PHẬT GIÁO
NHỮNG ĐÓNG GÓP CHO NỀN KINH TẾ XÃ HỘINGUYỄN XUÂN VŨ
Cách đây hơn 2500 năm, Đức Phật đã chỉ ra con đường giải thoát để hướng dẫn cho chúng ta tạo dựng một nếp sống chan hoà bớt đi những khổ đau trong đời sống, ngõ hầu vươn tới hạnh phúc chân thực . Giaó lý của Phật đã có những cống hiến to lớn nâng tầm cao của con người không những về phương diện tư tưởng đạo đức mà còn cả cuộc sống trong phạm trù kinh tế .
I. Đạo đức kinh doanh
Trong thời đại ngày nay, kinh tế càng phát triển, khoa học kỹ thuật càng tiến bộ với những bước nhảy vượt bậc, nhưng đồng thời cũng nảy sinh những hiện tượng suy thoái về đạo đức trong xã hội kể cả trong lãnh vực kinh doanh . Trong bối cảnh đó làm thế nào tìm ra những giải pháp cải thiện, làm cho đời sống vật chất và đời sống tinh thần đạo đức cùng nhau hài hoà phát triển, song song đi lên . Đó là vấn đề vô cùng cấp bách và bức thiết, nhất là trong thời điểm thế kỷ XXI .
Kinh Lục độ tập đã chỉ :"Thà nên giữ đạo, nghèo khó mà chết ; chẳng nên vô đạo, giàu sang mà sống". Kinh Vô lượng thọ cũng dạy:"Lời nói việc làm, trung thực đức tin, trong ngoài phải thuận hợp với nhau" .
Trong kinh doanh nhờ chữ tín mà bao nhiêu người đã thành đạt, đem lại đời sống tốt đẹp không những cho cá nhân và gia đình mình mà còn góp phần đưa xã hội phát triển . Nếu giữ được giềng mối đạo đức kinh doanh, thực hiện theo Bát chánh đạo của Phật giáo – nghề nghiệp chơn chánh lương thiện, lối sống chơn chánh lương thiện, chắc chắn xã hội sẽ giảm đi cảnh buôn gian bán lận, hàng giả, hàng nhái, hàng lậu …không còn cảnh mua bán xì ke, ma tuý, mãi dâm… các vụ án kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, đem lại cuộc sống an lành cho xã hội .
Kinh Hiền ngu kể chuyện vị La hán thuyết pháp cho một thương nhân tên là Ưu Bà Cúc Đề : Nếu niệm một điều thiện thì lấy một hòn đá trắng, nếu niệm một điều ác thì lấy một hòn đá đen . Lúc đầu đen nhiều trắng ít . Sau đen và trắng bằng nhau . Cuối cùng toàn đá trắng .
II . Xác lập kinh tế hộ gia đình
Gia đình là tế bào của xã hội . Đức Phật đề cập rất rõ nhiệm vụ từng cá nhân thành viên của gia đình . Những lời dạy ấy luôn luôn nêu rõ các nhiệm vụ về kinh tế . Đức tính cần kiệm luôn luôn hiện diện trong lời chỉ dạy của Người :"Chính ý thức tự lập, việc không nợ nần mới có thể đưa đến hạnh phúc" .
Con cái khi đã trưởng thành, nhiệm vụ của họ đốivới cha mẹ là phải lo sanh kế (kinh Lục phương lễ) làm tăng thêm của cải, lo trả nợ nần, kế thừa sự nghiệp của cha mẹ . Ngược lại, cha mẹ phải dạy dỗ con cái, nâng cao học vấn và nghề nghiệp, giao lại của cải cho con cái lúc thích hợp .
