THIỀN LÀ CỘI GỐC CỦA ĐẠO PHẬT

HT THÍCH THANH TỪ

Cũng như vậy, chúng ta hiện giờ nhận tâm suy nghĩ, tính toán, bóng dáng hư vọng cho là tâm mình thật . Đã lầm tưởng cái giả cho là thật rồi thì có còn thấy cái thật không? Diễn Nhã Đạt Đa lầm nhận cái bóng cho là đầu mặt thật của mình thành điên . Còn chúng ta nhận lầm vọng tưởng cho là mình thì chúng ta có điên không ? Nên Phật gọi là si mê, không biết được gì là thật , gì là giả! Khi nào chúng ta nhận ra những khởi nghĩ lăng xăng là vọng tưởng, thì lúc đó hết mê là trí, là mình sáng rồi, nên không còn lầm nữa . Vì vậy, Lục Tổ dạy :"Không sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm". Niệm khởi thì mặc nó, chỉ sợ nó khởi mà chúng ta không biết nó hư dối . Nếu nó khởi lên ta biết là hư dối thì mình đã giác . Như vậy niệm khởi là mê, mê là chúng sanh . Biết nó là vọng là dối thì đó là giác, giác tức là Phật . Một chúng sanh dấy lên, có một vị Phật hiện ra, như vậy đâu có thua thiệt gì đâu .

Niệm khởi cứ cho khởi, miễn chúng ta giác là được . Lối tu này rất cụ thể, rất thiết thực . Nếu chúng ta tu hiểu và ứng dụng như vậy thì trên đường tu sẽ rất lợi ích . Lâu nay chúng ta chịu mê lầm nhận cái giả làm thật, cho nên tất cả chúng ta phải chịu sống trong mê lầm . Ví dụ chúng ta giận ai, vừa khởi nghĩ giận thì nói tôi đang giận . Nói tôi đang giận tức thừa nhận cái giận là tôi . Rồi đang buồn, đang tủi, đang lo, đang tức v.v… cũng tôi . Nếu giận là tôi thì khi hết giận lẽ ra tôi cũng tan . Vì nó là tôi, mà nó mất thì tôi cũng mất luôn . Nhưng chúng ta có mất không? – Không mất . Rõ ràng nếu nhận cái vọng là tôi thì chẳng khác nào chàng Diễn Nhã Đạt Đa nhận cái bóng của đầu làm thật . Như vậy, giận không phải thật tôi, giận một chút rồi hết, chớ đâu phải năm này tháng kia còn hoài . Lúc không giận nữa mà tôi vẫn có, thì làm sao nói giận là tôi được . Cũng như thế , buồn, thương, yêu, ghét không phải là tôi, chỉ là một hiện tượng của tâm sở thôi . Do chúng ta nhận nó là mình nên không thấy được mặt thật của mình . Trong nhà Thiền gọi là ông chủ . Vì nhận tớ làm chủ ông chủ . Người tu Thiền phải nhận cho ra cái chân thật, không chạy theo các tướng tạm giả bên ngoài .

Hiểu được điều đó, khi nổi giận lên chúng ta tự hỏi cái gì giận, ai giận? Hỏi cái gì giận,là sân tâm sở chứ không phải tôi . Trong các tâm sở, khi giận sân tâm sở dấy lên, chớ đâu phải mình . Khi hết giận thì nó lặng xuống . Biết như vậy trên đường tu chúng ta mới nhận được cái thật, cái hư . Chúng ta có cái chân thật mà lâu nay mình quên, cứ nhận cái hư giả là mình nên cái thật nó ẩn khuất .

Bây giờ chúng ta tu làm sao? Tức là làm cho cái giả lặng thì cái thật hiện tiền . Cho nên chúng tôi rất tâm đắc câu trả lời của Ngài Triệu Châu .

Có người đến hỏi Ngài :

-Bạch Hoà thượng, con chó có Phật tánh không ?

Ngài trả lời : -Không

Vị Tăng ấy hỏi :

-Tại sao Phật nói tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, riêng con chó không có Phật tánh ?
Ngài trả lời :

-Vì nghiệp thức che đậy .

