Phật còn đau khổ, là vì tất cả Chúng sinh còn đau khổ. Bởi vậy, chỉ có người nào biết đau khổ vì khổ đau của người khác, người ấy mới có thể đi đến bên Phật. Ngược lại, người nào có thái độ thản nhiên không biết đau khổ trước khổ đau của người khác, người ấy không bao giờ vượt qua được Bản ngã của mình. Phật học là cái học của bậc "đại từ bi, năng hỷ xả". Do đó, dù bất cứ là thứ tình thương nào mà người thương biết quên mình, không đòi hỏi một tình thương trả lại của người được mình thương yêu, tình thương ấy sẽ dẫn ta lần đến con người đại từ bi của Bồ Tát. Tình thương của thế nhân, thông thường chỉ là một thứ tình thương ích kỷ, trái lại, dẫn dắt con người vào con đường tội lỗi và đau khổ cho cả đôi bên. Vì thế có thể nói: nếu không có cái khổ đau của chúng sinh thì sẽ không có cái hạnh đại từ bi của Bồ Tát. Đứng trên tinh thần này thì giải thoát không có nghĩa lìa khỏi "thế gian tướng" mà phải xuất tự "thế gian tướng" danh từ "Ba-la-mật" (đáo bỉ ngạn hoặc gọi là cứu kính viên mãn) cũng cần phải được "vượt", cũng cần phải đạt đến tâm trạng không còn thấy "có bờ bên kia" so sánh với "bờ bên này", không còn phân biệt "Chúng sinh" và "Phật", không có "mê có" "ngộ", cũng không có "sinh tử" đối với "Niết Bàn" không có phiền não đối với "Bồ đề". Cũng như không có bóng tối thì cũng không có ánh sáng. Hay nói cách khác cái ngộ nằm trong cái mê, Bồ đề nằm trong phiền não, Phật nằm trong Chúng sinh. Cái Tâm đại từ bi của Phật bao giờ cũng hòa nhịp với cái tâm của chúng sinh. Thế gian này đầy dãy những phiền não, sẽ cho chúng ta những bài học quý báu vô cùng. Những bài học ấy khắc sâu vào tâm khảm không bao giờ mất đi, giúp chúng ta dần dần thấy được Chân Như bản tính ngay từ bản tâm của mình chứ chẳng phải ở đâu xa lạ.

Đức Phật hiện thân là một con người với nhu cầu sống tối thiểu để cho cái thân tứ đại của Ngài được tồn tại trên thế gian. Trước khi xuất gia tìm đạo, Ngài cũng có vợ có con. Ngài không biểu hiện như một vị thánh thần có nhiều phép thần thông mà hằng ngày sống rất bình dị giữa Tăng đoàn: "bình thường tâm thị đạo", nghĩa là tâm bình thường là đạo. Cái bình thường ấy là cái đạo "đi ngược dòng", nghĩa là đi ngược lại mong muốn , những dục vọng ích kỷ của con người. Bình thường nhưng rất vi diệu khó mà nhận được, khó mà hiểu được đối với những hạng tầm thường, những hạng chìm đắm trong dục vọng bị Vô minh che lấp. Phật nói : "Có hai cái cực đoan mà người muốn sống được một đời sống giải thoát cần phải tránh xa! Cực đoan thứ nhất là lấy những lạc thú xác thịt làm mục đích của loài người. Đó là một nếp sống thô bỉ và ngu xuẩn! Nhưng cái cực đoan thứ hai là sống một đời khổ hạnh, ép xác cũng chỉ gây tạo cho con người thêm đau khổ và vất vả vô ích!".