Chồng và vợ bình đẳng, quí mến kính trọng lẫn nhau, bổ sung lẫn nhau trong việc lo sanh kế . Luật Manu thời cổ đại Aán Độ thừa nhận chế độ nô lệ, ấn định vai trò của phụ nữ thấp kém hơn nam giới và không được tham dự các hoạt động tôn giaó . Trong tình huống đó Đức Phật đã giaó dục "chồng phải quý mến và kính trọng vợ", mở ra con đường giải phóng cho phụ nữ, nâng cao địa vị của họ trong gia đình, để họ tham gia vào mọi hoạt động trong đó có lãnh vực kinh tế . Chồng phải uỷ thác mọi việc trong nhà cho vợ với đầy đủ quyền hành quản lý tài sản như một nhà hành chính – kinh tế của gia đình –ngược lại, vợ phải cần kiệm, lo gìn giữ tài sản, sắp xếp cuộc sống trong khả năng kinh tế của gia đình mình .
Vấn đề kế toán ngân sách gia đình, kinh Thiện Sanh đã viết :"Thiện Sanh chia khoản thu của mình ra làm bốn phần –một phần dành cho việc chi tiêu hàng ngày, hai phần dành cho việc đầu tư kinh doanh và phần thứ tư là đề phòng những bất trắc có thể xảy ra". "Một người nên sử dụng khoản thu nhập của mình không quá ít mà cũng không được quá nhiều". Trong việc chi tiêu hàng ngày, kinh Pattakama nêu ra chi tiết những khoản mua sắm thực phẩm, quần áo, nuôi dưỡng cha mẹ, vợ con và người giúp việc, trị bệnh, làm việc từ thiện, đối xử với bà con, bố thí và hành lễ . Cuối cùng kinh đề ra nhiệm vụ nộp thuế và nộp thuế phải đúng hạn . Như vậy, Đức Phật chỉ dạy cho mỗi hộ kinh tế có trách nhiệm không những đối với gia đình mà còn cả trách nhiệm đối với nguồn thu của ngân sách quốc gia, góp phần vào việc xây dựng nền tài chính của đất nước . Mỗi một cá nhân, mỗi một gia đình không những lo chăm chuốt cho kinh tế hộ của mình mà còn có một cái gì to lớn hơn –đó là nền kinh tế của quốc gia .
II .Những đề cập của Đức Phật trên bình diện kinh tế vĩ mô
"Đức Phật ra đời chính là sự an lạc hạnh phúc cho nhân loại". Một sợi chỉ đỏ xuyên suốt qua các kinh tạng là việc đề ra những đường hướng và các giải pháp cụ thể để thực hiện nhằm nâng cao cuộc sống của con người .
1.Phát triển sản xuất toàn diện để gia tăng thu nhập của quốc gia
Theo lý thuyết kinh tế học Phật giáo :"Khi khuyến khích làm ra của cải vật chất, Đức Phật đã đề cập sâu sắc các lĩnh vực nông nghiệp, thương nghiệp, chăn nuôi gia súc, các dịch vụ bảo hiểm, các cơ chế quản lý và các dịch vụ việc làm" .
Nhờ vào sự gia tăng của một nền sản xuất đa dạng, nguồn cung không ngừng phát triển đáp ứng nhu cầu của con người và làm cho thu nhập của quốc gia gia tăng . Nền tài chính công sẽ lớn mạnh qua nguồn thu được từ thuế đáp ứng cho sự chi tiêu của đất nước .
