PHẬT DẠY PHẨM NHẤT THIẾT PHẬT NGỮ TÂM
TRONG KINH LĂNG GIÀ TÂM ẤN
Cư sĩ TRẦN AN
Kinh Lăng Già Tâm Aán (Phẩm Nhất Thiết Phật Ngữ Tâm) Phật chỉ thẳng tâm của con người (trực chỉ nhân tâm) lấy tâm truyền tâm, lấy dấu ấn tâm, làm cho chúng sinh nhận ra cái chân thật của đạo Phật là tâm trong sáng, không nghĩ thiện, không nghĩ ác, là bản lai diện mục .

Kinh Lăng Già Tâm Aán là kinh Đại Thừa, vô thượng thậm thâm vi diệu pháp, Phật lấy sự để minh lý – lấy tên Núi đặt tên kinh – điều này muốn nói rằng : giáo lý của đạo Phật rất cao siêu, "Đại thừa vô lượng nghĩa" . Kinh lại được dịch từ chữ Phạn (Aán Độ cổ) có từ phải để nguyên, nên khó hiểu . Kinh Lăng Già Tâm Aán chủ yếu dạy cho các Tăng ni Phật tử (trong học viện Phật giáo) những người có trình độ nhất định – còn nam nữ Phật tử về nghe là một sự cố gắng vượt bậc,nếu tiếp thu được là rất quý. Chư Vị giảng sư đã cố gắng thuyết giảng để phù hợp với căn cơ của tứ chúng (Tỳ khưu, Tỳ khưu ni, U bà tắc, U bà di) nhưng do căn cơ không đều nên đây coi như "gieo nhân duyên" để thính chúng có "vốn" nghiên cứu tiếp .

Mở đầu tôi nghĩ lời Phật dạy :" Sinh phùng trung Quốc, Trưởng ngộ minh sư…" nay tôi đang sống ở giữa thủ đô Hà Nội –nơi sắp kỷ niệm 990 năm Thăng Long –lại được nghe thuyết giảng kinh "Lăng Già Tâm Aán" tại Tùng Lâm Quán sứ nhân mùa an cư năm Kỷ Mão cho tăng ni sinh và Phật tử . Kinh Lăng Già Tâm Aán , Phật chỉ thẳng vào tâm, minh tâm kiến tính, không ngại sinh tử, nên tôi hướng tâm mình lên đó, đúng là "Tiền trực thiện duyên, kim sinh cánh ngộ"!

Pháp Phật rộng mênh mang như biển cả, như lá của rừng; trí tuệ của Phật cao xa như núi Lăng Già ; nhưng tất cả đều quay về "Tâm" . Chính tâm, Nhất tâm – Biển tâm; đồng thời cũng là Biển trí –trí tuệ, vì Phật đã dạy "Duy tuệ nhị nghiệp" để người con Phật lấy đó làm mục tiêu tu hành nhằm "Ly dục"(tâm) và ly "ác pháp" (cảnh) cho Biển tâm được thanh tịnh, sóng thức không nổi dậy; tâm cảnh lặng thì tất cả đều sáng tỏ .

Từ trước, tôi đã được nghe nói "Phật tức tâm, tâm tức Phật" . Nhưng tâm thế nào mà nói là tức Phật ?

Quán tâm vô thường tôi mới vỡ vạc ra là tâm của ta như tâm con vượn (ý mã tâm viên) nó đã và đang lăng xăng, có biết bao nhiêu điều mơ mộng, bao nhiêu là ham muốn , giả dối, hư vọng, nó sinh ra không biết bao nhiêu là vọng tưởng phiền não, tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến …do đó cần phải tu tâm luyện tính; chỉ còn một tâm thể nhất như, cái đó mới thật tâm của người con Phật, Tâm Phật –Tâm của ta sáng suốt sống lâu vô cùng, giao nhập với nhau, tràn đầy khắp vũ trụ vô biên . Như vậy, Tâm con nguời sẵn có Phật, quá khứ, hiện tại, vị lai, ba đời chư Phật chân như, bình đẳng chỉ một con Tâm : (tứ thánh, lục phàm duy tâm tạo) .

