TINH THẦN THIỀN TRONG TÂM KINH BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA
(Từ vọng tâm duyên khởi vào chân tâm duyên khởi)Tuệ Vũ – Trịnh Văn Hiến"Quán tự tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã ba la mật đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách"Đại ý của đoạn kinh văn này là tiêu biểu cho ba pháp quán, tam quán : Tam ma đề (Samatha), Tam ma bát đề (Vipassana) và Thuyền na (Dhyana)
Chiếu kiến là phép tu quán : Vipassana để giác ngộ : Y báo, chính báo của tất cả mọi loài chúng sinh đều là như huyễn, như hoá, không có tự tính . Do nhân duyên sinh mà hoà hợp đối đãi, liên tục biến chuyển : do "vọng thức" của mỗi loài biểu hiện mà có sự sai khác ở mức độ tương đối . Cho nên, như là có mà không phải là thật có . Đó chính là sự hoà hợp của Ngũ Uẩn, Ngũ Uẩn hoà hợp về mặt không gian mà nói là có một cái Giả Ngã (Pudgaln), nhưng sự thực là Vô Ngã (insubstanciel), Ngũ Uẩn liên tục sinh diệt, biến dị trong từng Sát na suốt Quá, Hiện, Vị lai; về dáng vẻ bên ngoài như là thường, nhưng thực ra là Vô Thường . Ở đây, đó là sự giả hợp về mặt thời gian của Ngũ Uẩn . Ngũ Uẩn đối đãi với nhau do duyên mà có hình như là sự thực, nhưng vốn không thực nên Vô tự tính . Ngũ Uẩn theo từng loài chúng sinh có ý thức thứ sáu (Manovi jnãna), biệt nghiệp khác nhau riêng từng loài mà có nhận thức khác nhau trong lục đạo . Thế nên, do Duy Thức biến hiện mà Ngũ Uẩn giả có chứ không phải là thật có . Vậy Vipassana là pháp tu năng quán, để người tu giác ngộ tất cả sự vật là từ thâm tâm bên trong cho đến thế giới vũ trụ bên ngoài đều có "Bốn tính chất giả dối là : Hoà Hợp Giả (tức Vô Ngã), Liên Tục Giả (tức Vô Thường), Đối Đãi Giả (tức Nhị Nguyên phân biệt) và cuối cùng là Duy Thức Biến Hiện Giả (do Vọng Thức biến hiện của sáu loài chúng sinh, dòng sinh thức cứ biến hiện mãi không dứt mà có nhận thức sai khác nhau và mọi sự vật miên tục, bất đoạn). Các nhận thức này đều là giả và là "Tương đối". Nó là Độc Aûnh Cảnh và Phi Lượng . Khi hiểu Chân Lý Duyên Khởi của Đạo Phật, tức là thấy rõ Vạn Pháp theo công thức của Định Lý Duyên Khởi : A có , B có; A không, B không; A sinh, B sinh; A diệt, B diệt . Người tu quán đã bắt đầu giác ngộ, thấy được một phần "tính chân như" quay trở lại với "Đới Chất Cảnh" và "Tỷ Lượng", Giai Không : Ngũ Uẩn Giai Không là quy nạp tất cả tính như huyễn như hoá duyên khởi để thấy rõ sự Vô Tự Tính, không có "Thần Ngã Tính" của tất cả các sự vật . Trong Kinh Kim Cương Đại Thừa Kinh Luận, Đức Phật Thích Ca đã giải thích rõ tính " Giai Không" với Đức Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát là có bốn tính không : Ngã Không, Tâm Không, Thân Không, Pháp Không . Trong Tiểu Chỉ Quán (Đồng mông Chỉ Quán) : Giai Không là Samatha, cũng nghĩa là Thể Chân Chỉ, cũng nghĩa là Tịch Diệt Quán và cũng nghĩa là Chân Không .
Người tu phép quán này cũng có thể biết rõ tất cả các pháp đều do Tâm Sinh, nhân duyên hư giả, không thật nên bản tính Rỗng không . Biết được bản tính rỗng không của các pháp thì không có tướng Danh tự các pháp, thế là được "Thể Chân Chỉ" . Lúc bấy giờ, trên không thấy quả Phật có thể cầu, dưới không thấy Chúng sinh có thể độ – đó là Tùng Giả Nhập Không Quán, cũng gọi là Nhị Đệ Quán, cũng gọi là Tuệ Nhãn, cũng gọi là Nhất Thiiết Trí . Nếu ở yên nơi quán này thì sa vào hàng Thanh Văn, Duyên Giác ; Tâm không muốn giáo hoá chúng sanh, làm cho cõi Phật thanh tịnh . Vì thế, những người này chỉ thấy tất cả các pháp là rỗng không, vắng lặng đều : Vô Sinh, Vô Diệt, Vô Lậu, Vô Vi, thì rốt cuộc không phát được Bồ Đề Tâm; đó là vì Định nhiều, Tuệ ít, nên không thấy rõ được Phật tính .
