TRIẾT LÝ NHẬP THẾ
NÉT ĐẶC SẮC CỦA THIỀN TÔNG VIỆT NAM THỜI KỲ LÝ- TRẦNNguyễn Thị HươngHiếm có trong lịch sử Việt Nam và nhân loại một thời đại mà các anh hùng dân tộc đồng thời là những Phật tử, là nhà tư tưởng … hoà đạo vào đời, tham gia chính sự, lấy cuộc sống hiện thực làm nơi hành đạo để cứu đời, cứu người và cứu mình – như thời đại Lý Trần . Tinh thần nhập thế tích cực – là nét đặc sắc của Thiền tông Việt Nam thời đại Lý Trần .Theo chúng tôi, triết lý nhập thế đó được biểu hiện ở hai khiá cạnh chủ yếu :
1. Tìm sự giải thoát ngay trong cuộc sống hiện thực, mà thái độ đối với "quốc gia xã tắc" là thước đo giá trị của mỗi Phật tử, bất kể họ ở cương vị nào .
2. Sống ung dung tự tại, yêu thương con người, yêu cuộc sống bình dị .
Chúng ta thử đặt vấn đề trong mối quan hệ với Thiền tông nói chung và Thiền tông Trung Hoa để lý giải nét đặc sắc đó .
Thiền – là Thiền na (phiên âm chữ phạm là Dyana, tiếng Nhật là Zen) để chỉ một phương pháp tu hành của đạo Phật . Thiền là chỉ sự lặng lẽ tuyệt đối mà dứt hết mọi niềm lo nghĩ . Nghĩa khái quát của Thiền là sự trầm tư về một chân lý triết, hoặc đạo đến chỗ triệt ngộ và in sâu trong nội thức . Tu thiền thường tìm đến chỗ thanh vắng để "trụ tâm ngồi tịnh". Kinh A Hàm có chép :"Đức Thế Tôn đến những khu rừng hoang vu, thâm u tĩnh mịch, không một tiếng động, nơi gió rì rào thổi qua cánh đồng cỏ ẩn kín, thuận tiện cho việc trầm tư quán tưởng"(1). Thiền Tông vốn thiên trọng tinh thần tự tin "phản quan tự kỷ bằng vào tri giác nội tại của mình, đừng nương tựa vào ai khác".
Trong quan niệm của Thiền Tông Việt Nam cũng như Thiền tông nói chung đều cho bản thể là "không"(1) Thiền phái Tỳ ni đa lưu chi đã chỉ rõ cái bản thể ấy "không thiếu không dư, không đi, không đến, không được không mất, chẳng một chẳng khác, chẳng thường chẳng đoạn, không sinh không diệt…" (trích theo lịch sử Phật giáo Việt Nam )(2) Tuệ Trung từ chỗ quan niệm bản thể là không có gốc, không có mầm mống, để khẳng định mọi việc đều xuất phát từ cái vô, cái bản thể ấy "thân từ "vô tướng" vốn là không" .
Tất cả những sự vật hiện tượng của thế giới mà ta nhìn thấy thì đều không phải là cố định mà biến đổi thường xuyên, vô thủy vô chung . Quan niệm đó được Thiền tông vận dụng để xem xét sự vật thay đổi kể cả thân xác con người :"Con người cũng chỉ là một sự vật nên chịu sự chi phối của vô thường, vô ngã – nên hết thảy đều không, không có Phật, không có pháp, không có cái gọi là sinh hay tử . Thiền sư Vạn Hạnh đã có bài kệ nổi tiếng :
Thân như bóng chớp có rồi không
Cây cối xuân tươi thu não nùng
Mặc cuội thịnh suy đừng sợ hãi
Kìa kìa ngọn cỏ giọt sương đông (3)
Quan niệm bản thể, Phật tính chân như và sự nhìn nhận đánh giá thế giới xung quanh đã làm cơ sở cho mục đích giải thoát con người khỏi thế giới trần gian, thế giới đầy đau khổ . Cơ sở đó là : Con người cũng như sự vật, hiện tượng… chỉ là một "sát na"(5) trong lẽ vô thường của nó . Nhưng điều đáng lưu ý : sự tồn tại của sự vật, con người trong một sát na đó là hiện hữu, là có thực . Sự khác nhau trong quan điểm nhân sinh của Thiền tông và Phật giáo nói chung cũng bắt đầu từ đây .
