VÌ SAO ĐỨC PHẬT KHUYÊN CHÚNG TA
KHÔNG NÊN BÀN CHUYỆN VŨ TRỤ ?MINH CHI
(Hoc viện Phật giáo Việt Nam )Tờ báo Time (Thời báo) của Mỹ số 29 tháng 3 năm 1999, đã đề cao nhà thiên văn học người Mỹ là Edwin Hubble như là 1 trong 100 bộ óc lớn nhất của thế kỷ XX này . Vì, trước Hubble giới thiên văn học phương Tây cho rằng giải Ngân hà (the Milky Way), trong đó có Thái dương hệ và Trái đất, là tất cả vũ trụ . Dải Ngân hà này có đường kính không dưới vài trăm ngàn năm ánh sáng ! Nói cụ thể hơn, đường kính của dải Ngân hà là 100.000 năm ánh sáng, nghĩa là muốn đi trọn đường kính của dải Ngân hà với tốc độ của ánh sáng là 300.000 km/ giây, chúng ta phải mất 100.000 năm! Riêng trong dải Ngân hà này, có khoảng 200 tỷ vì sao . Tiếp theo sự phát hiện của nhà thiên văn học Mỹ Edwin Hubble, người ta đã thống kê có tới 200.000 tinh vân tương tự như dải Ngân hà . Và hai tinh vân tương đối gần nhất, tức tinh vân Sagittaire và tinh vân La Vierge cũng cách trái đất chúng ta từ 500.000 năm ánh sáng đến 6 triệu năm ánh sáng !
Chính những phát hiện của nhà thiên văn học Mỹ Edwin Hubble và những đồng nghiệp của ông càng giúp chúng ta hiểu vì sao Đức Phật đã giữ thái độ yên lặng, khi được hỏi về những vấn đề sau :
Vũ trụ là vĩnh cửu hay không vĩnh cửu ?
Vũ trụ là hữu biên hay là vô biên ?Trong kinh Malunkya sutta (Trung Bộ II – bản dịch HT thích Minh Châu), Đức Phật đã ví dụ những người đặt ra các vấn đề về vũ trụ như vậy với một người bị tên độc bắn phải, nhưng không chịu cho thầy thuốc rút mũi tên độc ra, mà đòi hỏi phải tra cứu xem người bắn mũi tên là ai, thuộc dòng họ nào, thuộc đẳng cấp cao quý hay hạ tiện v.v…Phật nói người ngu đó sẽ chết trước khi được trả lời về mọi câu hỏi anh ta đề ra .
Điều mà Đức Phật răn dạy Malunkya là đừng có bận tâm và mất thời giờ vào những vấn đề siêu hình, theo kiểu như vấn đề thế giới là vĩnh cửu hay không, là vô biên hay hữu biên …Điều này đúng không những cách đây hơn hai nghìn rưỡi năm, khi Đức Phật còn tại thế, mà ngay bây giờ cũng vậy, khi chúng ta đang đứng trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI . Các bạn hãy tưởng tượng một vì sao tương đối "gần " tinh vân, tức là dải Ngân hà của chúng ta , thí dụ cách chúng ta 1000 năm ánh sáng . Điều này có nghĩa là ánh sáng mà chúng ta hiện nay nhận được từ vì sao ấy đã được phát ra cách đây 1000 năm ! Như vậy làm thế nào chúng ta có thể bắt chuyện với những "người" thuộc một trong những hành tinh đang vận động xung quanh vì sao đó? Thông tin với nhau còn không được, huống hồ là đặt vấn đề đi đến nơi . Hãy giả thiết chúng ta phát minh ra được một con tàu vũ trụ bay với tốc độ ánh sáng 300.000 km/ giây, thì chúng ta cũng phải mất 1000 năm mới bay đến được hành tinh đó . Tất cả những điều chúng ta vừa bàn không phải là để làm nhụt chí các nhà khoa học đang tìm mọi cách liên lạc với các hành tinh ở bên ngoài Thái dương hệ chúng ta . Hãy để cho các nhà khoa học làm công việc của họ . Đức Phật Thích Ca thật ra có lẽ không phải nói với số ít các nhà khoa học, mà nói với đại đa số chúng ta là những người bình thường . Phật dạy rằng, đời con người thật ngắn ngủi .Cuộc đời ngắn ngủi đó lại hết sức quý giá, nhưng một số chúng ta không biết sử dụng cuộc đời ngắn ngủi và quý giá đó một cách hợp lý, có ích thiết thực . Nhà văn Đài Bắc Lâm Thanh Huyền, trong cuốn "Tin tức từ biển tâm" (Tâm hải đích tiêu tức), dẫn chứng kinh Phật kể chuyện con nhà giàu lấy đạn vàng bắn chim :" Có con một nhà giàu , dùng đạn bằng vàng để bắn chim . Mọi người đều cho anh ta là ngu xuẩn . Vàng là cái quý hoá nhất, lại đem bắn chim . Nếu bắn trúng thì còn được, nhưng đa số đạn bắn ra lại không trúng đích, bay đi đâu không ai biết .