Ở đây, chúng ta thấy có sự liên quan nhân quả hỗ tương trong lời Phật dạy. Một mặt Ngài khuyến khích sản xuất, một mặt Ngài khuyên bảo chúng ta chi tiêu không quá keo kiệt với nguồn thu nhập của mình . Sản xuất để tăng cung, tiêu thụ để nâng cầu làm cho cung và cầu gặp nhau quân bình hài hoà . Có như thế, kinh tế mới phát triển không ngừng . Ngay trong kinh tế hộ gia đình, một người thực hiện đầy đủ theo lời Phật dạy thì người đó và gia đình đã tạo ra một số cầu không nhỏ làm lực đẩy cho sản xuất. Chính bản thân họ và gia đình cũng được thu hút vào sản xuất để có đủ thu nhập để đáp ứng cho đời sống gia đình. Ngay trong nhiệm vụ chồng phải mua sắm nữ trang cho vợ, người chồng phải làm sao cho có thu nhập rồi mua sắm, tạo ra một dây chuyền phát triển trong các ngành nghề kim hoàn, nữ trang, thời trang, dệt may…
2. Đầu tư vào con người giáo dục và hướng nghiệp
Kinh Trung A Hàm khẳng định : "Biếng nhác cầu tài lợi là phi đạo", "Buông lung chính là gốc các điều ác ". Trong mười ba lỗi của buông lung trong kinh Niết bàn nêu lên các điều "ưa làm những nghiệp đời bất thiện, ngủ nghỉ cho lâu, biếng nhác trễ nải, nghe cũng liền quên, ưa ở chỗ hẻo lánh".
Kinh Vyagghapajja dạy người "tạo ra của cải vật chất nhờ vào sự học tập thành thạo nghề nghiệp chuyên môn và siêng năng làm việc". " Trước hết phải có tay nghề, sau đó mới nghĩ thu nhập tiền tài".
Như vậy, con người trong hoạt động kinh tế là con người có chất lượng lao động cao. Ngoài phạm trù đạo đức phải có, con người đó phải có tri thức và tay nghề. Do đó hướng phát triển kinh tế trong trường kỳ, vấn đề đầu tư vào con người trở thành vấn đề quan tâm hàng đầu.
Trong giáo dục "trò phải lắng nghe cho chắc, ưa học hỏi, siêng làm việc, nghe được điều gì hay, khéo nhớ giữ gìn, chớ bỏ lãng quên". Thầy thì"muốn trí tuệ của trò cao hơn mình", "đem hết chỗ hiểu biết của mình mà dạy trao cho trò không nên lẫn tiếc" (kinh Trường A Hàm).
3. Phát triển nông nghiệp và các ngành nghề sản xuất khác
Về nông nghiệp, công tác thủy lợi được Đức Phật đặc biệt quan tâm. Kinh Tăng trưởng phước đức đề cập: "Việc cung cấp các phương tiện tưới tiêu như là một việc gây dựng công đức". Kinh Tương ưng bộ và Nipatha cho gia súc là tài sản quý báu của ngành nông nghiệp, tạo ra sức kéo và cung cấp nhiều phẩm vật có giá trị dinh dưỡng cao. Gia súc được diễn tả như là người bạn tốt nhất của quốc gia. Kinh Tứ thập nhị chương viết: "Có năm phước báu lớn : tạo lập vườn tược, trồng cây bên đường, tạo tác cầu cống, đóng thuyền to, vì người sẽ đến xây cất nhà cửa chỗ ở". Những điều này rất gấn gũi với việc bảo vệ môi trường, trồng cây xanh, làm trang trại, phát triển cơ sở hạ tầng, giao thông thủy bộ, xây dựng nhà ở hiện nay.
4. Phát triển dịch vụ
Thương mại được khuyến khích phát triển để tăng cường giao lưu hàng hóa. Tín dụng cho vay là hình thức kinh doanh phổ biến. Cư sĩ Cấp Cô Độc là một thương gia giàu có và kinh doanh tín dụng thời bấy giờ. Một bài kinh kể lại lời Đức Phật bảo ông Cấp Cô Độc:"Này cư sĩ, sống thường nhật có bốn cái hạnh phúc: a/Sở hữu lạc : sự thọ hưởng bảo đảm về kinh tế hay tài sản kiếm được bằng phương tiện chánh đáng ; b/ Thọ dụng lạc : tiêu dùng tài sản đó một cách rộng rãi cho chính mình , cho gia đình bà con, bè bạn, trong những việc công đức ; c/ Vô trái lạc : không bị nợ nần đeo bám ; d/ Vô tội lạc :sống một đời sống trong sạch, không phạm những điều ác trong công việc mưu sinh ngoài xã hội".
