ĐÔI ĐIỀU VỀ ĐẠI TẠNG KINH LÝ VIỆT DŨNG
Đại Tạng Kinh là bộ điển tịch Phật giáo vĩ đại gồm "thiên kinh vạn quyển" mà trong một đời người hiếm ai có thể đọc hết được. Qua thu thập tư liệu, chúng tôi cố gắng trong chừng mực nào đó, trình bày một cách khái quát dưới dạng tóm lược những gì trọng yếu liên quan tới Đại Tạng Kinh hầu giúp Tăng Ni sinh cũng như hàng học Phật sơ cơ không có thì giờ và điều kiện nghiên cứu chuyên sâu, có thể nắm bắt được đại khái một ít hiểu biết về Tạng này, một kinh tạng đang được Phật học giới nước ta chung sức dịch ra Việt văn.
I. Định nghĩa :
Đại Tạng Kinh là bộ tùng thư điển tịch Phật giáo, thời Nam Bắc Triều gọi là "Nhất Thiết Kinh", từ đời Tùy trở về sau mới có tên gọi như ngày nay. Ban đầu từ "Đại Tạng Kinh" chuyên chỉ điển tịch Phật giáo bằng Hán văn, nay chỉ chung tất cả tùng thư Phật giáo, gồm có "Nam truyền Đại Tạng Kinh" bằng chữ Pâli ; "Đại Tạng Kinh" bằng chữ Hán ; chữ Tây Tạng ; chữ Nhật Bản ; chữ Triều Tiên , chữ Tây Hạ và chữ La Tinh. Đại Tạng Kinh, chủ yếu gồm Kinh, Luật, Luận, nhưng đồng thời cũng bao gồm luôn tất cả những soạn thuật về Phật giáo của Aán Độ, Trung Quốc, Triều Tiên và Nhật Bản.
Tam Tạng Kinh lại phân ra Đại Tiểu Thừa, tức gồm Đại Thừa Kinh, Tiểu Thừa Kinh, Đại Thừa Luật ; Đại Thừa Luận và Tiểu Thừa Luận. "Nam Truyền Đại Tạng Kinh" chỉ tùng thư điển tịch Phật giáo bằng chữ Pâli của một số nước như Sri Lanka chẳng hạn, vốn chỉ gọi là Tam Tạng.
II. Diễn tiến Đại Tạng Kinh qua các loại văn tự :
1. Đại Tạng chữ Pâli
Theo kể lại thì sau khi kết thúc lần kết tập thứ ba vào thế kỷ thứ ba trước công nguyên thì con A Dục vương là Ma sái đà đem Phật giáo truyền vào Sri Lanka. Vào khoảng thế kỷ thứ hai cho đến thế kỷ thứ nhứt trước công nguyên thì nguyên trạng của Bộ Đại Tạng này đã hình thành, sau đó phát triển, và bắt đầu được viết thành văn tự Pâli có kèm cả chú thích vào thế kỷ thứ nhứt trước công nguyên. Nội dung gồm :
a. Kinh Tạng bao quát gồm "Trường Bộ", "Trung Bộ", "Tương Ưng Bộ", "Tăng Chi Bộ" và "Tiểu Bộ".
b. Luật Tạng bao quát gồm "Kinh Phân Biệt" "Kiền Độ" và "Phụ Tùy"
c. Luận Tạng bao quát gồm "Pháp Tựu" , "Phân Biệt", "Giới Luận", "Song" "Phát Thú", "Nhân Thi Thiết" và "Luận Sư".
2. Đại Tạng chữ Thái, Mianma :
Nương theo đà truyền bá hướng về phía Đông Nam của Phật giáo Nam Truyền Thượng Tọa Bộ, Đại Tạng Kinh bằng chữ Thái và chữ Miến Điện lại nảy sinh.
3. Đại Tạng chữ La Tinh :
Năm 1881 nước Anh thiết lập "Pâli Ngữ Thánh Điển Học Hội", đồng thời cho xuất bản "Nam Truyền Đại Tạng Kinh" và phần lớn các chú giải bằng chữ Pâli theo mẫu tự La tinh.
4. Đại Tạng Kinh chữ Nhật :
Từ 1935 đến 1941 người Nhật Cao Nam Thuận Thứ Lang phụ trách xuất bản "Nam Truyền Đại Tạng Kinh" bằng chữ Nhật gồm 70 sách.