Tâm chân như thì vọng tâm, vọng tưởng không còn; Như mây mù đã tan thì trăng sáng vằng vặc như đêm hôm rằm và trí tuệ không những cao quý như núi Lăng Già đầy ngọc Bảo Châu mà còn sâu rộng, lắng trong đẹp đẽ như nước Biển Nam không có gió .

Tôi cũng nghĩ rằng từ khi có thần thức đến nay,"đã thuộc lớp người xưa nay hiếm", những " Chấp ngã, chấp phá, chấp thường, chấp đoạn…" đã ăn sâu và bám rễ vào ý thức và hành động của mình; những vọng tâm, vọng tưởng đã trở thành tập khí (thói quen) lâu ngày . Việc phá chấp trừ mê không dễ .

Nay, tiếp thụ giaó lý của Phật :" Nhất thiết chư pháp tất thuộc vô thường" trong cái vô thường có cái thường, trong cái thường có cái vô thường; phải học phải tu phải duy trì tính tương tục, mỗi ngày tinh tiến lên một ít, làm cho nhân tu ngày thêm chắc chắn, làm cho thiện tâm liên tục phát triển thì việc "phá chấp, trừ mê" cũng từ đó dần dần được giải quyết, vì "Tâm , Phật chúng sinh" "Tam vô sai biệt", mình tin chắc nơi mình có cái tâm chân thật thì nhất định phá được chấp . Và khi đã thấy được tâm chân thật thì dù "Vọng tâm, vọng tưởng" đã lâu ngày cũng lìa được, sẽ thanh thản thoải mái, không còn buồn phiền, đau khổ, mà được hạnh phúc, an vui . "Năng Ngã, Sở Ngã": Năng Ngã là chấp cái ta, cho ta là hơn cả (về mình -tôi và của tôi) . Sở Ngã là từ chấp trước cái này của ta (mà giữ gìn lại cho mình –của tôi và cho tôi)- Sinh ra " Kế trược diệu sắc" mong muốn hy vọng tốt hơn, đẹp hơn, nhiều của cải hơn người khác, ngu si, phủ chướng, che lấp chân tính, sinh ra nhiễm trược, tham, sân, si mạn, nghi, tà kiến… do đó, nghiệp tích tập lại làm cho vọng tâm, vọng tưởng bành trướng như con tằm làm tổ từ ngoài vào trong, làm cho kén ràng buộc nó, đó là nghiệp và bị đọa vào biển sinh tử (làm tắc kiệt, đọa sinh tử hải) .

Muốn chặt đứt vô minh phiền não, Năng Ngã, Sở Ngã, vọng tâm, vọng tưởng phải có đạo trí tuệ, bởi vì cửa vào kinh Lăng Già là trí tuệ Bát Nhã ; lấy cửa không làm cửa pháp . Trong kinh Bát Nhã , Phật dạy :" Chư Phật trong ba đời cũng y vào Bát Nhã Ba La Mật Đa được đạo vô thượng chính đẳng, chính giác …" Nói khái quát thì Bát Nhã Ba La Mật Đa là trí tuệ rộng lớn cùng tột, mà trí tuệ rộng lớn cùng tột đó là Tâm .

"Sơn bất khả vãng", núi Lăng Già là cảnh trí mà người thường không dễ lên được, phải có phép thần thông, nói cách khác –núi Lăng Già là nơi Phật nói Pháp, Pháp mà Phật nói là trí tuệ Bát Nhã, là tâm chân như, làm cho chúng sanh diệt trừ mọi mê muội, khổ đau được giác ngộ và giải thoát tâm ấy, trí tuệ ấy như mặt trời, mặt trăng chiếu sáng khắp thế gian, không có chúng sinh nào mà không được hưởng ánh sáng ấy . Do đó, người thường –chúng ta –phải học, phải tu để đạt đến cảnh trí ấy, để chứng được quả Phật .