Đệ Nhật Thế Khổ Aùch : Đây là công việc của vị Bồ Tát, vì tất cả chúng sinh mà thành tựu tất cả Phật Pháp . Cho nên, không chấp trước Vô Vi , an trụ trong Tịch Diệt mà năng tu hành pháp Tùng Không Nhập Giả Quán . Tu phép quán này là Quán tưởng tu : Tâm tính là Rỗng Không – nhưng trong Duyên Khởi đối đãi cũng sinh ra tất cả các pháp như huyễn, như hoá, tuy cũng có những điều Thấy, Nghe, Hay, Biết sai khác không đồng . Người tu hành khi tu pháp quán này thì có thể ở trong Không Tịch, tu đủ các hạnh, phân biệt được căn cơ Chúng sinh mà thuyết pháp vô lượng . Đến khi thành tựu được "Vô Ngại Biện Tài" , có khả năng làm lợi ích cho Lục đạo Chúng sinh thì được "Phương Tiện Tuỳ Duyên Chỉ".
Tùng Không Nhập Giả Quán cũng gọi là bình Đẳng Quán, cũng gọi là Pháp Nhãn, cũng gọi là Đạo Chủng Trí. Bồ Tát, ở trong quán này, sức Trí Tuệ thêm nhiều, nhưng tuy thấy được Phật Tính mà chưa thực được rõ ràng . Vì hai pháp : Tùng Giả Nhập Không Quán và Tùng Không Nhập Giả Quán vẫn còn là Pháp Quán Phương tiện . Nhưng vì thành tựu được hai pháp quán này mà có thể vào được "Trung – Đạo – Đệ – Nhất – Nghĩa – Quán".
Cân bằng giữa Tam Ma Đề (samatha) và Tam Ma Bát Đề (Vipassana) và Thuyền Na (Dyana) tức là :
Nếu Bồ Tát muốn đầy đủ Phật Pháp "trong Một Niệm" thì cần tu, tức Nhị Biên Phân Biệt Chỉ, thực hành Trung Đạo Chính Quán . Tu phép quán này thì có thể biết : Tâm tính không phải là Chân Không, không phải là Giả, mà không phá hoại các pháp Không, Giả . Nhận rõ như thế thì thông suốt được Trung Đạo và cũng thấy rõ được hai Đế Trung Đạo, bởi do không có tính gì mà quyết định vậy, đó gọi là Trung Đạo Chính Quán .
Trung Luận kệ có câu :" Các Pháp Nhân Duyên Sinh, Tôi Bảo Là Rỗng Không; Cũng Gọi Là Giả Danh, Cũng Là Nghĩa Trung Đạo"
Đi sâu vào ý nghĩa câu kệ đó thì chẳng những nhận rõ đầy đủ cái tướng của Trung Đạo Chính Quán mà cũng rõ thêm được ý nghĩa của hai pháp quán Phương Tiện . Nên biết : Trung Đạo Chính Quán, tức là Phật Nhãn, Phật Nhãn tức là Nhất Thiết Chủng Trí . Nếu an trụ nơi pháp quán này thì Định, Tuệ cân bằng, tỏ rõ thấy được Phật Tính an trụ nơi Đại thừa, đường tu bằng phẳng, lần lần vào biển Chính Giác của Như Lai, được Lục căn thanh tịnh, và cảnh giới của Phật . Đối với tất cả các pháp không còn phiền trược tất cả các Pháp Chư Phật đều được hiện tiền; an trụ nơi Định Thủ Lăng Nghiêm, thành tựu Vô lượng Tam Muội, và khắp các cõi Phật mười phương, giáo hoá Chúng sinh, góp phần làm cho tất cả cõi Phật trang nghiêm, thanh tịnh, cúng giàng thập phương Chư Phật, Thụ trì tất cả các pháp, đầy đủ các hạnh, các Ba la mật, làm vị Đại Bồ Tát, trong thân Pháp Tính Thường Trụ, đi đến thị hiện các tướng thành Phật .