Người tại gia sống giữa trần thế đầy rẫy vô thường cần phải tránh hai cực đoan trên. Tuy nhiên, nếu những ai không thể tránh được thì coi như nghiệp của những người đó rất nặng, phải chờ những quả báo đem lại những phiền não khủng khiếp thì họ mới dần dần tỉnh ngộ. Họ cần phải biết "nếm" tất cả mùi vị cay đắng ngọt ngon của cuộc đời muôn mặt, bất cứ là tốt xấu thiện ác. Nhờ thế mà kinh nghiệm đem lại cho họ một sự "khôn ngoan" thực tế (chứ không phải theo sách vở, kinh kệ giáo điều). Nghĩa là nhờ nếm đủ mùi vị, đủ mùi cay đắng chua chát vì thất vọng mà hiểu biết được rõ ràng cái thực chất và thực tướng của cuộc đời. Chúng ta hãy tự nhìn thẳng vào bản thân xem mình có mắc cực đoan nào không ? Phải chăng lòng tham vô đáy, được voi đòi tiên? Thông thường người ta được 1 chút giàu sang đã vội thay đổi tư tưởng và phong cách sống, đồng thời lại khinh người nghèo khó. Hoặc là kéo bè, kéo cánh, phân biệt thân, sơ, lợi, hại, thị phi, thị ác v.v… nhằm nâng cao cuộc sống vật chất và tinh thần cho bản thân, đầu cơ uy tín, sở hữu quyền lực … Nhưng người đời có biết đâu rằng hễ càng ham muốn thì càng sợ hãi và càng sợ hãi lại càng đau khổ. Nhẽ ra phải diệt trừ những đe dọa này thì người ta lại quỵ lụy chúng. Khi ham muốn lên tiếng : hãy đạt được vật đó đi rồi sẽ sung sướng, thì chúng ta tin tưởng và tìm mọi cách đạt kỳ được vật đó, nếu không đạt được thì đau khổ, còn nếu đạt được thì ham muốn lại thúc dục ta tìm đến vật khác nữa. Nếu đạt được lại sợ mất đi, càng có nhiều càng lo sợ nhiều. Thế mà chúng ta thấy mình không bị lừa gạt mới lạ làm sao, quả là ham muốn như lửa đỏ, càng cháy dữ khi càng đổ thêm dầu. Chừng nào chúng ta là nô lệ của dục vọng thì chừng ấy không thể đạt được hạnh phúc, không thể có cái chân thiện hoàn mỹ, dù kiếm ra nhiều tiền thì cũng không thể gọi là "phúc báo". Tóm lại, muốn có hạnh phúc thật sự phải vượt lên khỏi sợ hãi và ham muốn.

Không một vị thánh nào vỗ ngực tự xưng đã đạt được quả vị này hay quyền năng nọ. Khi đã giác ngộ thì chức tước, danh vọng, địa vị còn nghĩa lý gì nữa vì họ đâu còn bản ngã thấp hèn như chúng ta để phân biệt. Một tu sĩ hiểu biết phải lo làm chủ chính mình để cầu giải thoát chứ đâu phải lo lôi kéo đệ tử cho đông, xây cất các đền đài cho đẹp đẽ để tự hào về những thành quả này nọ. Như thế là phô trương bản ngã, kiêu căng, ngã mạn làm sao còn giải thoát được. Chỉ có các "bậc lừa bịp", các tu sĩ giả mạo mới thích danh vọng, chức tước vì bản ngã họ còn to lớn và cần danh xưng, địa vị để lòe bịp các tín đồ nhẹ dạ. Riêng đối với Phật học thì cái ý vị thâm trầm nhất của nó là tinh thần "vô trụ, vô tướng", nghĩa là ở chỗ nó là một học thuyết không có chủ thuyết, một giáo lý không có giáo điều, một tôn giáo không có Giáo chủ. Chúng ta tin Đức Phật ở tinh thần đại hùng, đại lực, đại bi. Đại hùng thể hiện dám từ bỏ ngôi vị cao sang tột bậc, từ bỏ cả những quyến rũ xác thịt để đi tìm con đường giaỉ thoát. Đại lực trong việc không ỷ lại vào bất cứ một thế lực nào, một bậc chân sư nào để cầu chỉ dẫn, mà tự lực đi tìm giải thoát. Đại bi là suốt đời chỉ cầu giải thoát đau khổ cho toàn thể nhân loại, chuyên cần thuyết pháp, cho đến hơi thở cuối cùng. Con người gần Chân lý phải là con người có biểu hiện tính chất đại hùng, đại lực, đại bi. Chúng ta liệu có dám từ bỏ uy quyền để bảo vệ sự thật không ? Hay là chúng ta vì quá ham mê quyền lực, danh vọng đến nỗi gây bao khổ đau oan trái cho người khác ? Hay là đi xu nịnh người có thế lực hoặc giàu có để hòng kiếm lợi gây nên những bất công trong xã hội ? Hay là ghen ghét đố kỵ những ai hơn mình, chỉ thích cho nhau lụi bại ?

