TRÍ TUỆ VÀ TỪ BI TRONG ĐẠO PHẬT
Huyền Cương
Một số tôn giáo tin rằng lòng từ bi hoặc tình thương yêu - hai khái niệm này rất gần nhau - là phẩm chất tinh thần quan trọng nhất . Nhưng ở những tôn giáo ấy thiếu hẳn việc trau giồi và mở mang trí tuệ . Kết quả là các tín đồ trở thành những kẻ tốt bụng dại khờ, những người rất tử tế nhưng kém hiểu biết hoặc chẳng hiểu biết gì cả .

Những hệ tư tưởng khác thiên về lý trí, như khoa học chẳng hạn, thì lại tin rằng trí tuệ chỉ có thể được phát triển tốt nhất khi mà mọi cảm xúc, bao gồm cả lòng từ bi bị gạt ra bên lề . Vì lẽ đó, khoa học chỉ lạnh lùng bận rộn với những thành quả nghiên cứu, khám phá, mà quên mất rằng mục đích của khoa học là phục vụ con người, chứ không phải nhằm thống trị con người . Và sự thật phũ phàng là khoa học đã vô tình hoặc cố ý, gián tiếp hoặc trực tiếp, góp phần chế tạo bom hạt nhân, vũ khí vi trùng và những thứ khác tương tự, đe dọa hoặc tàn phá cuộc sống yên lành của loài người .

Một mặt, tôn giáo luôn luôn coi lý trí hoặc trí tuệ là kẻ thù của cảm xúc, đức tin và tình thương . Mặt khác, khoa học lại luôn coi cảm xúc và tình thương là kẻ thù của lý trí và tính khách quan . Và như thế khi khoa học tiến bộ thì tôn giáo ắt phải lùi bước . Đó là lẽ đương nhiên .

Trong đạo Phật thì khác, theo lời Phật dạy, mỗi cá thể phải trau giồi và mở mang cả hai, trí tuệ và lòng từ bi, để thật sự sống yên lành, thăng bằng và trọn vẹn . Lời khuyên đó căn cứ vào kinh nghiệm sống của chính Đức Phật chứ không phải là giáo điều, võ đoán hoặc ảo tưởng . Chính vì lẽ đó đạo Phhật không có gì phải e ngại trước sự phát triển của khoa học-công nghệ cả .

Vậy thì, theo Phật giáo, trí tuệ là gì? Trí tuệ tột cùng (cao nhất) trong đạo Phật là thấy rõ lẽ thật rằng mọi hiện tượng vật chất hay tinh thần đều không trọn vẹn, đều không còn mãi, và đều không có tự tính - không có "cái tôi"(vô ngã). Sự nhận biết này, giải thoát hết thảy mọi bám dính, ràng buộc, đưa đến sự yên lành và niềm hạnh phúc lớn lao, gọi là Niết Bàn .

Tuy nhiên, Đức Phật không chỉ nói về trình độ tột cùng của trí tuệ . Ngài dạy rằng, những ai chỉ đơn giản tin theo những điều người khác nói là những người không trí tuệ . Trí tuệ đích thực phải là tự mình thấy và hiểu một cách trực tiếp bằng kinh nghiệm thực hành của chính mình . Ở trình độ này, thì trí tuệ có nghĩa là cần phải biết lắng nghe những quan điểm khác bằng tấm lòng rộng mở (hơn là đóng kín nó) nhưng không nên mù quáng cả tin; sau đó hãy thận trọng kiểm tra lại những điều trái ngược với nếp nghĩ của mình từ trước (hơn là tự mình bưng tai, nhắm mắt giống như con đà điểu vùi đầu trong cát để tránh cơn bão sa mạc); cần có thái độ khách quan (hơn là thành kiến hoặc bè phái); cần có thời gian đủ cho quá trình thử nghiệm và nhận biết lẽ thật (hơn là hấp tấp chấp nhận ngay theo cảm tính, và sau đó lại dễ dàng hoang mang, dao động trước những lý lẽ trái ngược). Một người như thế mới thật là người khôn ngoan, sáng suốt và chắc chắn sẽ đạt tới sự hiểu biết thật sự . Đó chính là lối đi của Phật tử . Nó đòi hỏi lòng dũng cảm, tính nhẫn nại, sự mềm dẻo và trí thông minh . Đường lối này không cần đến niềm tin mù quáng .

Có người nghĩ rằng đường lối ấy không dễ dàng và không phải ai cũng có thể sẵn sàng thực hành ngay được . Điều đó quả là không sai . Nhưng nếu vì thế mà bảo rằng nên truyền dạy một thứ sai . Nhưng nếu vì thế mà bảo rằng nên truyền dạy một thứ tôn giáo có thể dễ hiểu, dễ tin cho mọi người, mà lại hoàn toàn sai lạc với lẽ thật hoặc trái chồng với con đường của Bụt thì quả là một điều tức cười, nếu không nói là đáng phê phán . Con đường của Bụt là nhằm vào lẽ thật, người tu theo Bụt cần phải thực hành nghĩ , nói và làm hướng về lẽ thật cuối cùng . Nếu như chưa phải là tất cả mọi người đều sẵn đủ khả năng nhận biết lẽ thật đó ngay trong đời này, thì có lẽ trong các cuộc đời tiếp sau họ sẽ sẵn sàng . Vả lại trong thực tế không ít người chỉ với những lời nói hoặc sự khích lệ đúng mức là sự nhận biết của họ được khơi mở (bừng ngộ). Chính vì thực tế đó mà các vị tăng ni và các cư sĩ đích thực thường không tiếc sức mình luôn luôn với thái độ ứng xử dịu dàng và cái nhìn cảm thông, cố gắng chia xẻ với người khác sự hiểu biết đúng đắn về con đường Niết Bàn . Ngày xưa vì lòng từ bi đối với nỗi đau của chúng sinh Đức Phật đã kiên trì trong suốt gần nửa thế kỷ chuyển bánh xe pháp . Ngày nay cũng vì lòng từ bi mà người tu theo Bụt sẵn sàng chia xẻ hiểu biết với người khác .

