́ sự ỷ lại vào việc có người hộ niệm cho việc văng sinh. Chúng ta không biết tự lo lắng chuẩn bị hành trang cho chính ḿnh khi phải sắp đối diện với cái chết. Chúng ta không chút bận tâm cho những chuyện xấu ác đă làm trong đời này v́ nghĩ rằng có thể đới nghiệp văng sinh. Nếu chúng ta không thay đổi cái nh́n về Đạo Phật th́ chúng ta càng bị lún sâu trong biển mê tăm tối, hành tŕnh của chuổi kiếp luân hồi sẽ theo chúng ta bất tận. Mong thay! Mong thay!

 

T̀M VỀ CHÁNH PHÁP– Lotus Productions

LÀM SAO T̀M THẤY PHẬT– Thích Chân Tuệ

KINH NGỤY TẠO - Tiến sĩ KYOTO TOKUNO

KINH NGỤY TẠO– Pháp Tịnh hỏi, Thích Giác Hoàng trả lời

TRANG CHÍNH