Phật giáo chủ trương mọi loài đều bình đẳng nhưng vẫn cho rằng có người đầy tội ác (xiển đề) thì không thành Phật . Trái lại, theo Thiền tông ai cũng có thể thành Phật, nếu làm điều thiện, dứt điều ác . Với chủ trương luân hồi, nghiệp báo – Phật giáo đã đẩy lùi sự cứu độ, giải thoát chúng sinh ở những tiền kiếp khác nhau, còn Thiền tông không chấp nhận chủ trương bi quan đó . Bằng quan niệm "đốn ngộ", Thiền tông đã xoá bỏ nghiệp báo, cắt đứt sợi dây luân hồi, để đưa đến cho con người một tinh thần lạc quan hơn : có thể lên ngay cõi Phật – tức là tìm được hạnh phúc ở trần thế .
Chân lý của Thiền là chân lý của sinh hoạt, mà sinh hoạt có nghĩa là sống động, là hoạt động, hành động, chứ không phải chỉ là suy luận . Nói một cách khác, Thiền sống trong hành động, vận dụng cái thực , sống cái thực – thay vì chứng minh hoặc biểu thị bằng ngôn ngữ từ khái niệm… tức là xem cái sống bao giờ cũng cao hơn cái lý (theo ngôn ngữ triết học hiện đại : thực tiễn cao hơn lý luận) . Nhà nghiên cứu Phật học DaisetzteiTaroSuzuki trong cuốn Thiền luận – Đại cương triết học Trung Quốc đã nhận định rất có lý rằng :"không nên nghĩ Thiền với một thái độ "kính nhi viễn viễn chi" như một nhà phê bình cố chấp, mà Thiền là "bình thường tâm" – tức những cảm nghĩ thông thường đáp ứng cuộc sống hàng ngày như cơm ăn áo mặc ngủ nghỉ :
"Cơm trà ăn uống tuỳ theo thế
Nước ngắm non xem thích bấy tình"(3)
Thiền chính là cuộc sống, nên "bình thường tâm" nên sự giác ngộ của mỗi người như "cánh cửa mở ra ngoài hay vào trong thì tuỳ ngạch cửa" nhưng hễ mở được là trong chớp mắt, có sự thay đổi hết . Sự thay đổi này có một sức chấn động kinh khủng bởi "về trí giải nó phải vượt qua tất cả thế kẹt thuộc phạm vi nhận thức cũng như ngôn ngữ văn tự – về tâm giải nó phải là sự tái thiết toàn thể phẩm cách người"(6). Chỉ có sự "tự chứng" của cá nhân mới thực hiện điều cốt tủy đó . Người "ngộ" được, thì cuộc sống đối với họ luôn thanh thản tươi vui và biểu hiện bao la trùm vũ trụ . Như vậy, ngộ là cái gì lành mạnh, vô cùng bổ ích, rất đáng cho ta nỗ lực đạt đến .
Thiền sư Viên Chiếu đã lý giải một cách giản dị rằng bản thể trong quan niệm thông thường tức là Phật, không phải là một cái gì cao xa, trái lại nó rất phổ biến hiển nhiên . Phật ở trong tất cả mọi người, ở trong mọi vật (cả trong con chim hoàng oanh, trong bông hoa cúc ). Chân lý đó cũng rõ ràng như cái quy luật ngày thì mặt trời chiếu, đêm thì trăng sáng soi… Nếu không hiểu được điều đó thì tự con người đã cản trở sự phát triển của trí tuệ và lòng yêu cuộc sống . Trần Thái Tông khi có ý định vào núi tu hành, quốc sư Trúc Lâm đã khuyên :"trong núi vốn không có Phật, Phật chỉ có trong lòng . Lòng lặng mà biết, ấy là chân Phật . Ví bằng bệ hạ giác ngộ lòng ấy thì lập tức thành Phật, không phải nhọc cầu ở ngoài"(7). Nói một cách khái quát hơn như quan điểm của Tuệ Trung :"tâm vạn pháp (thế giới sự vật) là tâm Phật, tâm Phật là tâm ta" thì mới thấy giữa bồ đề là phiền não không có sự khác nhau . Nói cách khác, giữa đau khổ và giải thoát giữa chân tính và vọng tâm, giữa sắc và không có sự thống nhất không tách rời như vị mặn trong nước biển . Sự giải thoát của con người không đâu ngoài cõi sinh tử ở trần gian . Ni sư Diệu Nhân (1041-1113) đã có bài kệ nổi tiếng:
" Sinh, lão, bệnh, tử
Lẽ thường tự nhiên
Muốn cầu siêu thoát
Càng trói buộc thêm
Mê, phải cầu Phật
Hoặc, phải cầu Thiền
Mím miệng ngồi im "(8)
Nếu đạt đến cái tâm "vô trụ" – "ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm"(kinh kim cương có nghĩa : đừng báo vào gì mà để lòng vào, xem mọi vật là không hết và đối với mọi vật là vô tâm), thì xem sự biến chuyển của cuộc sống và con người, lẽ tử sinh…là một cái gì thường nhiên không bận tâm . Con người như vậy sẽ sống ung dung tự tại, sống ghìm mình vào cuộc sống bình thường . Không những thế mà còn phải hành động và suy nghĩ theo cuộc sống, và làm tròn phận sự của mình đối với xã hội .