Một người khác đến hỏi :

-Bạch Hoà thượng, con chó có Phật tánh không ?

Ngài trả lời : Có

Hỏi : Phật tánh là sáng suốt, tại sao lại chui trong đãy da lông lá lù xù xì vậy? Ngài trả lời :

-Vì biết mà cố phạm

Những câu trả lời này nghe rất là thâm trầm, nhưng mới nghe thật là khó hiểu .

Hỏi con chó có Phật tánh không . Ngài nói không . Tại sao không? Vì nghiệp thức che đậy . Nghiệp thức là gì? Chữ thức là phân biệt, chính cái hiểu biết phân biệt che khuất nên không thấy Phật tánh .

Tôi ví dụ như đêm rằm trăng sáng, nhưng khoảng 11, 12 giờ có người nhìn lên trời không thấy trăng, liền nói sao đêm rằm không thấy trăng? Chúng ta trả lời làm sao ? Vì mây che khuất , chứ không phải đêm rằm không có trăng . Mây dày bịt đó là dụ cho nghiệp thức của chúng ta quen hơn thua, đẹp xấu, phải quấy, được mắt v.v…lăng xăng hoài nên tâm thể bị uẩn khuất . Chúng ta ngồi thiền để lặng tâm lăng xăng đó . Khi nào nó lặng xuống thì tâm thể hiện tiền, như mây tan hết thì mặt trăng hiện đủ . Ý này hết sức rõ . Lâu nay chúng ta quen nhận nghiệp thức là tâm mình cho nên chân tâm chìm ẩn . Khi nào chúng ta biết nghiệp thức không phải là mình, chỉ là bóng dáng tạm bợ, cũng như mây không phải là mặt trăng . Chúng ta làm cho nghiệp thức lặng sạch thì chân tâm hiện tiền . Đó là gốc của sự tu .

Khi tâm chân thật hiện tiền là chúng ta giác, còn nhận nghiệp thức làm tâm đó là mê . Sống trong mê lầm mà ai nói mê là nổi giận liền, không chịu mình mê . Tưởng rằng nghĩ nhiều, tính nhiều là khôn, không ngờ đó là đã quên cái thật của chính mình . Vì vậy chúng ta tu là để trở về cái thật của chính mình . Muốn trở về cái thật thì phải dẹp hết các thứ hư dối . Cho nên khi Tổ Huệ Khả cầu pháp an tâm, Tổ Đạt Ma bảo :"Đem tâm ra ta an cho" . Ngài cứ ngỡ tâm là cái lăng xăng, xoay lại tìm thì lăng xăng mất, nên Ngài thưa tìm tâm không được . Tổ bảo :"Ta đã an tâm cho người rồi". Như vậy an mới thật là tâm . Không còn lăng xăng mà vẫn nghe, vẫn biết rõ ràng , đó mới là chân thật . Do lầm nên chúng ta taọ nghiệp luân hồi trong lục đạo không cùng .

Muốn giải thoát sanh tử thì phải dừng nghiệp . Nghiệp quan trọng từ ý lăng xăng tạo nên, bây giờ phải để nó lặng xuống . Trong ba nghiệp thân, khẩu, ý thì thân và khẩu là do ý chỉ huy . Ý nghĩ tốt, thân làm tốt, miệng nói tốt . Ý nghĩ xấu, thân làm xấu, miệng nói xấu . Như vậy gốc tất cả từ ý mà ra . Ý lặng thì ba nghiệp đồng thanh tịnh . Cho nên tu phải biết nắm ngay từ gốc . Gốc đó Phật dạy chúng ta phải khéo nhìn đừng để lầm lẫn , phải thấy cho tường tận, để rồi cố gắng dẹp cái giả để cho cái thật hiện bày .