"Đức Phật mượn chuyện đạn vàng bắn chim để răn dạy chúng ta rằng, số đông người đều dùng sinh mạng rất quý báu để làm những việc không có ý nghĩa, không có lợi ích thiết thực đối với bản thân .
Hàng ngày, có một số người sống như gã con nhà giàu trong truyện, lấy đạn vàng bắn chim sẻ . Dùng thời gian quý báu để đổi lấy đồng lương không có giá trị hay là có giá trị ít ỏi . Trong công tác lại không thấy có tiến bộ . Phải chăng đó là 8 giờ công tác bị lãng phí ?
Còn 8 giờ ngủ ? Phần lớn 8 giờ ngủ là trải qua những giấc mơ, phản ứng lại những sự cố xảy ra trong ngày . Những tình cảm bị ức chế trong ngày lại bộc phát kịch liệt trong giấc mơ ban đêm . Giấc mơ cũng đầy rẫy những chuyện đáng sợ, ít có giấc mơ tốt đẹp . Như vậy, 8 giờ ngủ ban đêm cũng là lãng phí .
Còn 8 giờ nghỉ ngơi còn lại thì sao ? Thông thường, nam giới thì giao tiếp bạn bè, phụ nữ thì xem truyền hình . Phần lớn số tiền kiếm được trong công tác gian khổ, đều đem chi dùng cho sự nghỉ ngơi . Trước ngày lập gia đình, thì phần nhiều thời gian nghỉ ngơi, nam giới dành cho hẹn hò, uống cà phê, nói chuyện điện thoại . Sau khi kết hôn , thì thời gian nghỉ ngơi lại dành để vợ chồng cãi nhau, to tiếng nhau, thậm chí còn đánh nhau nữa . Đánh nhau rồi, lên giường, mỗi người nằm một góc, mỗi người vợ hay chồng đều theo đuổi dòng suy nghĩ riêng của mình . Thế là 8 giờ nghỉ ngơi trôi qua .
Nói tóm lại, 8 giờ công tác là 8 giờ theo đuổi dục vọng, 8 giờ nghỉ ngơi là 8 giờ thỏa mãn dục vọng, 8 giờ ngủ là 8 giờ mê mờ trong dục vọng" .