Qua đó, chúng ta thấy rằng tuy thừa nhận tín dụng nhưng "đạo Phật không đồng ý với sự vay mượn thái quá". Trong kinh Sa môn quả , Đức Phật so sánh quả vị Samôn cũng như niềm hạnh phúc của một người đã trả xong món nợ cũ.
Dịch vụ bảo hiểm là một trong sáu loại nghề nghiệp phổ biến thời Đức Phật. Kinh Tăng nhứt A- Hàm đã chỉ rõ: "Trong việc bảo vệ tài sản cho người sẽ bị nguy hiểm bởi bốn điều : bị tịch thu, giặc cướp, lửa cháy-nước trôi, và vợ con phá tán".
Về y tế, Đức Phật dạy :"Cần thăm kẻ tật bệnh, thăm hỏi điều nguy khốn, lành dữ có trả báo như trồng cây được trái" (kinh Sanh tử). "Trong tám món phước điền, món phước điền thăm bệnh là đứng đầu"(kinh Phạm Võng) .
Tất cả những lời Phật dạy đều đưa đến sự nâng cao chất lượng của cuộc sống con người, vẽ nên môït bức tranh toàn cảnh của mô hình phát triển kinh tế .
IV. Mô hình phát triển kinh tế Mahàvijita
Theo lý thuyết kinh tế học Phật giáo, trong kinh Kutadanta, Đức Phật đề cập đến mô hình phát triển kinh tế của vua Mahàvijita ở thời cổ đại làm cho thu nhập quốc gia được gia tăng, đất nước được thanh bình an lạc . Nội dung chủ yếu gồm có :
1. Cung cấp hạt giống và cây giống cho những người nỗ lực, siêng năng trong nông nghiệp và chăn nuôi .
2. Cấp vốn đầu tư thương nghiệp cho những người chuyên nghiệp buôn bán .
3. Cấp và thưởng vật thực, lương bổng cho những quan chức thanh liêm .
Đây là mô hình có tính thuyết phục và khả thi cao đã thực hiện và đem lại kết quả tốt đẹp ở thời cổ đại phong kiến xa xưa cách nay khoảng ba thiên niên kỷ, nơi và lúc cấu trúc một nền kinh tế không phức tạp, đa dạng và ở đỉnh cao như ngày nay . Nhưng nó vẫn còn giữ nguyên những giá trị thực tiễn với nhiều vấn đề có tính thời sự lớn lao và nóng bỏng của thời đại chúng ta .
1. Khi đã có một đường lối kinh tế đúng đắn vì con người thì vấn đề thực hiện đường lối ấy cũng chính là vấn đề con người . Phát hiện và bồi dưỡng những nhân tố tích cực để họ trở thành những con người phát triển kinh tế . Những người ấy không chỉ là những người có tâm huyết mà còn phải là những người có tài năng, có tay nghề chuyên môn, và nỗ lực và siêng năng trong công việc, có quá trình thành tích trong lãnh vực hoạt động của mình .
2. Phát triển kinh tế bằng những biện pháp kinh tế cụ thể với đường hướng"tự lợi, lợi tha" của Đức Phật cũng như câu ngạn ngữ dân gian "Có thực mới vực được đạo" - Vấn đề giải quyết đời sống cùng những phương tiện hoạt động cho những nhân tố tích cực ấy là mối bận tâm ưu tiên hàng đầu .
3. Khi mà đất đai trên hành tinh có giới hạn nhất định, nước trong môi trường thiên nhiên không phải muốn bao nhiêu cũng có mà còn bị ô nhiễm do sinh hoạt và sản xuất của con người cộng với sự gia tăng dân số không ngừng, thì vấn đề giải quyết lương thực không thể giữ theo phương thức cổ truyền "nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống" . Giống đã trở thành vấn đề số một nổi cộm trong công nghệ sinh học , ngày nay tạo những bước chuyển biến đột phá trong việc sản xuất lương thực ở qui mô lớn .