Chúng ta vừa nói đến lòng từ bi . Vậy từ bi là gì ? Nếu như trí tuệ là hoa trái của khả năng sáng suốt và quá trình nhận thức trong bản chất tự nhiên của con người, thì lòng từ bi cũng bắt nguồn từ khả năng xúc động và sự cảm thông trong bản chất tự nhiên của con người . Từ bi gồm hai chữ :"Từ" và"Bi". "Từ" nghĩa là sự cảm thông giữa người với người (và giữa người với các sinh vật khác) nhờ đó nảy sinh lòng thương yêu"Bi". Khi chúng ta thấy ai đó trong cơn phiền muộn và ta cảm thông với nỗi đau của người ấy, coi nỗi đau ấy như là của chính mình và cố gắng làm vơi đi hoặc chấm dứt nỗi đau này, thì đó chính là lòng từ bi .

Nói cách khác, tất cả những phẩm chất cao đẹp của con người, hay còn được gọi là Phẩm-Hạnh-Như-Bụt, như là sự sẵn lòng san xẻ hoặc ban cho người khác sự thoải mái, sự cảm thông, sự quan tâm chăm sóc đều là những biểu hiện cụ thể của lòng từ bi .

Nhìn sâu hơn, ta có thể thấy rằng sự quan tâm và lòng thương yêu đối với người khác, cũng bắt nguồn từ sự quan tâm và lòng thương yêu đối với chính mình . Ta chỉ có thể thực sự biết được điều gì là tốt đẹp nhất đối với người khác khi ta biết rõ điều gì là tốt đẹp nhất đối với chính ta . Như vậy, trong đạo Phật việc trau giồi và khơi mở trí tuệ của một người được phát triển một cách tự nhiên bên trong mối quan tâm của người đó đối với sự yên lành của những người khác . Cuộc đời của Đức Phật là một minh chứng rất rõ nét về lẽ thật ấy . Chính sáu năm ròng gian khổ phấn đấu vì sự yên lành của mình đã cho Ngài đủ kinh nghiệm quý báu để có thể ban rải lợi lạc tới toàn thể loài người cho đến tận hôm nay và mai sau .

Một câu hỏi đặt ra là quan tâm và thương yêu mình trước khi quan tâm và thương yêu người khác như trình bày ở trên liệu có phải là thể hiện của lòng vị kỷ một cách vi tế chăng ? Để trả lời câu hỏi này, trước hết cần biết rằng quá trình vào sâu cõi lòng để khám phá quy luật chung nhất của mọi diễn trình tinh thần và vật chất (tâm và thân) là một quá trình đầy gian nan mạo hiểm và đơn độc nhằm khơi mở trí tuệ (tự mình là nơi nương tựa của chính mình, tự mình thắp đuốc mà đi) .Với lòng dũng cảm và quyết tâm cao người tu theo con đường của Bụt dám đơn độc dấn mình vào cõi lòng mênh mông, xa lạ để tìm ra bản chất vô thường, vô ngã của mọi hiện tượng trước hết là vì thương mình, quan tâm đến nỗi đau của mình . Nhờ đó mới phát hiện ra rằng chính bởi thói quen cố hữu ảo tưởng cho rằng cuộc đời là còn mãi (thường) và xoay quanh"cái tôi"(ngã) nên mới đau khổ. Vậy là nhờ biết thương mình, hiểu mình mà người tu Phật mới biết thương và quan tâm đến nỗi đau của người khác, bởi vì anh ta thấy rằng giống như chính mình người khác cũng phải chịu khổ đau chỉ vì không biết cách nhìn sâu thấy suốt để hiểu được tính vô thường, vô ngã trong mọi diễn trình cuộc sống . Đó mới là lòng từ bi đích thực-thương người như thể thương thân- khiến anh ta sẵn sàng san xẻ với người khác những điều anh ta đã trải nghiệm trong quá trình công phu tu tập để vượt thoát khổ đau .

Nếu nhìn bao quát cả quá trình trau giồi và phát triển tâm trí theo con đường của Bụt, ta có thể thấy hai việc-mở mang trí tuệ và vun bồi lòng từ bi-diễn ra đồng thời. Cái nọ là điều kiện cho cái kia phát triển . Thật khó có thể tách riêng đâu là lòng thương yêu, đâu là cái nhìn sáng suốt . Trong tình thương đúng đắn có sự sáng suốt, và trong sự sáng suốt đã hàm chứa tình thương đối với người khác (cũng như đối với sinh vật khác). Chúng hoà quyện vào nhau thật nhuần nhuyễn đến nỗi khó có thể bảo người tu là"vì ta"(vị kỷ) hay"vì người"(vị tha). Thật ra một khi trí đã tỉnh thức (giác ngộ) và tâm thôi bám dính (giải thoát) thì đâu còn ranh giới giữa "ta" và "người" nữa ?

Phỏng theo Đại Đức Shravasti Dhammika trong "Good Question Good Answer "


Source: Tạp chí nghiên cứu Phật học số 5/1999



bullets08.gif - 0.2 KTrang MỤC LỤC
bullets08.gif - 0.2 KTrang chính