Thái độ của con người chính là Thiền, nhưng giữa Thiền tông Trung Hoa và Thiền tông Việt Nam có sự khác nhau thật thú vị .
Chủ trương chấp tác, cần lao đã trở thành danh ngôn của Thiền sư Bách Trượng (724-814) :"một ngày không làm một ngày không ăn" . Ở tất cả các thiền đường, cần lao là yếu tố huyết mạch trong sinh hoạt của giới thiền môn tăng chúng . Các việc làm thiết thực bằng chân tay : quét dọn, làm bếp, gánh nước, bổ củi, khất thực…không việc nào được coi là hạ phẩm giá (9). Nếu xét về mặt hình thức hay cả mặt tâm lý, đã có sự khác xa với Aán Độ . Vì các hàng khất sĩ Aán Độ phần lớn là ăn không ngồi rồi, đến lúc tĩnh tọa, mới lui về chốn hoang vu xa cảnh phồn hoa . Tinh thần thực tiễn của người Trung Hoa tuy có vẻ "thường tục nguội lạnh" nhưng cũng đã tránh cho Thiền tông khỏi những nguy cơ bại hoại, cũng như ảo giác của tâm thức . Ngoài ra nó còn là phương tiện hữu hiệu để giữ gìn sức khoẻ và trí lực cho Thiền tông
Như vậy, có rất nhiều con đường để đạt đến sự giác ngộ . Chúng ta hãy nghe nhận xét của Đại Huệ Thiền sư (1088-1163 –đời thứ 12 phái Lâm Tế) được viết trong tác phẩm Phật Pháp với Thiền tông : Có người từng lấy ngữ ngôn để giải nên không được triệt ngộ, có người lấy "hằng ngày việc không khác, chỉ ta tự biết hay" mà sinh cuồng giải, có người lấy "thần thông và diệu dụng là gánh nước và bổ củi" mà sinh cuồng giải, thậm chí có người lấy "vào cửa liền đánh", mà sinh cuồng giải…tất cả những người như vậy chẳng khác gì thuốc độc . Thậm chí vì họ mà chính pháp suy đồi, tà ma hưng thịnh (10)
Tại sao lại vậy ? Nói một cách đơn giản – Thiền chính là cuộc sống – nhưng những hành động trên mới chỉ là vụn vặt, hình thức, chứ chưa phải là thái độ sống đối mặt với cuộc sống mang trong mình nó những niềm vui và khổ đau, những số phận… mà sự giải thoát cho người chính là sự giải thoát cho mình . Có ý kiến nói rằng Thiền tông Trung Hoa chỉ khi đến Huệ Năng (637-713) – mới thực sự tước bỏ lớp áo mượn ở Aán và bắt đầu khoác cho mình một lớp áo mới, được cắt may theo kích thước Trung Hoa . Nhưng chúng ta chỉ mới thấy sự diệu dụng và thần thông của thiền được thử thách chủ yếu trong đời sống sinh hoạt hàng ngày mà thôi .
Thiền tông Việt Nam đã đối mặt với một hiện thực mà số phận con người gắn bó với số phận dân tộc trong mười mấy thế kỷ . Vua Lý Nhân Tông từng khuyên Thiền sư Mãn Giác : Bậc chí nhân hiện thân giữa cõi đời, phải tế độ chúng sinh, làm việc gì cũng phải đầy đủ, không việc gì không làm, chẳng những đắc lực về thiền định, trí tuệ mà cũng có công giúp đỡ nhà nước . Chính thực tế phong phú, hào hùng của cả một dân tộc đang vững bước đi lên trong thời kỳ Đại Việt đã có khả năng chuyển hoá những yếu tố vô vi xuất thế của Phật giáo thành cái đối lập với nó .