4. Vốn, tín dụng và đầu tư là vấn đề phức tạp có tính "hóc buá" làm đau đầu bao nhiêu nhà kinh doanh và các quốc gia nghèo đang phát triển . Tiết kiệm thế nào để có từng đồng vốn và sử dụng từng đồng bạc của vốn ấy sao cho có hiệu quả tối ưu là mong mỏi của bao nhiêu người .
5. Thương nghiệp trong xu thế của nền thương mại toàn cầu, trong tự do và cạnh tranh, trong hội nhập mà tồn tại để phát triển đặt ra cho những nhà kinh doanh phải thiết kế chương trình hành động của mình sao cho thích hợp .
6. Lương bổng và sử dụng lao động ngày nay trở thành một vấn đề nóng bỏng có tính thường xuyên mà đột phá không những để giải quyết công ăn việc làm cho mỗi con người mà là một trong những then chốt để phát triển kinh tế .
Mô hình Mahàvijita mới nghe qua tưởng chừng như đơn giản nhưng đã đặt ra bao nhiêu vấn đề phải giải quyết trong xu thế phát triển ngày nay . Mô hình ấy vẫn còn đầy đủ tính thuyết phục để nghiên cứu áp dụng trong bối cảnh nền kinh tế thị trường .
Nói như một nhà kinh doanh người Nhật –ông Kazuo Inamori khi trả lời phóng viên tạp chí Newsweek :"Tôi thấy giaó lý của Phật rất quan trọng và hữu ích cho việc quản lý một công ty . Phật giáo có nhiều điều mà ngành quản lý có thể học hỏi và được ích lợi nhiều". Ông là người sáng lập và là chủ tịch danh dự công ty Kyocera tại Kyodo, Nhật Bản . Công ty Kyocera hiện nay là một cơ sở sản xuất hàng đầu về các chất bán dẫn, các sản phẩm viễn thông và điện tử, hiện có khoảng 37000 nhân công tại Nhật và ở nước ngoài .
V. Kết luận
Trong thời đại mà nền kinh tế phát triển không ngừng để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của xã hội, khoa học và kỹ thuật biến chuyển từng ngày từng giờ tạo ra những bước tiến nhảy vọt thì áp lực về vật chất ngày càng gia tăng đè nặng lên đời sống tâm trí của mỗi cá nhân . Người ta quay về tìm lại những giá trị đạo đức, những biện pháp giải quyết truyền thống, trở về với cội nguồn thì những đóng góp to lớn của Phật giáo trong phát triển kinh tế về thực tiễn và lý luận là một kho tàng vô giá .
Trong xu thế đó, theo lời Phật dạy, mỗi một người con của Phật đem mồ hôi, tài sản và trí tuệ của mình góp phần vào việc thực hiện nhiệm vụ kinh tế của đất nước trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá để đưa đất nước chúng ta trong thế kỷ XXI lên một tầm cao mới .
____________
Tài liệu tham khảo :
1.Kính lời vàng của Dương Tú Hạc (THPG TPHCM ấn hành nă, 1992)
2.Lý thuyết kinh tế học Phật giáo (báo Giác Ngộ 186 ngày 23-10-1999)
3.Chúng ta phải làm gì trước những tệ nạn xã hội (khởi đăng trên báo Giác Ngộ từ số 190 ngày 20-11-1999)
4.Đạo Phật của con người của Thích Minh Tâm (nguyệt san Giác Ngộ số 37 tháng 4-1999)
5.Giáo lý Phật giáo và nhà doanh nghiệp (Hữu Huy dịch, Giác Ngộ 157 ngày 3-4-1999)6.Đức Phật- con người của mọi thời đại (Thích Thiện Bảo –Giác Ngộ 198 ngày 13-1-2000)
7.Lịch sử các học thuyết kinh tế của PTS Đinh Sơn Hùng chủ biên (Trường Đại học Kinh tế TPHCM ấn hành 1995)
Trang MỤC LỤC
Trang chính