(Xem "Tin tức từ biển tâm" tác giả Lâm Thanh Huyền, người dịch Minh Chi , tr.230 –231)
Tất nhiên giọng của nhà văn Phật giáo Đài Bắc là Lâm Thanh Huyền có vẻ bi quan . Tôi muốn dẫn chứng những ý kiến của ông để mọi người thấy rằng, bàn suông về vũ trụ như anh chàng Malunkya trong Malunkya sutta là lãng phí đã đành, bởi vì đó toàn là chuyện như người mù sờ voi, hay chuyện con cá gặp con rùa từ đất liền trở về , tranh cãi đất liền là gì v.v… đều toàn là những chuyện không thực tế, có bàn cũng không đến đâu và lãng phí thời gian vô ích mà thôi . Thế nhưng, những người mà nhà văn Đài Loan nói trong cuốn "Tin tức từ biển tâm" đâu có bàn chuyện siêu hình và nguồn gốc của vũ trụ ? Họ bàn chuyện hết sức thực tế đâý chứ, như công tác tám giờ mỗi ngày để có tiền chi tiêu cho tám giờ nghỉ ngơi và giải trí, không kể tám giờ còn lại ngủ trong mơ . Nhà văn Lâm Thanh Huyền cho rằng những người này tuy không bàn chuyện vũ trụ siêu hình, nhưng cũng lãng phí thời gian một cách khác, vào những chuyện quá ư tầm thường . Theo đạo Phật , con người sinh ra ở đời này có một "nhiệm vụ" quan trọng hàng đầu, mà nếu con người không làm thì tất cả mọi việc làm khác của anh sẽ trở thành vô nghĩa . Đó là tìm hiểu mình, tìm hiểu con người thật của chính mình, con người thật mà theo đạo Phật, vốn tiềm ẩn sự toàn giác, khả năng thành Phật, nhưng lại không tự biết vì đã quên mất gốc . Như trong bài chữ Nôm "Cư trần lạc đạo", nhà vua Thiền sư Trần Nhân Tôn đã nói :
"Bụt ở trong nhà
Chẳng phải tìm xa
Nhân khuấy bổn, nên ta tìm Bụt .
Chỉn mới hay, chính Bụt là ta "Tìm lại ông Phật ở nơi mình, tức là tìm lại con người thật của chính mình , đó là nhiệm vụ quan trọngnhất của đời người, nhiệm vụ số một, mà sự hoàn thành sẽ có kết quả là mỗi chúng ta thành Phật . là bậc đại giác, bậc toàn giác . Tất nhiên, hoàn thành nhiệm vụ đó không phải là công việc một sớm, một chiều . Nó đòi hỏi sự nỗ lực không biết mệt mỏi của cả một đời, của nhiều đời . Nếu không xao lãng mục đích tối hậu và cao đẹp đó, thì đời chúng ta sẽ có ý nghĩa biết bao ; từng ý nghĩa, lời nói, và việc làm của chúng ta sẽ có ý nghĩa biết bao ! Bởi vì đó là những bước tiến bộ tâm linh đích thực, dẫn chúng ta hướng tới giác ngộ và giải thoát .
Vì vậy, trong cuộc sống ngắn ngủi và quý giá này, để cuộc sống trở nên có ý nghĩa đích thực, chớ có bàn suông những chuyện siêu hình như nguồn gốc của vũ trụ . Đồng thời, cũng không nên sống một cách dung tục tầm thường, chỉ biết có công tác để kiếm đồng lương, tiêu xài cho nghỉ ngơi giải trí, ngoài ra không còn biết gì nữa . Nếu sống như vậy thì cũng đáng cho nhà văn Đài Loan là Lâm Thanh Huyền phê phán trong cuốn sách " Tin tức từ biển tâm" .
Người Phật tử nên tránh cả hai cực đoan nói trên . Chúng ta hãy sống theo nếp sống đạo đức của Bát Chánh đạo, theo đúng lời dạy của Phật trong bài thuyết pháp đầu tiên . Đồng thời, luôn luôn theo dõi quan sát thân tâm mình, theo dõi quá trình lâu dài, thì thân tâm ngày càng trở nên an tịnh, trong sáng . Tâm tịnh, cảnh tịnh, nghĩa là tâm thanh tịnh thì cảnh giới thanh tịnh . Cõi Phật không phải ở phương Tây xa xôi, mà chính là ở trong tâm mình, ngay trong lòng mình . Ước sao, mọi người Phật tử chúng ta đều suy nghĩ như vậy và sống được như vậy .
(Tuần báo Giác Ngộ số 166 –6/ 1999)
Trang MỤC LỤC
Trang chính