5. Đại Tạng Kinh chữ Hán :
Đại Tạng Kinh chữ Hán chỉ bộ tùng thư điển tịch Phật giáo dịch ra chữ Hán. Việc phiên dịch cùng trước thuật kinh điển Phật giáo từ thời mạt niên đời Đông Hán về sau càng ngày càng được gia tăng. Đời Đông Tấn có Đạo An soạn quyển "Tông Lý Chúng Kinh Mục Lục" kê ra 611 bộ gồm 858 quyển ; Lương Tăng Hưu đời Nam Triều soạn cuốn "Xuất Tam Tạng Ký Tập" kê ra 2.162 bộ gồm 4.328 quyển ; Pháp Kinh đời Tùy soạn quyển " Chúng Kinh Mục Lục" kê ra 2.257 bộ gồm 5.310 quyển. Sau đời Tùy có các cuốn thuộc "Nhập Tạng Lục" (Vâng lệnh vua tải nhập Đại tạng Kinh) như "Lịch Đại Tam Bảo Ký" của Phí Trường Phòng kê ra 1.072 bộ gồm 3.292 quyển ; "Khai Nguyên Thích Giáo Lục" của Trí Thăng đời Đường kê ra 1.076 bộ gồm 5.048 quyển ; "Trinh Nguyên Tân Định Thích Giáo Mục Lục" của Viên Chiếu đời Đường kê ra 1.258 bộ gồm 5.390 quyển ; "Thiên Thánh Thích Giáo Tổng Lục" của Duy Tịnh đời Bắc Tống kê ra 6.197 quyển. Từ đời Nguyên về sau, kinh được dịch thật ít ỏi.
Bắt đầu từ thời Bắc Tống, kinh Phật do viết tay đổi sang khắc in (mộc bản) chủ yếu y theo "Nhập Tạng Lục" của "Khai Nguyên Thích Giáo Lục" mà biên tập rồi khắc in ; Kinh, Luật, Luận đều phân ra Đại – Tiểu Thừa ; còn "Hiền Thánh Tập" thì lại phân chia theo loại phiên dịch từ bản chữ Phạn và loại do người Trung Quốc tự soạn thuật. Từ đó về sau trải bao đời theo lệ ấy mà khắc in Đại Tạng Kinh chữ Hán.
6. Đại Tạng Kinh chữ Tây Tạng :
Đại Tạng Kinh chữ Tây Tạng chỉ tổng tập Kinh, Luật, Luân Phật giáo truyền vào Tây Tạng do hai bộ phận Can châu nĩ và Đan châu nĩ tổ thành, là tùng thư kinh điển Phật giáo bằng tạng văn nổi danh khắp thế giới. Tây Tạng từ thế kỷ thứ bảy đã truyền nhập Phật giáo vào nước mình, sau đó trải qua mấy thế kỷ thứ VIII, IX, X, XI và XII, đã dịch xong phần lớn điển tịch Phật giáo, hình thành Đại Tạng Kinh chữ Tây Tạng phân ra 12 loại là : "Trung Quán, Kinh Sớ, Du Già, Tiểu Thừa, Bổn Sanh, Tạp Soạn, Nhân Minh, Thanh Minh, Y Minh, Xảo Minh, Thế Luận và phân bổ sung các soạn thuật của Tây Tạng".
Đại Tạng Kinh bằng Tạng văn đã được khắc in nhiều lần như bản khắc tại Nam Kinh của Cam châu nĩ đời Vĩnh Lạc năm thứ 9 nhà Minh (1411) gọi là bản Vĩnh Lạc ; hoặc bản khắc tại Bắc Kinh của Đan Chu Nĩ vào năm Vạn Lịch thứ 22 nhà Minh (1594) gọi là bản Vạn Lịch. Lại còn bản Lý Đường khắc in từ thời vua Minh Sùng Trinh đến đầu nhà Thanh, hay Na Đường Tân bản, còn gọi là "Quan bản" khắc in từ thời vua Khang Hy đến Ung Chính nhà đại Thanh,và một số bản khác nữa là Đức Cách bản, Bắc Kinh bản, Trác Ni bản, Lạp Tát bản v.v… Theo con số thống kê của bản Đức Cách thì Đại Tạng Kinh chữ Tây Tạng đã thu nhập 4.569 loại thư tịch Phật giáo, nội dung rất phong phú vì ngoài Kinh, Luật, Luận Phật giáo còn có cả các môn văn pháp, thi ca, mỹ thuật, thiên văn, lịch toán, y dược, công nghệ, thật là một văn hiến trọng yếu để nghiên cứu Phật học và các môn học thời cổ đại.