Tại sao Ngài không viết sách truyền lại cho đời sau ? Như ngày nay, nếu các nhà khoa học không có những tác phẩm để lại thì có lẽ khoa học khó mà tiến bộ được. Chúng ta hiểu rằng việc Ngài không viết sách cũng là bài giảng về diệt Bản ngã con người đến tận cùng rốt ráo. Nghĩa là Phật cứu nhân độ thế không nhằm mọi sự hướng về mình, đúng như Phật nói : "Chân lý sẽ mở rộng cửa cho mọi người ! Kẻ nào có tai để nghe, thì nghe !". Ngài ví như quả cầu không hiện ra hình tướng, không gây 1 chút ồn ào náo nhiệt mà cũng không thiên vị phương nào , chiếu sáng mọi phương, phương nào cũng vô lượng sinh lực mang lại sự sống cho muôn loài khắp cả thế giới bao la. Quả cầu ấy không tập trung thiên vị phương nào, đã vô lượng rồi thì làm gì có cái nghĩa chấp theo một thiểu số nào đó; đã vô lượng rồi thì còn mong cầu gì sự đáp lại của muôn loài. Chúng ta không tự sửa mình cũng ví như căn nhà đang ẩm ướt đã mở cửa không đúng hướng lại còn đóng chặt khiến cho ánh nắng mặt trời không thể lọt vào bên trong thì làm sao tiêu diệt được cái trứng vi trùng gây bệnh ? Chúng ta có duyên với Phật rồi tôn thờ Ngài là tự ý chúng ta, cái tự ý ấy như một nhu cầu sống của muôn loài sinh vật cần ánh sáng mặt trời. Ta phải sống sao cho đừng chấp chặt vào bất cứ một cái gì. Huân tập cái gì nhiều thì sức mạnh của cái đó dẫn đi. Gọi là theo nghiệp thọ sinh. Nếu những cái đó chúng ta cho lặng hết, chỉ còn cái tri giác bình đẳng, lúc đó không còn nghiệp nào dẫn chúng ta đi, là giaỉ thoát, là Phật. Bất cứ cái gì trên cõi ta bà này cũng đều có sức mạnh tàng ẩn của nó. Chỉ cần trong tâm vọng tưởng về nó thôi, thì ngay lập tức đã bị nó lôi kéo rồi. Nếu sức mạnh nội tâm ta không đủ kìm nén tham vọng đến nỗi để cho tham vọng càng rực cháy thì càng bị nhiễm ma lực của cái đó. Thuyết "Thập nhị nhân duyên" và "Ngũ uẩn" cốt yếu là để đả phá những tri kiến sai lầm của "Ngã chấp" và "Pháp chấp". Chấp theo một cái ngã chủ quan, đó là ngã chấp. Chấp theo một thế giới khách quan, đó là pháp chấp. Tất cả phiền não trên đời đều do hai kiến chấp trên mà có. Những bài học lịch sử vẫn còn tươi nguyên màu máu đỏ đã chứng minh rất rõ ràng tiểu nhân vì lợi lộc mà hy sinh, quân tử vì thanh danh mà hy sinh ; mỗi bên đều vì một lý do riêng mà làm hư hỏng tình cảm cùng bản tính của mình, và đều là bỏ cái đáng làm và hy sinh cho cái không đáng làm. Cho nên đừng như tiểu nhân hay trục lợi thì thuận theo được bản tính, đừng như quân tử hay ham danh thì theo được thiên lý. Dù cong, dù ngay, cũng nên giúp bản tính của mình thuận ứng tự nhiên, quan sát bốn phương, cùng với bốn mùa mà thay đổi. Dù phải dù trái cũng giữ cho cái đạo lý ở trong thâm tâm mình.

