KHÚC NHẠC TỪ CỘI TA LA VIÊN TRÍ
Vô thường là nốt nhạc buồn nhưng hùng tráng trong bản trường ca nhân thế . Tâm hoa nở rộ khi bình minh hé hiện, rồi úa tàn lúc thân gầy trĩu nặng bóng hoàng hôn . Khúc hát sanh, già, bệnh, chết luôn thăng, trầm , ẩn, hiện khắp mọi ngõ ngách của sự sống; bất kể giàu, nghèo, sang , hèn bậc thánh, người phàm . Tuy nhiên những đoản khúc này lại tiết tấu thiên hình vạn trạng, kết nên những tinh túy giữa đời khiến thế giới sanh diệt Ta bà trở nên quyến rũ nhiệm màu .
Nếu Lâm Tỳ Ni ngập tràn hương sắc , Bồ Đề Đạo Tràng tỏa sáng pháp màu , Lộc Uyển nai cười chim hót, thì Kusinara là tiếng thổn thức tê lòng thế giới nhân thiên .
Nhắc đến Kusirana là khu rừng Ta la (1) như hiện ra trước mắt với những cành hoa tươi thắm ngàn năm chỉ hé nở một lần để cung nghinh Thế Tôn vào đại định .
Nói về Ta la song thọ là bức tranh tự tại, giải thoát nhưng toả đầy lòng nhân ái, vị tha trong những giây phút cuối cùng của Đức Bổn Sư như thoáng ẩn thoáng hiện đâu đây .
Cung đàn khởi tấu từ lúc chư Thiên hân hoan trỗi nhạc, tán hoa trong sự chuyển mình của vũ trụ, thiên nhiên báo hiệu một đấng vĩ nhân xuất hiện giữa đời ; để rồi khi cánh hoa vô thường chớm nụ thì đoạn kết của khúc đại giao hưởng theo nguyên lý ngàn đời cũng trỗi tiếng giữa hư không .
Nhịp điệu làm réo rắc lòng người của bản thiên hùng ca vang lên từ đềnCàpala thuộc thành phố Vesali khi Đức Phật tuyên bố thời khắc nhập Niết bàn theo sự cầu thỉnh của Ma vương như là hiện thân của nguyên lý thành, trụ, hoại, không . Theo lời Ngài dạy, phàm mọi vật ưu ái, thân tình đều phải đổi thay, trở về hư không biến dịch . Không thể có sự kiện rằng những gì sanh khởi, tồn tại, hưũ vi, chịu sự biến hoại mà lại mong được thường hằng . Do đã thọ thân ngũ uẩn trong thế giới sanh diệt nên Ngài cũng tuân thủ quy luật ngàn đời của các pháp hữu vi . Đối với bậc Giác Ngộ việc đi hay ở chỉ tự nhiên như mây bay, gió thổi, vì :
"Các hành là vô thường ,
Có sanh phải có diệt
Đã sanh chúng phải diệt
Nhiếp chúng là an lạc"(2)
Tuy nhiên, đấy lại là tiếng thét não lòng đối với đàn con dại mồ côi :
"Thật kinh khủng bàng hoàng ,
Thật râu tóc dựng ngược ,
Khi Bậc Toàn Thiện Năng
Bậc Giác Ngộ nhập diệt" (3)
Việc Như Lai sắp đi vào cõi tịnh đã là bão tố, cuồng phong làm tan nát nhân tâm khiến cuộc hành trình của Tăng đoàn từ Vesali đến rừng Tala trở nên trầm tịch, u buồn như cõi lòng của những người con khi nhận được hung tin song thân trên đường vĩnh biệt . Chỉ một lần Thế Tôn thị hiện Niết bàn mà khúc nhạc lòng này mãi vang vọng giữa trần gian mỗi khi hình ảnh Kusinara hiện về trong tầm suy tư, nghĩ tưởng .
Ta la thuở xưa là cánh rừng xanh biếc, nơi Bậc Đại Giác chọn để xá bỏ báo thân, từ đó trở thành gia bảo của nhân gian . Hình ảnh Đức Bổn Sư chánh niệm tỉnh giác trong dáng nằm sư tử dưới hai cây đại thọ, được bao bọc bởi rừng người gồm cả nhân, thiên, như thể đang hiện hữu ngay trong tầm mắt của ai có duyên về quê cũ . Những biểu hiện từ ái bao dung của Ngài trong giây phút trước khi vào Đại Niết bàn tịch diệt ắt hẳn đã khiến những người con Phật không thể cầm được nước mắt mỗi khi nhớ lại sự quan tâm lo lắng của đấng cha già . "Này Ananda rất có thể có người làm cho thợ sắt Cunda hối hận vì Như Lai dùng bữa ăn cuối cùng do ông ta cúng dường và sau đó nhập diệt . Này Ananda cần phải làm tiêu tan sự hối hận của thợ sắt Cunda, bằng c1ch tuyên bố sự thật : Này hiền giả, thật là lợi ích, thật là công đức cho ông, vì được Như Lai dùng bữa ăn cuối cùng từ ông cúng dường và nhập diệt …Này hiền giả Cunda, tôi tự thân nghe và lãnh thọ lời nói này của Thế Tôn : Có hia sự cúng dường ăn uống đồng một quả báo …Một là bữa ăn trước khi Như Lai chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, hai là bữa ăn trước khi Như Lai diệt độ Niết bàn giới, không còn di hưởng sinh tử …"(4)
Vĩ đại và bao la thay lòng từ bi của Đấng Giác ngộ, bậc tối tôn của Phật giáo đồ !