Câu trả lời của Ngài Triệu Châu rất hay, rất rõ ràng . Đến câu sau vị Tăng hỏi : Con chó có Phật tánh không . Ngài nói có . Hỏi Phật tánh thì sáng suốt tại sao lại chui vào cái đãy da lông lá lù xù, sao không lựa chọn chỗ đàng hoàng lại chui vào chỗ xấu vậy . Ngài trả lời :"Biết mà cố phạm!" . Bởi vì chúng ta tu mà không làm chủ được nghiệp nên bị nghiệp lôi dẫn . Như chúng ta là Tăng Ni, là Phật tử thì ai cũng biết nóng giận là xấu . Nhưng khi có ai chọc tức thì liền nổi giận đùng đùng, biết xấu mà vẫn làm, đó gọi là biết mà cố phạm . Chúng ta biết điều đó dở xấu , nhưng bị nghiệp chi phối nên gặp cảnh liền khởi tội ác, rồi bị tội ác dẫn đi . Như vậy người tu biết điều đó phạm mà vẫn bị kéo lôi là vì đạo lực yếu, nghiệp lực mạnh nên bị nó dẫn đi đâu mình theo đó . Chết không làm chủ được thì sanh làm sao được chỗ như ý ?

Câu trả lời thứ hai nhắc nhở người cư sĩ hay xuất gia, nếu không làm chủ được nghiệp lực của mình thì chừng mất phải đọa vào những đường khổ, vì bị nghiệp dẫn . Người xuất gia nếu không cố gắng tu tập sẽ bị nghiệp lôi, không kháng cự nổi . Đó là điều thiết yếu chúng ta phải hiểu .

Như vậy chúng ta tu phải làm chủ mình, tức là làm chủ nghiệp . Có nhiều vị tu sĩ tu một thời gian rồi hoàn tục, gặp bạn bè hỏi sao thầy không tu nữa,nói tại nghiệp . Nói tại nghiệp là nói gọn, chớ nói đủ là : Tại nghiệp nó dẫn tôi, tôi thua nó nên tôi không tu nữa . Như vậy tất cả việc thua trận đều do nghiệp làm chủ mình . Nếu chúng ta thắng được nó thì chúng ta làm chủ, được tự do tự tại, mà tự do tự tại là nhân giải thoát sinh tử rồi . Chúng ta thấy việc tu rất là tế nhị, phải nhìn sâu vào trong nội tâm mình, để rồi gạn bỏ những thứ nhơ nhiễm, nuôi dưỡng tâm thanh tịnh . Cho nên trong nhà Thiền thường dùng từ "trưởng dưỡng thánh thai", tức nuôi dưỡng thai thánh càng ngày càng thanh tịnh, đó là chỗ tiến bộ của người tu .

Đến đây tôi nói về Thiền tông của Tổ Bồ Đề Đạt Ma, Ngài truyền cho Tổ Huệ Khả . Khi Tổ Huệ Khả đã nắm vững được đường lối tu, biết rõ được phương pháp tu . Tìm tâm tức là phải xoay vào, tìm nó, nó mất tức là được an . Như vậy an tâm là định, còn chạy là còn loạn động . Do đó đường lối tu Thiền cốt phải an tâm . Tôi kể một vị nữa là Ngài Đạo Tín . Lúc còn là một ông sa di mới 13, 14 tuổi gặp Tổ Tăng Xán (Tổ thứ ba), Ngài đảnh lễ :

-Hoà thượng dạy cho con phương pháp giải thoát .

Khi đó Tổ Tăng Xán nhìn thẳng vào mặt hỏi :

-Ai trói buộc ngươi ?

-Dạ không có ai trói buộc hết

Tổ nói :

-Không ai trói buộc thì cầu giải thoát làm gì ?

Ngay đó Ngài Đaọ Tín liền ngộ .

Ngộ đạo dễ quá! Ngộ cái gì ? Đó là những nét rất chí lý , chúng ta cần phải thấy . Chúng ta tu có ai mà không cầu giải thoát đâu, ai cũng khao khát cầu giải thoát. Vậy giải thoát là gì ?