Tinh thần "Vô trụ, vô tướng" của Phật giáo đóng vai trò khai phóng trong mọi thời đại. Kiến thức thu thập qua sách vở thường tai hại hơn một kẻ thất học dốt nát. Những người kiến văn quảng thác, lịch thiệp, bằng cấp, danh vọng thường ích kỷ lại còn ngạo mạn. Họ cho rằng mình là người biết nhiều hiểu nhiều và không chịu tìm hiểu, không chịu thực hành đào sâu thêm nữa. Đó là sự hiểu biết hời hợt qua sách vở chứ đâu phải là một chứng nghiệm nội tâm. Chỉ có nhữnghiểu biết do chính ta tìm ra thì mớithật là hiểu biết mà thôi. Kiến thức thu nhận được bằng con đường tự khám phá là kiến thức vững chắc và đáng tin cậy nhất. Sách vở chỉ là la bàn hướng dẫn, chứ đâu phải minh triết thực sự. Kiến thức thu thập tạo nên tình trạng hỗn độn trong triết lý và thần học. Các triết gia và nhà thần học đã thảo luận không ngừng về những vấn đề rất rộng lớn như : nguyên nhân đầu tiên, sự thật cuối cùng, bản chất thời gian, định mệnh con người, tự do, giải thoát v.v…. và chả đạt đến một kết quả gì hết. Các bậc hiền triết đứng bên ngoài cuộc thảo luận đó vì họ có lối giải quyết riêng, trái với các giải pháp trí thức, thay vì thảo luận họ cố khám phá lấy sự thật và khi tìm ra sự thật, các vấn đề trên sẽ đương nhiên được giải quyết. Phật học sở dĩ toàn được sứ mạng của mình là ở chỗ "lay tỉnh được con người thoát khỏi những ngục tù của các loại tri thức" đã được hệ thống hóa và đã biến thành những "tù ngục của tinh thần". Cho nên, Phật học, trước hết không phải là một tàng thất chứa chấp tri thức, mà thực sự là một thái độ "nhận thức", một phương "thần dược chữa bệnh cố chấp, tham vọng, si mê và cuồng tín". Phật đi qua một làng nọ, tên là Kesaputta. Dân chúng nơi đó đến đón Ngài và hỏi :"Bạch Ngài, có những nhà tu đến đây thuyết pháp nhưng họ cho rằng chỉ có giáo lý của họ là đúng còn tất cả đều sai lầm ! Chúng tôi hoang mang chả rõ ai đúng ai sai ?
Phật nói : "Các người hoài nghi là phải ! Các người đừng bao giờ để cho ai dẫn dắt mình cả, sách vở cũng vậy, lý trí cũng vậy. Đừng tin theo những kẻ lý luận hay, biện bác giỏi, cũng đừng để cái nào nhoáng bên ngoài trông như hữu lý nó cám dỗ các người, hoặc người nói đó là bậc thầy của mình! Chỉ khi nào tự mình các người biết rằng việc gì thuận với mình, tốt đối với mình thì hãy nhận và theo. Còn trái lại, cái gì các người tự mình nhận thấy không hợp, giả dối, xấu xa… thì hãy từ chối và xa lánh nó".

(Còn nữa)

(Tạp chí Nghiên cứu Phật học số 3 /2000)



bullets08.gif - 0.2 K Trang MỤC LỤC
bullets08.gif - 0.2 K Trang chính