Nếu đời Lý (1010-1225), các thiền sư góp phần truyền bá ý thức độc lập tự chủ, ủng hộ người có lòng khoan từ nhân ái lên làm vua, là cố vấn xuất sắc trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội…trong buổi đầu lập nước – thì đến đời Trần (1225-1400) triết lý nhập thế có bước phát triển về mặt lý luận . Những đại biểu cự phách như : Trần Thái Tông (1218-1277) viết sách khóa Hư Lục, Thiền Tông chỉ nam; Tuệ Trung Thượng sĩ (1230-1291) người trực tiếp truyền yếu chỉ Thiền cho vua Trần Nhân Tông; Trần Nhân Tông (1258- 1308) là giáo chủ của Thiền phái Trúc Lâm . Các vị cao tăng"trước thư lập ngôn" này – trước hết là những người anh hùng dân tộc, đã trực tiếp lãnh đạo nhân dân, cầm quân đánh thắng giặc Nguyên Mông, đều viết sách để lại cho đời, nhưng lại cho rằng "sao bằng lấy thân mình ở trước thiên hạ", và chỉ đi tu sau khi làm tròn bổn phận với dân với nước . Tuy hết lòng sùng kính đạo Phật, nhưng khi làm vua, làm tướng thì suy nghĩ và hành động đều phục vụ cho sự nghiệp giữ nước vĩ đại của dân tộc .
Cũng hoà đạo vào đời, coi đời là nơi hành đạo tốt nhất, nhưng tư tưởng và hành động nhập thế của các Thiền sư Việt Nam – đặc biệt là của hai vua Trần – không giống với Phật Thích Ca khi tìm con đường giải thoát cho chúng sinh – lại càng khác xa so với "tinh thần thực tiễn nguội lạnh" của Thiền tông Trung Hoa nhập thế để góp phần giải quyết vấn đề dân tộc – đó là đặc điểm cơ bản, là nét đặc sắc của Thiền tông Việt Nam thời Lý –Trần .Triết lý nhập thế đó là sự phản ánh khát vọng đấu tranh cho con người khỏi mọi khổ đau, để con người tìm hạnh phúc trong cuộc sống hiện thực .
Source: Tạp chí nghiên cứu Phật học số 5/1999Ä
___________
Chú thích
(1) Theo học giả Đào Duy Anh khi phiên dịch, chú giải tác phẩm Khoá Hư lục thì các nghĩaKhông của nhà Phật không phải là không tuyệt đối mà được hiểu là :mọi sự vật trong thế giới hiện tượng đều do nhân duyên hợp hội mà thành, khi nhân duyên không hợp hội thì sự vật ấy không có nữa, vì như có cái nhà là do thổ mộc hợp với nhau, khi thổ mộc tan thì không có cái nhà nữa – chữ vô của Lão trang cũng có nghĩa tương tự .
(2) Lịch sử Phật giáo Việt Nam – UBKHX Việt Nam- Viện triết học –NXBKHXH- Hà Nội 1991 tr.99
(3) Thơ văn Lý –Trần tập 1 – NXBKHXH Hà Nội 1997-tr.218
(4) DAISETZ TEITAROSUZUKI – Thiền luận (Đại cương triết học Trung Quốc)- NXB THHCM – 1992 –Quyển thượng tr.122-401
(5)"Sát na" một khái niệm của Phật giáo chỉ một sự vật đang còn là nó – tức là đang ở sát na này, nhưng khi sang một sát na khác thì không còn là nó nữa – sự vật luôn thay đổi từ sát na này sang sát na khác đó gọi là"vô thường" khi ở sát na khác thì không còn là cái cũ nữa nên gọi là "vô ngã"
(6) DAISETZ TEITAROSUZUKI – sđd – tr.425
Theo ý nghĩa đó, thì giác ngộ trong quan điểm của Thiền tông quyết không phải là chỗ đến của một quá trình tri thức của những ý nghĩ sắp xếp một cách hợp lý, để đưa đến một kết luận hay một quyết đoán.
(7) Trần Thái Tông – Khoá Hư lục –sđd, tr.113
(8) Thơ văn Lý Trần tập 1 – Sđd , tr.340
(9) DAISETZ…SUZUKI… Sđd tr.521
(10) Đại Huệ thiền sư – Phật pháp với Thiền tông – bản dịch của Thích Duy Lực – Thành hội Phật giáo – Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành PL 2538 – 1994 , tr.303
Trang MỤC LỤC
Trang chính