7. Đại Tạng Kinh chữ Nhật :
Tạng Kinh chữ Nhật gọi đủ là "Đại Nhật Bổn Tục Tạng Kinh". Tạng này đem tất cả soạn thuật về kinh điển Phật giáo của Aán Độ, Trung Quốc và Nhật Bổn từ trước đến giờ chưa được "Đại Tạng Kinh" thu nhập đưa vào trong tạng hơn 950 người trước tác, gồm 1.756 bộ 7.144 quyển mà đa số là soạn thuật của Trung Quốc. Tạng này do các ông người Nhật Tiền Điền Tuệ Vân và Trung Dã Đạt Tuệ thuộc Tàng Kinh Thư Viện ở Đông Đô Nhật Bổn chủ trì biên ấn từ 1905-1912. Biên mục Tạng này phân ra soạn thuật của Aán Độ gồm Kinh, Luật, Luận (kinh phân ra Đại - Tiểu thừa. Đại thừa tức y cứ vào Kinh Hoa Nghiêm, Phương Đẳng, Bát Nhã, Pháp Hoa, Niết Bàn) và soạn thuật của Trung Quốc (Phân Đại - Tiểu Thừa, Thích Kinh, Thích Luật, Thích Luận và Trước Phật của các tông phái cùng Sử truyện, trong đó có rất nhiều trước tác nay đã thất lạc mất ngay tại Trung Quốc). Từ 1935-1941, người Nhật Cao Nam Thuận Thứ Lang phụ trách xuất bản Nam Truyền Đại Tạng Kinh bằng chữ Nhật gồm 70 tập.
III. Diễn tiến Đại Tạng Kinh bằng chữ Hán qua các thời đại lịch sử :
"Đại tạng Kinh" dịch bằng chữ Hán từ đời Tống trở lại có các bản bổn Tống Tạng, Kim Tạng, Nguyên Tạng, Minh Tạng và Thanh Tạng.
Tống tạng là tiếng gọi chung các bản Đại Tạng Kinh được khắc in từ đời Tống gồm mấy loại là :
- Tống Tạng :
1. Thục bản : còn gọi là "Bắc Tống Quan bản Đại Tạng Kinh" hoặc "Thục Bản Tạng Kinh" hay "Khai Bảo tạng" phụng sắc Tống Thái Tổ và Tống Thái Tông khắc mộc bản từ năm Khai Bảo thứ tư (971) đến năm Thái Bình Hưng Quốc thứ tám (983) tại Ích Châu (Thành Đô) rồi mang đến in tại Khai Phong Ấn Kinh Viện, sau đó ban phát cho các chùa lớn và các lân quốc. Bản này y cứ vào "Nhập Tạng Lục" của "Khai Nguyên Thích Giáo Lục" mà biên tuyển kinh điển, đưa vào các Phật điển thuộc Đại – Tiểu thưà cùng"Thánh Hiền Tập Truyện" gồm 1.076 bộ, đến năm HàmBình thứ hai (999) lại in thêm 360 bộ, Tạng này truyền nhập vào Nhật Bổn, Triều Tiên và có ảnh hưởng trực tiếp đối với công việc khắc in Phật điển của các nước này về sau.
2. Bản Phước Châu Đông Thiền Đẳng Giác Viên :
Vào năm Nguyên Phong thứ ba đời Bắc Tống (1080) nhà sư Xung Chân trụ trì của Viện Đông Thiền Đẳng Giác ở Phước Châu phát nguyện khắc in tạng này cho đến năm Sùng Ninh thứ hai (1103) mới hoàn thành mà rồi đến năm Thuần Hy thứ năm nhà Nam Tống (1176) lại có in thêm, thâu chung Phật điền 1.450 bộ.
3. Bản Phước Châu Khai Nguyên tự :
Do các sư Bổn Ngộ, Duy Xung, Liễu Nhứt chùa Khai Nguyên khuyến duyên khắc in từ năm Chính Hoà thứ hai đời Bắc Tống (1112) đến năm Thiệu Vương thứ 24 đời Nam Tống (1154) mới xong, thu Phật điển vào Tạng này 1.429 bộ.
4. Bản Hồ Châu Tư Khê Viên Giác thiền viện :
Do nhóm Vương Vĩnh Tùng bỏ tiền của ra khắc in từ thời Mạt Bắc Tống cho đến Sơ Nam Tống, thu Phật điển 1.453 bộ.
