VÀI SUY NGHĨ VỀ HỌC HỎI NGHIÊN CỨU
KINH ĐIỂN ĐẠO PHẬT

THÍCH GIA QUANG

Việc học hỏi nghiên cứu kinh điển đạo Phật ngày nay được rất nhiều ngưòi trong các giới quan tâm, nhất là giới tri thức , trong khi kinh điển Phật giáo rất nhiều và nội dung rất sâu rộng, tam tạng Thánh Điển Phật giáo lại có hai ngữ hệ chính là Pali ngữ và Hán ngữ hay kinh Nam truyền và Bắc truyền hay kinh Nguyên thủy và kinh Đại Thừa Phật giáo . Trong các hệ đó khi thì Phật nói có Tứ đế, Thập nhị nhân duyên (kinh Nguyên thủy và A Hàm), khi thì lại nói không có Tứ đế, không có Thập nhị nhân duyên (kinh Bát Nhã- Đại Thừa) làm cho người học chúng ta choáng váng và nghi ngờ không biết giáo lý nào là đúng đắn nhất rồi chúng ta có thể bị hoang mang về giáo lý Đạo Phật . Do vậy mà vấn đề đặt ra cho những người học Phật chúng ta là phải tìm ra phương pháp học hỏi và nghiên cứu giáo lý Đạo Phật cho có kết quả . Khi Đức Phật còn tại thế, Ngài dạy các đệ tử bằng cách truyền miệng nên chúng ta thấy sau này kết tập lại lời Phật câu kinh thường được lặp đi lặp lại nhiều lần, đây là một hình thức mà người dạy nói đi nói lại cho người nghe để dễ nhớ . Khoảng 400 năm sau khi Đức Phật nhập diệt, các đệ tử Ngài truyền dạy nhau qua các thế hệ cũng bằng phương pháp tụng lại (đọc lại) những lời dạy của đức Bản sư cho nhau nghe để học hỏi . Như vậy tránh sao khỏi sự nhầm lẫn và thiếu sót . Vào khoảng thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên kinh Phật mới được viết vào lá bối, văn tự từ đây mới bắt đầu chuyển tải giáo lý Đạo Phật . Như vậy mất khoảng 450 năm lời Phật được truyền bá toàn bằng cách truyền khẩu mà thôi . Rồi từ đó đến nay biết bao lần kinh Phật được khắc bản lại để in ấn và lưu giữ ở nơi này nơi khác, vùng này vùng khác trong khi tam sao thất bản (ba lần sao đã sai bản gốc rồi) huống hồ lại chưa kể Phật giaó có tới 20 bộ phái khác nhau, mỗi bộ phái đều mang một quan điểm riêng, ngữ hệ riêng nên chắc không thể nào mà chính xác tuyệt đối được, đây cũng là cái khó cho người học hỏi nghiên cứu giáo lý đạo Phật . Ngay trong thời Đức Phật tại thế cũng đã có đệ tử hiểu sai lời dạy của Ngài như tỷ khưu Arittha trong kinh Xà Dụ số 22 của kinh Trung bộ, Đức Phật đã gọi lên quở trách nhưng Arittha vẫn giữ nguyên tà kiến của mình . Vì vậy chúng ta phải rất thận trọng khi học hỏi nghiên cứu kinh Phật, đừng có vướng mắc vào câu, chữ ở trong kinh mà phải lấy ý nghĩa của câu kinh, của bài kinh là chính. Trong kinh Đức Phật cũng đã dạy" Y kinh giải nghĩa tam thế Phật oan" "ly kinh nhất tự tức đồng ma thuyết" có nghĩa là nếu chúng ta nương vào Kinh mà giải nghĩa từng chữ, từng câu một thì thế nào cũng sẽ nói oan cho chư Phật 3 đời; nhưng nếu ta bỏ một chữ trong kinh đi thì những điều chúng ta nói sẽ có thể tương tự với những điều ma nói . Như vậy, người học Phật chúng ta phải một mặt không nên chấp chặt vào văn tự trong kinh, một mặt không nên lìa kinh để tìm chân lý, đó là một cách học hỏi của chúng ta biết sử dụng kinh điển Phật giáo để nắm bắt chân lý .