Trung Đạo Chính Quán được Long Thọ giải thích tỷ mỉ trong bộ Trung Quán Luận bằng tám cái Không hay Bát Bất : Bất Sinh, Bất Diệt, Bất Thường, Bất Đoạn, Bất Nhất, Bất Nhị, Bất Lai, Bất Khứ, và thể hiện cụ thể ở pháp : Pháp Giới Tính Trùng Trùng Duyên Khởi" của Hoa Nghiêm Tông . Đó là :
- Mọi sự vật và Nhân Duyên Sinh, không phải là tự sinh như nhận thức sai lầm nói là có tính "Hỗn Độn" , bất phân, mờ mịt, Tạo Hoá, Thượng Đế của Ngoại Đạo . Vì lý do là, trước khi sinh ra chính mình không có, làm sao lại có thể "tự sinh" được?
- Thứ hai là Tha Sinh tức là do cái khác sinh ra, vì đối đãi với mình mới có cái khác; nay mình đã không thật có thì cái khác làm sao mà có được . Đạo lý này bác bỏ ngoại đạo nói Thượng Đế đứng ngoài Vũ Trụ sinh ra mọi thứ trong Vũ Trụ .
- Cộng sinh là Tha Sinh cùng với tự sinh ra mà có . Đạo lý này bác bỏ thuyết của Ngoại đạo nói : "Tiểu Ngã (Atman) và Đại Ngã (Ishvara) là hai cái khác nhau hòa hợp với nhau mà có ra Vũ trụ .
- Thứ tư là Vô Nhân Sinh : mọi sự vật phải có nguyên nhân sinh ra chứ không phải tự nhiên hoặc ngẫu nhiên mà có .
Từ luận thuyết này, Đức Phật Thích Ca thuyết minh về bốn nguyên nhân : Câu Hữu Nhân, Đẳng Lưu Nhân, Dị Thục Nhân và Tăng Thượng Nhân; cộng với bốn duyên : Nhân Duyên, Sở Duyên Duyên, Đẳng Vô Gián Duyên, và Tăng Thượng Duyên . Bốn nhân và bốn duyên này là phép biện chứng cơ bản của đạo Phật . Gốc cơ bản củaTrung Đạo Chính Quán là như vậy .
Tương ứng với Trung Đạo Chính Quán, Duy Thức Tông chứng minh Hiện Lượng và Tính Cảnh .
Ba Phép tu Quán của Duy Thức nói lên hai mặt của một vấn đề :
1. Quán sinh Vô Tính, tương ứng với Sammatha của Thiền Tông .
2. Quán Tướng Vô Tính, tương ứng với Vipassana của Thiền Tông .
3. Quán Thắng Nghĩa Vô Tính, tương ứng với Dhyana của Thiền Tông tức Trung Đạo Chính Quán của Thiền Tông .
- Biến Kế Sở Chấp Tính, tương ứng với Sinh Vô Tính
- Y Tha Khởi Tính, tương ứng với Tướng Vô Tính
- Viên Thành Thật Tính tương ứng với Thắng Nghĩa Vô Tính
- Đoạn Sắc Bất Dị Không và Sắc Tức Thị Không là phép Samatha hay Sinh Vô Tính; tương ứng với phép Thiền Chỉ tức là Thể Chân Chỉ
- Đoạn Không Bất Dị Sắc và Không Tức Thị Sắc là nói cụ thể phép Vipassana, phép Y Tha Khởi và phép Phương Tiện Tuỳ Duyên Chỉ
- Đoạn Thị Chư Pháp Không Tướng, Bất Sinh Bất Diệt, Bất Cấu Bất Tịnh, Bất Tăng Bất Giảm là nói về Bản Chất Chân Như tuỳ theo Duyên mà vẫn không biến đổi (tuỳ Duyên bất biến của tính Chân Như)
- Bất Sinh Bất Diệt là cấp độ đầu tiên của các vị trong hành Nhị Thừa đã thoát ly Dục Giới, Sắc Giới và Vô Sắc Giới, được Vô Dư Y Niết Bàn của A La Hán và Bích Chi Phật Phá được Ngã Chấp Câu Sinh và Ngã Chấp Phân Biệt, chứng được Sinh Không Chân Như . Nhưng hàng Nhị Thừa còn Pháp Chấp Phân Biệt và Pháp Chấp Câu Sinh . Do vậy, Đức Phật nói họ có bốn cái sai lầm :
- Đại Bát niết Bàn là Chân Lạc, hàng Nhị Thừa nhầm là Vô Lạc
- Đại Bát Niết Bàn là Chân Thường, hàng Nhị Thừa nhầm là Vô Thường
- Đại Bát Niết Bàn là Chân Tịnh, hàng Nhị Thừa nhầm là không phải Tịnh
- Đại Bát Niết Bàn là Chân Ngã, hàng Nhị Thừa nhầm là Vô Ngã
(Còn nữa )Source: Tạp chí nghiên cứu Phật học số 1/2000
Trang MỤC LỤC
Trang chính