5. Bản đồ Châu Tư Khê (nay là Chiết Giang Ngô Hưng) Tư Phước thiền tư :
Gọi tắt là "Tư Khê Bổn" nay thông xưng là "Tống Bổn" khắc in từ đời Gia Hi Nam Tống đến Thuần Hưu (1237-1252) thâu Phật điển 1.459 bộ.
6. Bản Bình Giang Thích Sa (nay là Giang Tô Ngô Huyện) Diên Thánh thiền viện :
Do hai ni cô Hoằng Đạo và Pháp Ni phát tâm và các cư sĩ Phát Trung, Thanh Khuê, trước sau chủ trì việc khắc in từ năm Thiệu Hưng thứ tư đời Nam Tống (1231) cho đến Chí Trị năm thứ hai (1322) thâu Phật Điển 1.532 bộ gồm 6.362 quyển.
b. Kim Tạng :
Kim Tạng là bộ Đại Tạng Kinh do nhà Kim Khắc in goị đủ là "Kim Bản Đại Tạng Kinh" được khắc in tại Thiên Ninh tự ở Giải Châu (nay là Sơn Tây Vạn Thành) vào năm thứ 8 đời Hoàng Thống (1148) đến năm thứ 13 Đại Định (1173) nhà Kim, đến đầu nhà Nguyên lại có khắc in thêm, thâu Phật điển hơn 6.900 quyển . Vào năm 1933, người ta phát hiện kinh này duới nền chùa Quảng Thắng ở Triệu Thành Sơn Tây còn được 4.957 quyển, gọi là Triệu Thành Tạng .
c. Nguyên Tạng :
Là bộ Đại Tạng kinh được khắc in vào đời nhà Nguyên, cũng gọi là "Nguyên Bổn", hoặc "Phổ Ninh tự bổn Đại Tạng Kinh". Tạng này được trụ trì và một số người nữa ở chùa "Đại Phổ Ninh" vùng Bạch Vân Tông Bam Sơn tại Dư Hàng, Hàng Châu khắc in từ năm Chí Nguyên thứ 14 đến Chí Nguyên thứ 27 (1277 –1290) y cứ theo hai Tạng bản Tư Nguyên và Phước Châu khắc từ đời Tống mà hiệu (giáo) đính lại, tính chung là 558 hàm, thu Phật điển cả thảy 1.422 bộ, 6.017 quyển .
d. Minh Tạng :
Là Đại Tạng Kinh được khắc in hồi đời Minh . Đây là triều đại khắc in Đại Tạng Kinh nhiều nhất, nay xin đan cử vài bộ :
1. Hồng Võ Nam Tạng, cũng còn gọi là "Sơ Khắc Nam Tạng", vâng mệnh Minh Thái Tổ khắc in tại Nam Kinh, từ đời Hồng Võ năm thứ năm đến năm thứ 31 (1372 –1398) thâu Phật điển 1.600 bộ, hơn 7.000 quyển .
2. Vĩnh Lạc Bắc Tạng, thông xưng là "Bắc Tạng", được khắc in tại Bắc Kinh từ năm Vĩnh Lạc năm thứ 19 đến Chính Thống năm thứ năm (1421 –1440), thâu Phật điển 1.657 bộ, 6.361 quyển . Tới năm Vạn Lịch thứ 12 lại khắc in thêm 41 quyển nhập chung vào .
3. Gia Hưng Tạng, cũng gọi là "Lăng Nghiêm tự bản", "Minh Bản", "Vạn Lịch Tạng" "Kinh Sơn Tạng". Tạng này được khắc in từ năm Vạn Lịch thứ 17 cho đến Thanh Khang Hy năm thứ 16 (1589 –1677), do tăng nhân Chân Khả, Đức Thanh, Mật Tạng, Huyền Dư chủ trì công việc, ban đầu tiến hành khắc mộc bản ở Ngũ Đài Sơn Sơn Tây, sau dời đến Kinh Sơn ở Chiết Giang, và sau cùng đem bản khắc ở Kinh Sơn đến chùa Lăng Nghiêm tại Gia Hưng Chiết Giang in, phân ra "Chính Tạng" 210 hàm, "Tục Tạng" 95 hàm, đến sau năm Khang Hy thứ 16 (1677) lại khắc thêm"Hựu Tục tạng" 47 hàm . Toàn tạng cộng 352 hàm, thâu Phật điển 2.141 bộ gồm 12.600 quyển .