Cũng trong kinh Xà dụ (ví dụ như người bắt rắn) Đức Phật dạy chúng ta những người học Phật phải biết học Phật một cách thông minh có trí tuệ, vì nếu học hỏi Pháp của Ngài mà không thông minh thì pháp có thể trở thành ra nguy hiểm và không có lợi cũng như người dùng thuốc để chữa trị bệnh mà cách dùng sai lạc thì sẽ đưa đến tai hại cho người bệnh hơn là lợi ích cho họ . Ngài ví dụ người bắt rắn phải biết cách bắt rắn là họ dùng cái nạng kẹp vào đầu rắn rồi cầm cổ rắn thì bắt rắn một cách dễ dàng . Nếu người không biết bắt rắn lại cầm đuôi rắn thì sẽ bị rắn quay cổ lại cắn vào tay sẽ làm cho người bắt rắn có thể chết hoặc đau khổ gần như chết, pháp cũng có thể như vậy . Do đó chúng ta cần phải học hỏi giaó lý một cách thông minh, không theo giáo điều cố chấp, nếu không thì pháp cũng có thể trở thành nguy hiểm như con rắn . Chính pháp mà còn như vậy, huống hồ là phi pháp, cho nên việc học Phật không phải là một chuyện dễ . Cũng trong kinh này Đức Phật ví dụ giaó pháp của Ngài như một chiếc bè dùng để chở người qua sông, chứ không phải để con người thờ phụng, qua sông rồi lại đội bè trên đầu mà đi, và vì vậy cho nên phải biết công năng của chiếc bè và cách sử dụng chiếc bè . Phải thả bè trên sông, đứng trên bè đó chèo bè qua bờ bên kia mới được, giaó pháp của Phật cũng như vậy . Giaó pháp của Ngài phải được sử dụng như chiếc bè chở chúng ta từ bến mê sang bờ giác, như vậy chúng ta mới học Phật một cách khôn ngoan . Ví dụ giaó pháp của Phật như chiếc bè chở người qua sông trong kinh này cũng được đưa vào như trong kinh Kim Cương để nói lên vai trò của giáo lý là vai trò dẫn đường cho chúng ta đoạn trừ các tham ái và chấp thủ đang ngăn che chúng ta, không cho chúng ta đi đến an lạc và giải thoát . Ý nghĩa cơ bản của chính pháp hay chiếc bè là để vượt qua chứ không phải là để nắm giữ, vượt qua "sông mê bể khổ" để sang "bờ giác, bến an lạc giải thoát" . Rõ ràng chúng ta thấy cả kinh Nguyên thủy lẫn kinh Đại thừa đều nói lên giaó lý của Phật dù là giaó lý tối thượng đi nữa thì cũng chỉ mang ý nghĩa chỉ đường cho chúng ta tự giải quyết sinh tử chứ không phải tự thân giaó lý giải quyết sinh tử cho chúng ta, như chính Đức Thế Tôn đã từng nói "Thế tôn chỉ nói lên sự diệt khổ và sự diệt khổ" mà thôi .

Như trên đã nói, ngay trong thời Đức Phật còn tại thế mà đã có sự hiểu lầm về giaó lý đạo Phật, huống hồ là sau khi Phật nhập diệt mấy trăm năm truyền thừa thì nhất định sẽ có những chuyện hiểu lầm và truyền thừa Phật pháp sai lạc . Do đó , khi học hỏi chúng ta phải cẩn thận, so sánh, nhất là chúng ta phải có cái nhìn nhất quán, cái nhìn thấu suốt xuyên qua tất cả các điểm khác biệt trong giáo lý đạo Phật . Cái nhìn nhất quán đó là cái nhìn có hệ thống hoá và vượt khỏi những mâu thuẫn bề ngoài và trên văn tự ngôn ngữ của kinh . Như khi có kinh nói thế này thì kinh khác lại nói ngược lại, như khi thì kinh nói có sinh tử là đúng, hay không sinh không tử là đúng, làm cho người học Phật không biết đường nào mà theo . Vì vậy chúng ta học Phật phải có phương pháp mà trong giaó lý đạo Phật đã đề cập đến . Nhị đế là hai loại sự thật : sự thật tương đối và sự thật tuyệt đối . Sự thật tương đối là tục đế hay thế tục đế là sự thật trong cuộc đời thế tục . Sự thật tuyệt đối là chân đế hay đệ nhất nghĩa đế là sự thật siêu việt cuộc đời, sự thật cao hơn hết . Đức Phật luôn luôn nói lên sự thật, không bao giờ Ngài nói không có sự thật, nhưng có khi Ngài nói về sự thật tương đối và có khi Ngài nói về sự thật tuyệt đối . Nếu không biết điều đó, nếu không có tiêu chuẩn để nhận định thì chúng ta có thể thấy có điều Phật nói trái ngược nhau (như trên đã trình bày) . Vì vậy , khi đọc kinh Phật , chúng ta phải có khả năng nhận thức đó là lời tuyên bố về chân lý tương đối hay là lời tuyên bố về chân lý tuyệt đối thì chúng ta sẽ không bị lộn xộn, nghi ngờ . Tương tự với Nhị đế (hai sự thật) còn có 4 tiêu chuẩn để nói lên sự thật gọi là Tứ tất đàn mà người học Phật cần phải nhận diện để hiểu được giáo lý của Ngài . Thứ nhất là Thế giới tất đàn là các tiêu chuẩn căn cứ trên những nhận thức phù hợp với cuộc sống của con người ở thế giới này . Thứ hai là Vị nhân tất đàn là vì con người mà nói như vậy, phù hợp với lề lối, suy nghĩ, nhận thức…của con người . Thứ ba là Đối trị tất đàn là tuỳ theo căn bệnh của chúng sinh mà Đức Phật đặt pháp để chữa trị cho họ . Thứ tư là Đệ nhất nghĩa tất đàn là tiêu chuẩn tuyệt đối thực về chân đế, nói thẳng, nói đúng sự thật, dù người không hiểu có phản đối cũng không sao . Đó là ý niệm về Tứ tất đàn giúp chúng ta đọc lời của Phật sẽ hiểu được lời đó Ngài dạy theo tiêu chuẩn Tất đàn nào, để từ đó nắm bắt được giáo lý đạo Phật .

Như vậy pháp Nhị đế và Tứ tất đàn là những khái niệm là những chiếc chìa khóa trong các chìa khoá cần nên dùng để giúp chúng ta học hỏi và nghiên cứu giáo lý đạo Phật một cách dễ dàng và không sai lạc . Chúng ta cần phải có cái nhìn nhất quán và xuyên suốt giữa các tạng kinh Nikaya – Ahàm và Đại thừa thì khi học Phật sẽ không cảm thấy những lời Phật dạy trái ngược nhau .

(Tài liệu có sử dụng cuốn "Trái tim của Bụt" của Thiền sư Nhất Hạnh)

 



bullets08.gif - 0.2 KTrang MỤC LỤC
bullets08.gif - 0.2 KTrang chính