Chữ giải là cởi mở, thoát là vượt ra . Như người bị trói cột ở một nơi nào đó, được mở trói thì nói đã giải thoát cho người ấy rồi . Tóm lại giải thoát tức là mở trói, đi đứng tự tại . Ngài Đạo Tín vì khao khát giải thoát nên cầu Tổ chỉ dạy . Nhưng muốn giải thoát thì phải biết cái gì trói cột . Nếu không biết cái gì trói cột thì làm sao giải thoát . Tất cả người tu chúng ta đa số đều nói nghiệp trói cột . Vì nó trói cột nên không được giải thoát . Vậy cái gì tạo thành nghiệp ? – Thân, khẩu, ý nhưng trọng tâm là ý . Ý là nhân tạo nghiệp, nhưng nếu ý thật thì cột chúng ta mới được . Trái lại cả ngày ý sanh diệt không biết bao nhiêu lần thì làm sao thật được . Ý đã không thật thì nghiệp thật không ? Cho nên khi Ngài Đạo Tín yêu cầu Tổ dạy phương pháp giải thoát thì Tổ bảo : Ai trói buộc ngươi ?

Ngài sửng sốt tìm lại xem cái gì trói buộc . Đó là phản quan, xem cái gì trói buộc mình, phăng tìm khắp nơi không thấy nên Ngài thưa :

-Con không thấy có gì trói buộc hết .

Tổ bảo : Cầu giải thoát làm gì ?

Nhìn lại không thấy có gì trói buộc tức là đã giải thoát rồi . Như vậy muốn được giải thoát, chúng ta đừng ảo tưởng, đừng mê lầm, chúng ta thường nghĩ rằng bị cột trói là cục cựa, nhúc nhích không được . Bây giờ phải mở trói mới cục cựa, nhúc nhích được . Nhưng sự thật không phải . Chúng ta đang bị mê lầm chấp giả làm thật . Từ mê lầm đó rồi tạo nghiệp trầm luân . Nếu bây giờ chúng ta tỉnh táo, biết giả dối là giả dối thì mọi sự trói buộc cũng hết theo, chớ không có gì lạ . Như vậy người biết tu phải quay lại tìm cho ra cái gì là nhân trói buộc, cái gì là quả giải thoát . Thấy tường tận như vậy thì tự nhiên chúng ta giải thoát, chớ đừng cầu ai hết . Qua câu chuyện của vị Thiền sư , chúng ta thấy ý nghĩa rất rõ ràng . Muốn giải thoát không phải tìm kiếm ở đâu xa mà phải phản quan lại mình, thấy cho tường tận, thấy cho rõ ràng thì chúng ta sẽ đi tới giải thoát, không nghi ngờ . Đó là tôi nói hai vị Tổ ở Trung Hoa .

Hiện giờ tôi có một thiền viện ở Đà lạt . Tôi đặt tên là Thiền viện Trúc Lâm . Nói đúng là phải gọi Trúc Lâm Yên Tử, nhưng muốn gọi gọn tôi chỉ đặt thiền viện Trúc Lâm. Tại sao tôi gọi thiền viện Trúc Lâm? Vì tôi thấy trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, người truyền Thiền tông đầu tiên ở đất nước ta là Tổ Tỳ Ni Đa Lưu Chi, người Aán . Kế đó là Tổ Vô Ngôn Thông, người Hoa, sau nữa là Ngài Thảo Đường cũng người Hoa . Đến khi Ngài Trần Thái Tông là ông vua đầu tiên của nhà Trần tu Thiền, khi rành rõi Ngài trì kinh Kim Cang . Một hôm nhân khi đọïc đến câu Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm, Ngài để kinh xuống nghiền ngẫm giây lâu, bỗng dưng giác ngộ, thấy được lý Thiền . Khi ngộ được câu đó về sau Ngài có viết một cuốn Thiền tông chỉ nam, nhưng đã thất lạc mất, chúng ta chỉ còn tìm được bài tựa thôi, còn bản chánh bị mất .

Tổ thứ sáu của Thiền tông Trung Hoa là Tổ Huệ Năng, khi nghe Ngũ Tổ giảng kinh Kim Cang trong lúc giữa đêm, tới câu Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm, ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm . Nghe tới đó Ngài bừng ngộ, liền nói: Đâu ngờ tánh mình xưa nay thanh tịnh, đâu ngờ tánh mình vốn không sanh diệt v.v…

( Còn tiếp )

(Tuần báo Giác Ngộ số 14 – 5/2000)



bullets08.gif - 0.2 KTrang MỤC LỤC
bullets08.gif - 0.2 KTrang chính