Ngoài ra còn có bản "Báo Ân tự bản Đại Tạng Kinh" và bản không rõ lý lịch"Vũ Lâm Tạng" được khắc in từ niên hiệu Vạn Lịch trở về sau (1573 –1620) .
e. Thanh Tạng :
Chỉ Đại Tạng Kinh được khắc in vào đời Thanh, còn gọi là "Long Tạng", "Càn long bản Đại tạng Kinh". Tạng này được khắc in tại Bắc Kinh theo sắc chỉ vua từ đời Ung Chính thứ 13 (1735) đến Càn Long năm thứ 3 (1), lấy bộ "Bắc Tạng" của đời Minh làm căn bản rồi tăng bổ thêm, thâu Phật điển 718 hàm, 1.662 bộ gồm 7.168 quyển .
f. Cận Đại Tạng :
Đại Tạng Kinh cũng được khắc in thời cận đại gọi là "Tần Già Tạng", gọi đủ là "Tần Già Tinh Xá Hiệu San Đại Tạng Kinh", hoặc "Tần Già Bản Đại Tạng Kinh". Tạng này được biên ấn năm 1913 do "Tần Già Tịnh Xá" ở Thượng Hải lấy"Túc Loát Tạng Kinh" do Hoằng Giáo Thư Viện của Nhật Bổn biên ấn làm căn bản chia ra làm 40 hàm , 414 sách, có riêng một sách tổng mục . Phương pháp phân loại của Tạng này vì y cứ theo "Biên Loát Tạng Kinh" nên tam tạng Kinh, Luật, Luận lấy Đại thừa để trước, Tiểu thừa để sau, mà các kinh Đại Thừa thì lấy Hoa Nghiêm, Phương Đẳng, Bát Nhã, Pháp Hoa và Niết Bàn làm năm bộ, nhưng bôi bỏ phần hiệu khám chú giải đầu trang và những gì do Nhật Bổn soạn thuật của Túc Loát Tạng. Tại tổng mục của mỗi đề mục đều ghi rõ thuộc bản Thanh, Minh, Nguyên, Tống, Cao Ly. Đây là một trong những bản hiện đang được thông dụng ở Trung Quốc.
IV. Hán dịch Đại Tạng Kinh ngoài Trung Quốc :
Hán dịch Đại Tạng Kinh ở các nước ngoài Trung Quốc thì có "Cao Ly Tạng" của Triều Tiên, còn Nhật Bổn thì có "Hoàng Bá Tạng", "Túc Loát Tạng", "Vạn Tự Tạng", "Đại Chinh Tạng" và "Nhật Bổn Tục Tạng Kinh". Nay xin nói sơ qua các Tạng này :
a. Đại Tạng Kinh ở Cao Ly :
Cao Ly Tạng gọi đủ là "Cao Ly Đại Tạng Kinh" do vương triều Cao Ly Hiển Tông năm thứ 2 (1011) lấy "Thục Bản Tạng Kinh", đời Tống làm căn bản, bắt đầu công việc khắc in, đến năm cuối Văn Tông (1802) mới hoàn thành, cộng 5.924 quyển. Về sau mộc bản Đại Tạng này bị binh hoả thiêu rụi. Đời Cao Tông năm thứ 23 đến năm thứ 38 (1236-1251) lại y theo "Thục Bản", "Khiến Đan Bản", và bản Cao Ly Tạng khắc in ban đầu hiệu khám lại rồi khắc in thành Đại Tạng Kinh gồm 639 hàm, 1.521 bộ, 6.589 quyển, trong đó từ "Thiên Hàm" đến "Anh Hàm" thâu các Phật điển do "Khai Nguyên Lục" kê ra; từ Bàn Hàm đến Hiệp Hàm thu Phật điển do "Trinh Nguyên tục Khai Nguyên Lục" liệt kê ; từ Đồ Hàm đến Cốc Hàm thu Phật điển do Tống đại mới dịch.