Núi cũng biểu thị cho "Năm Uẩn" (Ngũ Aám) nếu không xa lià vọng tâm, vọng tưởng thì năm uẩn (Sắc, thọ, tưởng, hành, thức sẽ che lấp Phật tính của chúng ta . Sắc uẩn không chỉ là màu sắc mà nó còn mang tính bao trùm cả mọi vật, trong đó có cả cái thân tứ đại huyễn hoá của chúng ta . Thọ uẩn là saú căn tiếp xúc với sáu trần, từ đó có cảm nhận về hỷ, lạc, xả, ưu, khổ… Tưởng uẩn là tâm tưởng của ta, là những khả năng hồi tưởng, ký ức của ta . Hành uẩn là khả năng về suy nghĩ và việc làm của ta . Thức uẩn là cái phân biệt của sáu căn . Cuộc sống của chúng ta, hiểu con người của chúng ta đều do duyên sinh nên không thể thiếu ngũ uẩn do có chúng ta hiểu và vận dụng, sử dụng như thế nào cho đúng, đừng vọng tâm, vọng tưởng, đừng tham đắm, biết sống đủ, vừa phải (thiểu dục chi túc) .

" Luyện tính, tu tâm" kiên trì phá chấp, kinh Lăng Nghiêm Phật dạy :" Minh tâm, kiến tính thành Phật" . Vậy tính ở kinh Lăng Già là chân tính, mà chân tính cũng tức là chân tâm . Muốn vậy phải chịu khó học và tu tậïp để kiến tính, từ đó mà hiểu rõ về tâm . Trong sách Tam tự kinh có câu :" Nhân chi sơ, tính bản thiện" chúng ta hãy quay về sống với tính bản thiện ấy, đó cũng chính là luyện tính, tu tâm . Muốn luyện tính tu tâm đạt hiệu quả phải liễu tri tứ môn (Sẽ nói ở phần sau)

"Đa văn thiện ư nghĩa" –nghe nhiều có suy nghĩ thì sẽ hiểu được liễu nghĩa của kinh sách, kinh Lăng Già Tâm Aán là bộ kinh đại thừa vô lượng nghĩa rất khó hiểu. Nhưng "tu tâm hiện nhiếp thụ" mỗi ngày nghe hiểu thêm một ít, dần dần sẽ hiểu, do đó phải học rộng, nghe nhiều, phải "duy trì tính tương tục" không lười biếng nghe pháp thì trí tuệ được mở mang, sẽ hiểu được liễu nghĩa của kinh .

Giáo lý của Phật rất khó hiểu, nhưng có quyết tâm vượt khó thì vẫn học được, hiểu được, như việc niệm Phật, trì chú tụng kinh hàng ngày, nhất định sẽ có kết quả như chư tăng đã thuyết giảng : Tu phải học, học để tu, có học mới hiểu biết, mới giác ngộ " Giác chẳng sinh mê, giác mê thì mê diệt"; từ đó mà có lòng tin chắc chắn (thâm tín) lập nguyện vững vàng, hành động đúng đắn, sẽ chứng đạo quả .

"Tự giác, giác tha" lên bờ giải thoát đó là hạnh của Bồ tát mà chư Phật chư vị Bồ tát đã dạy và đã làm . Chúng ta phải chú tâm hướng Phật, học và hành theo lời Phật dạy, theo hạnh của Bồ tát; mình đã hiểu và làm, phải nói cho người khác cũng hiểu và làm, cùng đóng bè tập phúc để vượt sông mê lên bờ giải thoát .

Nội dung kinh Lăng Già, Đức Phật tạm dựng lập "Tám thức, năm pháp, ba tự tính và hai vô ngã" mà giảng sư đã nói là " trước hết phải liễu tri tứ môn để hành trì rồi mới viễn tri tứ môn" . Đó cũng là luyện tính, tu tâm .

Vậy những gì là tám thức?