Giống như những bậc phụ mẫu thường để lại tiền tài, danh vọng cho đàn con trước giờ lâm chung từ biệt, Đức Từ Phụ cũng trao truyền gia tài pháp bảo vì lợi ích và hạnh phúc cho hậu duệ ngàn đời sau . Đức Phật không để lại của cải vật chất vì chúng là pháp hữu vi nên sẽ biến mất, như sự vô thường sắp đổ xuống tấm thân giả tạm của Ngài . Lợi ích và cao thượng là thừa tự pháp mà không phải thừa tự vật chất . Thế Tôn cũng không hề di giáo, trao truyền danh vọng điạ vị cho ai, vì Như Lai không bao giờ nghĩ rằng Ngài là người cầm đâu chúng Tỳ kheo, hay chúng Tỳ kheo phải chịu sự giáo huấn của Ngài . Theo lời Phật dạy, ai là người tự nương tựa mình và nương tựa pháp là sáng chói nhất và đáng tôn kính nhất giữa thế giới trời, người . Những gì Đức Bổn Sư trao gởi cho chúng ta là một kho tàng trí tuệ vô giá, một nghệ thuật sống đem lại hạnh phúc cho mình và tha nhân, ngay trong hiện tại cũng như tương lai .
Để quốc gia, xứ sở có được một nền an bình thịnh trị, Đức Thích Ca để lại bức cẩm nang "Bảy pháp bất thối" cho giai cấp lãnh đạo và nhân dân thực hành .
Để Tăng đoàn được thanh tịnh, hoà hợp, Thế Tôn đã di huấn những pháp cần tu tập đối với chúng Tỳ kheo .
Nhưng bức tâm thư quan trọng nhất mà Bậc Đạo Sư tha thiết nhắc nhở đối với từng đệ tử tại gia cũng như xuất gia, trong suốt ba tháng trước ngày nhập Niết bàn là ba pháp Vô lậu học : "Này các Tỳ kheo, đây là Giới, đây là Định , đây là Tuệ . Định cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn .Tuệ cùng tu với Định sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn . Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu ", vì chính con đường sống trung đạo này sẽ sản sinh cho cuộc đời những bậc xuất thế, siêu phàm trong hiện tại cũng như mai sau .
Để đàn học trò hoàn toàn thông hội con đường giải thoát và không còn mong chờ gì nữa sau ngày thị tịch, Bậc Giác Ngộ tuyên bố rằng Chánh pháp đã được Ngài giảng dạy không phân biệt trong, ngoài, hiển, mật ; Ngài là Bậc Đạo Sư không còn cất giấu bất cứ pháp gì trong nắm tay nhằm buộc hàng môn đồ phải phục tùng tôn kính . Sự độ lượng là khôn cùng khi Ngài cho phép và khuyến khích tất cả mọi người nêu nghi vấn , thắc mắc .
Nhưng dù thế nào đi nữa, đau khổ sầu bi đã không giảm thiểu trong lòng của đàn con sắp lìa đấng cha lành . tiếng thổn thức từ con tim đến con tim,"Thế tôn nhập diệt quá sớm . Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm . Chúng ta vẫn còn là kẻ hữu học, còn phải tự lo tu tập . Nay Bậc Đạo Sư sắp diệt độ, còn ai thương tưởng đến chúng ta", càng lúc càng ngập tràn thời, không gian .
Biết rõ dòng ưu tư đang trôi chảy trong tâm của hàng nhân, thiên đệ tử, Đấng Pháp Vương đã ân cần nhắc nhủ :"Này các Tỳ kheo, nếu trong các ngươi có người nghĩ rằng : Lời nói của Bậc Đạo Sư không còn nữa, chúng ta không có Đạo sư . Này các Tỳ kheo, chớ có những tư tưởng như vậy . Pháp và luật Ta đã giảng dạy và trình bày ; sau khi Ta diệt độ , chính pháp , luật ấy sẽ là Đạo sư của các ngươi. Này các Tỳ kheo, nếu sau khi Ta diệt độ, nếu những Tỳ kheo sống chơn chánh thì đời này không vắng những vị A la hán" (5)
Chính từ những tiết tấu sau cùng này mà "Đoản khúc Ta la" mở ra một chân trời quang đãng, xua tan dần những uẩn khúc làm nghẹn ngào trái tim của người ở lại, để rồi khi đại địa chấn động báo hiệu giờ lịch sử điểm thì đàn đệ tử cút côi cũng có thể cúi đầu từ biệt Đấng Đại từ, dù lòng vẫn nhủ lòng mong sao Ngài vẫn còn trú thế.