Từ cận đại trở về đây, tạng này được in lại xuất bản, rất giá trị.
b. Đại Tạng Kinh ở Nhựt Bổn :
1. "Túc Loát Tạng Kinh", gọi đó là "Đại Nhật Bổn hiệu đính Túc Loát Đại Tạng Kinh", cũng gọi là "Túc tạng", "Hoằng giáo Tạng" do các người Nhật Đảo Điền Phiên Căn và Phước Điền Hành Giới khắc bản tại Hoằng Giáo Thư Viện ở Đông Kinh từ 1880 đến 1885. Tạng này lấy "Cao Ly Tạng" làm căn bản, đồng thời đối chiếu hiệu khảo với ba bốn Tống, Nguyên, Minh, có thêm phần sách hành của Mật Giáo Kinh Quỷ Nhật Bổn và đầy đủ phần trước tác của chư sơ tổ các tông phái Phật giaó Nhật Bổn, lấy ngũ hiệu thoại tự để in, trên mỗi đầu trang có ghi phần hiệu khám dị đồng. Đặc điểm chủ yếu của Tạng này là y cứ theo chủ trương "Duyệt Tạng tri tân" của Trí Húc đời Minh, phàm Kinh, Luật, Luận đều lấy Đại thừa trước, Tiểu thừa sau. Đối Đại thừa không phân theo năm loại Bát Nhã, Baỏ Tích, Đại Tập, Hoa Nghiêm, Niết Bàn mà lại phân theo thứ tự "Ngũ Thời phán giáo" của Thiên Thai tông, lấy ngũ bộ Hoa Nghiêm, Phương Đẳng, Bát Nhã, Pháp Hoa, Niết Bàn mà phân loại. Năm 1913, "Tần Gia Tinh Xá" ở Thượng Hải san hành "Tần Gia Tinh Xá Hiệu San Đại Tạng Kinh " lấy "Túc Tạng" này làm bản gốc.
2. Bộ Đại Chính Tạng của Nhật Bổn, goị đủ là "Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh" do các Phật học giả người Nhật là Cao Nam Thuận Thứ Lang, Độ Biên Hải Húc, Tiểu Dã Huyền Diệu tại "Đại Chính Nhất Thiết Kinh San Hành Hội" tổ chức tại Đông Kinh, biên tập xuất bản từ năm Nhật Bổn Đại Chính thứ 13 (1924) cho đến năm Thiệu Hòa thứ 9 (1934). Tạng này lấy "Túc Loát Tạng Kinh" do Hoằng Giáo Thư Viện ấn hành rồi đối chiếu cùng "Tứ bộ" là ba bổn Hán Tống, Nguyên, Minh và "Cao Ly Tạng" làm cơ sở, rồi tham chiếu "Chính Thương Viện Tạng Kinh Đôn Hoàng Cổ Bổn" và bổn Pâli Văn cùng Kinh Điển Phạn Văn tăng cường hiệu khám, sắp xếp lại việc thu Phật điển của các Đại Tạng Kinh trước kia. Thể lệ Tạng này cải biến phương pháp phân loại Kinh, Luật, Luận theo Đại – Tiểu thừa từ trước đến giờ, chỉ lấy nội dung cơ bổn của Phật điển mà phân loại. Toàn Tạng phân ra làm 3 bộ phận :
1. "Chính Biên" 55 quyển, thu Phật điển 2.184 bộ, trong đó phân chia soạn thuật của Aán Độ thành :
a. Hàm Kinh Bộ :
A Hàm, Bổn Duyên, Bát Nhã, Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Bảo Tích, Niết Bàn, Đại Tập, Kinh Tập, Mật Giáo
b. Luật Bộ :
Thượng Toạ, Hóa Điạ, Đại Chúng, Pháp Hộ, Hữu, Bồ Tát Giới.
c. Luận Bộ :
Thích Kinh, Tì Đàm, Trung Quán, Du Già, Luận Tập, các soạn thuật của Trung Quốc (cũng có bộ phận nhỏ soạn thuật của Nhật Bổn) nội phân Kinh sớ, Luật sớ, Luận sớ, các Tông phái cùng sử truyện.
2. Tục Biên 30 quyển, thu Phật điển 736 bộ, tất cả đều là soạn thuật của Nhật Bổn, nội phân Tục Kinh sớ, Tục Luật sớ, Tục Luận sớ, Tục Chư tông, Tất Đàm cùng phụ lục cổ dật (tức các di văn cất giữ ở Đôn Hoàng) Nghi Tự (Nghi là sách giả mạo tương tự sách thật).
3. Biệt Quyển 15 quyển, Nội Hàm Đồ Tượng 12 quyển, Thu 363 bộ. "Chiêu Hoà Pháp Bảo Tổng Mục Lục" 3 quyển, thu 77 bộ. Toàn Tạng cộng 100 cuốn, thu Phật điển 3.360 bộ, 13.520 quyển. Tạng này là một trong những Đại Tạng Kinh chữ Hán được Phật giáo giới quốc tế thông dụng.
(Tập văn Phật Đản số 47/2000)
Trang MỤC LỤC
Trang chính