Đó là : tai, mũi, thân và ý (lục căn) cộng với ý căn và tàng thức (hay còn gọi là Mạt na thức và A Lại Da thức)

Tu phải tu sáu căn, ba nghiệp cho được thanh tịnh để được giải thoát . Phân chia làm tám thức và tuỳ theo tướng dụng riêng biệt của mỗi cái, thực thể vẫn không khác nhau . Nhưng ý căn rất quan trọng, vì ý là chúa tể sai khiến, khi ý thức dùng phân biệt thì sóng bảy thức cũng dừng lặng, trở về mặt biển tàng thức trong veo . Do đó, tu phải tiến hành từng bước từ thấp đến cao, không nóng vội (dục tốc bất đạt) .

Năm pháp là những pháp nào? Đó là : danh, tướng, vọng tưởng, như như, chính trí .

-Danh là tên hay còn gọi là tiếng, tiếng là âm thanh hay hoặc dở .

-Tướng là hình thức, là chỗ hiện sắc tướng, trông thấy mọi vật hiện ra hàng ngày .

Danh, tướng không thật, duyên hợp, như huyễn, danh tướng hiện vào tâm người nên sinh ra vọng tưởng mơ ước .

Vọng tưởng thì hay có tính phân biệt, thấy ái gì cũng ưa, cũng thích, cũng khen, cũng chê, chấp trược… vọng tưởng, phân biệt là hư giả, danh tướng, vọng tưởng phân biệt là chiều mê, là động cơ chính của mê .

-Như như : đối với các pháp thì uyển chuyển không câu chấp, thể hiện tính lặng lẽ, bình tĩnh, luôn luôn bình thản, không mơ mộng .

-Chính trí : thấy rõ thực tướng của danh, tướng, vọng tưởng phân biệt nên không chấp; không chấp thường, không chấp đoạn, xa lìa vọng tưởng, tự giác Thánh trí, trở thành như như . Chính trí là động cơ chính của giác, chính trí, như như là lối giác .

Như thế nào là ba tự tính?

-Vọng tưởng tự tính

-Duyên khởi tự tính

-Viên thành tự tính

+Vọng tưởng tự tính đối trị trực chỉ nhân tâm . Vọng tưởng đã nói ở năm pháp, còn tự tính vọng tưởng thì suốt ngày ở trong tâm ta , mắt thấy gì, tai nghe gì, đều nghĩ, đều để trong tâm là tự tính vọng tưởng .

+Duyên khởi tự tính, khởi biết danh, tướng do duyên hợp mà có, mỗi pháp đều không có tự tính, nhìn thấy , nghe thấy gì là duyên khởi luôn, thích khen "máu tham hễ thấy hơi đồng là mê"

+Viên thành tự tính là cái sẵn có

Lìa danh, tướng , vọng tưởng do trí nhập như như , bản giác thủy giác, hiệp một, ấy gọi là viên thành tự tính Như Lai tạng tâm .

Năm pháp và ba tự tính không rời nhau nên Phật nói bài kệ :

"Danh tướng, giác tưởng

Chính trí, như như

Tự tính hai tướng

Aáy là thành tướng

"Hai vô ngã" là nhân vô ngã và pháp vô ngã, khác với "năng ngã sở ngã" đã trình bày ở trên .

Nhân vô ngã : Phật dạy :" Tất cả chúng sinh trong cõi Sa bà này đều như huyễn ngoài tâm sẽ không hiểu được , không thấy được" vì "Tam giới như huyễn", ngay thân tứ đại bằng xác thịt của chúng ta cũng như huyễn, giả hợp, là vô thường, cũng sinh, trụ, dị, diệt, nó luôn luôn biến đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác, sinh ra rồi sẽ chết "Thức thần phân biệt nhậm tuần hoàn, nhất tức bất hồi cách kỷ gian". Thân tứ đại của chúng ta (đất, nước, gió, lửa) cộng thêm thức đại tức là thần thức, hợp cảnh hợp duyên thì thần thức đến, khi chết thì thần thức bay lơ lửng trên không trung (nhà Phật gọi là thân trung ấm) trong vòng 49 ngày phải xuống và đầu thai, khi thụ nghiệp báo là "hạ ấm" . Nhân mệnh vô thưởng , sống được bằng hơi thở . Do đó, phải lìa ngã và ngã sở đó là nhân vô ngã .