Theo lời di huấn cuối cùng,dù Thế Tôn có nhập diệt hay không thì hiện thân của Ngài vẫn ở lại với trần thế yêu thương này . Chừng nào Chánh pháp còn lưu chuyển giữa đời ; các Tỳ kheo còn nghiêm trì Giới , Định , Tuệ ; và hàng đệ tử tại gia tu tập di huấn của Ngài, thì chính lúc ấy hoa Vô ưu vẫn hé nở, bồ đề mãi ngát hương . Vì trong lộ trình hướng đến giải thoát, Đức Phật luôn dạy rằng Ngài chỉ là vị thầy chỉ dạy con đường, còn mỗi người phải làm và trách nhiệm với nghiệp lực của mình . Không ai có năng lực làm cho kẻ khác hạnh phúc hay khổ đau .
Aáy là những nốt nhạc cuối cùng vút lên từ bài ca bất tử về cuộc đời đức Phật Thích Ca . Chuyện xảy ra đã hơn 2500 năm trước, nhưng tưởng ngỡ đâu rằng ngày một ,ngày hai . Vì kìa, Vesali vẫn đậm in dấu vết Pháp Vương, Kusinara "dép cỏ lối về còn hiển hiện" . Lại nữa , vũ trụ thiên nhiên như thể hoà cùng dòng suy tư nhân thế khi còn lưu giữ nét hoang sơ, tĩnh mịch vốn có để kẻ hậu nhân còn cơ hội chiêm bái dấu ngọc của một con người lịch sử nhưng xuất thế, siêu phàm . Về đến Ta la là những khoảnh khắc thiêng liêng của ngày xưa như hải triều âm vọng lại, và văng vẳng khắp nơi lời dặn dò chí thiết của Đức Bổn sư :
"Tự mình làm sở y cho chính mình
Hãy tinh thấn chánh niệm giữ giới luật ,
Nhiếp thức ý chí ,bảo hộ tự tâm
Ai tinh tấn trong pháp, luật này ,
Sẽ diệt sanh tử , chấm dứt khổ đau" (6)
Ai là người khát khao Bậc Đạo Sư luôn trú thể, ai là người phát nguyện đi theo ánh đạo của Từ Phụ Mâu Ni ắt lại càng nghe rõ và nhận ra những gì cần phải làm ngay bây giờ và tại đây vì lợi ích, hạnh phúc cho mình và cho cả tha nhân khi trầm tư về "di chúc Ta la" . Bằng không đến khi hoa vô thường kết nụ thì tấm thân ngũ uẩn này rồi cũng trả về với cát buị hư không ; lúc ấy lo âu cũng vô vọng, hối hận đã muộn màng; nhân duyên trùng phùng Đấng Đạo Sư e rằng vẫn còn xa lắm .
(Delhi – Aán Độ – tháng 3/ 1999)
___________
Chú thích :
(Nguyệt san Giác Ngộ số 38 – 5/ 1999)Tên của một loài cây ở Aán Độ Kinh Đại Bát Niết Bàn – Trường Bộ kinh , tập II Kinh Đại Bát Niết Bàn – Trường Bộ kinh , tập II Đức Phật nhận lời cầu thỉnh thọ trai của người thợ sắt tên là Cunda . Trong buổi ăn cuối cùng này, Tôn giả Cunda đã cúng dường nhiều loại thức ăn cho Đức Phật và chúng Tỳ kheo, nhưng trong đó có một món mộc nhĩ được dâng cúng riêng cho Thế Tôn . Món mộc nhĩ này theo lời Thế Tôn dạy, không có ai ăn vào mà có thể sống được, ngoài Như Lai vì nó cực độc . Sau buổi thọ trai này, Đức Phật cũng bị nhiễm bệnh kiết lỵ nặng nhưng Ngài kham nhẫn được . Do vậy, sợ tứ chúng đệ tử của Ngài khiển trách Tôn giả Cunda sau ngày Ngài thị hiện Niết bàn nên Đức Từ Phụ bảo Tôn giả Ananda tuyên bố sự thật trên (Xem Kinh Đại Bát Niết Bàn – Trường Bộ kinh , tập II) Kinh Đại Bát Niết Bàn – Trường Bộ kinh , tập II Kinh Đại Bát Niết Bàn – Trường Bộ kinh , tập II
Trang MỤC LỤC
Trang chính