Pháp vô ngã : Phật dạy : "Nhất thiết chư pháp tất thuộc vô thường" (Tất cả các pháp đều thuộc vô thường) luôn luôn biến đổi . Các pháp duy tâm sở hiện, đều từ tâm do tâm . Trong kinh Hoa Nghiêm , Phật dạy :

"Nhược nhân dục liễu tri

Tam thế nhất thiết Phật

Ưng quán pháp giới tính

Nhất thiết duy tâm tạo

Tất cả Pháp không sinh, tất cả Pháp không diệt, tới cảnh giới tự tại là cảnh giới của Phật . Tự nguyện tu hành mà sinh các Pháp, pháp chân thường thể tính thường trụ . Kinh Lăng Già, Phật dạy… "Vượt địa vị Phật tử đến tự giác thánh trí pháp thú, sẽ được pháp thân tự tại Như Lai , vì thấy Pháp vô ngã, ấy gọi là tướng pháp vô ngã ".

Tam vô lậu học" Giới, định , tuệ" . Trước khi nói về Tam vô lậu học, cần nói Tam tuệ học : Văn, tư, tu mà văn, tư tu lại chủ yếu là nói về tuệ . Ba tuệ này tương quan mật thiết với nhau và nó hợp với căn bản của người mới tu học theo đạo Phật .

Văn là nghe, tai nghe âm thanh là lời của các giảng sư và của các thiện hữu tri thức, mắt thấy văn tự của Phật , hay các kinh điển mà hiểu được nghĩa lý .

Tư là tư duy, do suy nghĩ, nghiên cứu, tìm tòi rõ được nghĩa lý, hiểu được sự thật .

Tu là sửa do tu hành thể nghiệm và thể nhập chân chân lý mà giác ngộ, chứng được sự thật .

Đối với pháp của Phật chỉ nghe mà không suy nghĩ, không tu hành thì nghe nhiều cũng như của báu của người khác .

Muốn tín, nguyện, hành và chứng thì trước hết cũng phải từ văn tư, tư ,tu .

Tam vô lậu học : Giới. định, tuệ . Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ngắm nhìn thành phốVai Sa Ly lần cuối, rồi Ngài nói với các Tỳ Khưu :" Giới, định, tuệ giải thoát tối hậu, đó là những điều Như Lai thực hiện" .

Giới : kinh phạm võng (phẩm Bồ tát tâm địa) . Nói về giới :

"Giới như đèn sáng lớn

Soi sáng đêm tối tăm

Giới như gương báu sáng

Chiếu rõ tất cả Pháp

Giới như châu Ma ni

Rưới của giúp người nghèo

Thoát khổ mau thành Phật

Chỉ giới này hơn cả

Vì thế nên Bồ tát

Phải tinh thấn giữ gìn…"

" Giới" : là những điều răn dạy, ngăn cấm, những quy luật mà Đức Phật đã chế ra để hướng dẫn các đệ tử của Ngài đi vào con đường chính, tránh rơi xuống hố, hoặc đi lạc đường trên con đường đi tới quả vị Phật .

Nói đến giới tức là nói đến thiện, nói đến thiện tức là nói đến an vui, thanh thản của tâm hồn là giải thoát khổ của cuộc đời .

Đối với chúng ta, những Phật tử tại gia thì căn bản là giữ gìn và thực hành cho được " ngũ giới" và " thập thiện" . Vì "ngũ giới" là "nền móng" của Giới luật . "Thập thiện" vừa là giới luật , vừa là pháp hành để trau giồi tu tập trong tất cả hành động thân, khẩu, ý . Để ba nghiệp đều thể hiện hành động thiện pháp nên chia làm ba nhóm hành động :

-Thân : không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm .

-Khẩu : Miệng không nói dối, không nói lưỡi hai chiều, không nói lời thêu dệt, không nói lời độc ác .

-Ý : không tham, sân, si .

Đừng nên xem thường các giới cấm, giới hành nay, vì nó là cơ bản của Phật pháp, nó là nấc thang ban đầu cho tất cả những ai chọn lấy con đường tu hành theo đạo Phật .

"Định" là tập trung tâm ý vào một đối tượng duy nhất không cho tâm ý tán loạn để suy nghiệm đến những vấn đề căn bản của đạo tâm .

Nhờ "giới luật" mà tâm mới ly dục, ly ác pháp, tâm ly được lòng ham muốn và ác pháp thì tâm trong sạch, thanh tịnh . Do tâm trong sạch và thanh tịnh nên định, khi tâm đã định tức là tâm được nghỉ ngơi, tâm được nghỉ ngơi thì thân và tâm được thanh thản, thoải mái, sáng suốt nên định sinh tuệ .

" Tuệ" là cái diệu dụng xét soi tự tại, là sự phát chiếu của trí sau đã tẩy sạch phần não vô minh . Trong đạo Phật quan trọng là trí tuệ và phương tiện, có trí tuệ mới giải thoát, có phương tiện mới độ sinh . Thế gian còn nhiều phan duyên trần cảnh phải có đao trí tuệ, phan duyên là sự ràng buộc như cây tơ hồng, phải có đao trí tuệ để chặt đứt; tức là giác tự tâm, là sự hiểu biết của mình để cắt đứt tất cả những thứ ràng buộc mà con người không biết mình mê . Do đó, tu hành phải cắt đứt vọng tâm . Trí tuệ có khả năng soi sáng sự vật một cách thấu đáo, tinh tường đến nơi đến chốn, không thể sai lầm .

Kinh Pháp Hoa ( phẩm thí dụ thứ ba) Phật dạy "…Người tu lấy trí tuệ làm mạng sống và nhân lời Phật dạy mà được trí tuệ (từ miệng Phật sinh) nhờ Pháp Phật khiến cho trí tuệ ngày càng tăng trưởng (từ pháp hóa sinh) và được tôn từng phần giác ngộ nên nói được pháp phần của Phật…"

Chính nhờ hiểu tầm quan trọng của Tam vô lậu học : Giới, Định , Tuệ, nên tôi phát nguyện :

"… Kể từ nay và mãi mãi về sau luôn luôn trau dồi Tam vô lậu học, Giới, Định, Tuệ phải sáng trong như ngọc; Mọi lúc , mọi nơi đều phải dũa mài . Vì người xưa đã dạy :

"… Ngọc kia chẳng dũa, chẳng mài,

Hữu thành vô dụng , cũng hoài ngọc đi

Con đường ta có khác gì

Học hành tiến bộ ngu si hư đời…"

Những phần sau có nhiều ý đã thuyết minh ở trên và nghĩa đã rõ .

Để kết thúc, tôi xin trích một vài đoạn Phật dạy về tâm địa "… Giữ tâm ý trong sạch phải là mối quan tâm thường xuyên và hàng đầu của mọi Phật tử của mọi người, vì thông thường người ta suy nghĩ trước rồi mới nói , mới làm …"

"…Cũng như trên đất, ta có thể vứt bất luận vật gì, dù chua, dù ngọt, dù dơ, dù sạch, đất vẫn thản nhiên một mực trơ trơ, không giận cũng không thương và cũng thế ấy, trong hạnh phúc, trong phiền não, lúc thăng lúc trầm, ta phải giữ tâm như đất …"

Chúng ta, chú tâm hướng Phật, phát nguyện tiến tu theo lời Phật dạy để trưởng dưỡng đạo tâm, thanh tịnh tam nghiệp .

Nam mô cầu tinh tiến Bồ tát Ma Ha tát .

(Tạp chí nghiên cứu Phật học số 2/2000)


bullets08.gif - 0.2 KTrang MỤC LỤC
bullets08.gif - 0.2 KTrang chính